THỰC TRẠNG vấn đề tỷ GIÁ và tác ĐỘNG của tỷ GIÁ tới TĂNG TRƯỞNG KINH tế ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 34

TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

LỜI MỞ ĐẦU

Chính sách tỷ giá luôn luôn là một chính sách vĩ mô rất quan trọng bởi phạm vi tác
động lớn, nhưng tác động khó lường trước và thường phải đánh đổi giữa nhiều mục tiêu
vĩ mô. Trên thực tế thường có quá nhiều mục tiêu được đặt ra cho chính sách tỷ giá, trong
khi đó các công cụ thực thi chính sách và dư địa thực hiện chính sách lại khá hạn hẹp.
Việc giảm giá đồng nội địa có thể thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện cán cân thanh toán,
nhưng điều đó chỉ có thể xảy ra trong những điều kiện nhất định. Một số nghiên cứu đã
chỉ ra rằng giữa mục tiêu ổn định tỷ giá thực dựa trên tiêu dùng và mục tiêu điều chỉnh
điều kiện thương mại đôi khi mâu thuẫn do tác động của tỷ giá đến các mức giá cả của
hàng tiêu dùng và hàng hóa là đầu vào cho sản xuất là khác nhau.
Điều đó cũng cho thấy tác động của tỷ giá đến lạm phát là không hề đơn giản vì
trong một nền kinh tế mở, tỷ giá thực ảnh hưởng đến giá cả tương đối giữa các hàng hóa
sản xuất trong nước và mặt hàng nhập khẩu. Tỷ giá có thể tác động trực tiếp đến lạm phát
do việc thay đổi giá cả tính bằng đồng bản địa của các mặt hàng nhập khẩu và qua đó ảnh
hưởng đến chỉ số giá cả. Do đó, lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái phù hợp để ổn định
kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng dài hạn được coi là một ưu tiên trong quản lý kinh tế
hiện nay. Việc đánh giá diễn biến và nguyên nhân biến động của tỷ giá, đồng thời phân
tích mối liên hệ giữa chính sách tỷ giá và tăng trưởng xuất khẩu là một chủ đề mà các đại
biểu Quốc hội và các nhà hoạch định chính sách hiện rất quan tâm.

Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

-1-

Lớp : QT6C



- Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá của một loại tiền tệ được biểu hiện theo
giá hiện tại, không tính đến bất kỳ ảnh hưởng nào của lạm phát.
- Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá có tính đến tác động của lạm phát và sức mua
trong một cặp tiền tệ phản ảnh giá cả hàng hóa tương quan có thể bán ra nước ngoài và
hàng tiêu thụ trong nước. Tỷ giá này đại diện cho khả năng cạnh tranh quốc tế của nước
đó.
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

-2-

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

2. 4 Căn cứ vào phương thức chuyển ngoại hối, có thể chia làm tỷ giá điện hối và tỷ
giá thư hối.
- Tỷ giá điện hối là tỷ giá thường được niêm yết tại ngân hàng. Đó là tỷ giá
chuyển ngoại hối bằng điện. Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở để xác định các loại tỷ giá
khác.
- Tỷ giá thư hối, tức là tỷ giá chuyển ngoại hối bằng thư. Tỷ giá điện hối thường
cao hơn tỷ giá thư hối.
2. 5

Căn cứ vào thời điểm mua/bán ngoại hối
-

Tỷ giá mua là tỷ giá của ngân hàng mua ngoại hối vào.


Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

Nếu cán cân thanh toán thặng dư ( thu>chi), dự trữ ngoại hối có thể tăng, cung
ngoại tệ trên thị trường tăng, giá ngoại tệ có khuynh hướng giảm
3.2

Lạm phát

Lạm phát là sự suy giảm sức mua của nội tệ và được đo lường bằng chỉ số giá cả
chung ngày càng tăng lên. Để chứng minh mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát, Gustav
Cassel (1772-1823) đã đưa ra lý thuyết ngang giá sức mua- Purchasing Power Parity
Theo lý thuyết này, giả thiết trong một nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo và cước
phí vận chuyển, thuế hải quan được giả định bằng không. Do đó, nếu các hàng hóa đều
đồng nhất thì người tiêu dùng sẽ mua hàng ở nước nào mà giá thật sự thấp.
3.3

Lãi suất

Phần lớn các nhà đầu tư với quy mô lớn trên thị trường như các tập đoàn, các công
ty đa quốc gia có thể chuyển đổi đầu tư một cách dễ dàng giữa các đồng tiền khác nhau
khi tỷ giá và lãi suất các đồng tiền này có chuyển hướng thay đổi. Vấn đề quan trọng
được đặt ra là cần phải so sánh đối chiếu thu nhập đầu tư từ các đồng tiền khác nhau để có
thể chắc chắn rằng họ có thể thu được kết quả đầu tư tốt nhất. Thông thường, các nhà đầu
tư có xu hướng đầu tư vào đồng tiền có lãi suất cao, được thực hiện một cách khá phổ
biến là đi vay đồng tiền có lãi suất thấp chuyển đồi sang đồng tiền có lãi suất cao, sau đó
đầu tư đồng tiền có lãi suất cao bằng nhiều hình thức nhằm hưởng lợi nhuận chênh lệch
suất của hai đồng tiền. Điều này sẽ tạo nên sự thay đổi cung cầu ngoại tệ trên thị trường,

Chỉ số bán lẻ

-

Kết quả các hội nghj G7,EU, Asian…

-

Sản lượng công nghiệp, GDP, GNP…

Ngoài ra, khi thực hiện cơ chế tỷ giá thả nổi thì tỷ giá rất nhạy cảm với các sự kiện
kinh teea, chính trị, xã hội, chiến tranh kể cả các yếu tố tâm lí…
Tóm lại, những biến động của các nhân tố nêu trên có thể tạo ra những tác động
riêng lẻ hoặc đồng thời tác động lên cung hoặc cầu ngoại tệ, từ đó, tác động đến tỷ giá.
Việc hiểu và phần tích tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ giá rất quan trọng vì nó
giúp chúng ta dự báo và hình thành kỳ vọng hợp lý về tỷ giá để từ đó làm cơ sở ra quyết
định liên quan đến giao dịch ngoại tệ.
4. Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái
Dưới tác động của tỷ giá xuất hiện những biểu hiện bất lợi cho quá trình phát triển
kinh tế. Chủ động can thiệp của Nhà nước nhằm bình ổn tỷ giá trên thị trường là điều kiện
quan trọng để thực hiện mục tiêu chiến lược kinh tế. Bao gồm các biện pháp chủ yếu sau
đây:
4.1 Chính sách lãi suất tái chiết khấu
Khi tỷ giá biến động, NHTW với vai trò quản lý vĩ mô điều chỉnh lãi suất tái chiết
khấu, sẽ làm thay đổi lãi suất tín dụng trên thị trường. Điều này có tác dụng kích thích đối
với việc di chuyển các luồng vốn ngoại tệ ngắn hạn từ nước này sang nước khác, từ đó
dẫn đến sự thay đổi cung và cầu ngoại hối làm cho tỷ giá được bình ổn. Cụ thể:
Khi tỷ giá hối đoái tăng lên, NHTW nâng lãi suất tái chiết khấu dẫn tới lãi suất
tiền gửi sẽ tăng lên. Thu hút vốn ngắn hạn chạy vào trong nước, làm tăng khả năng cung
ngoại tệ và giảm bớt sự căng thẳng của tình hình cung đang nhỏ hơn cầu trên thị trường

tiền tệ sẽ làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên, qua đó khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế
nhập khẩu bên cạnh đó đòi hỏi Nhà nước phải tìm mọi biện pháp để phát triển kinh tế,
kiểm soát lạm phát.
4.4 Nâng giá tiền tệ
Nhà nước chính thức nâng giá tiền tệ trong nước, nên giá ngoại tệ có xu hướng
giảm xuống, nâng giá tiền tệ xuất phát từ áp lực của một số quốc gia khác trong cạnh
tranh thương mại quốc tế nhằm, hoặc do yêu cầu thực hiện chính sách tiền tệ.
Với nhiều biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái, tùy theo tình hình cụ thể mà mỗi
quốc gia cần cân nhắc lựa chọn biện pháp hợp lý cho mình, bên cạnh đó Nhà nước cần
kết hợp với các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng,
thuế quan…
5. Chính sách tỷ giá
Khái niệm: Chính sách tỷ giá là những hoạt động của chính phủ( mà đại diện
thường là NHTW) thông qua một chế độ tỷ giá nhất định( hay cơ chế điều hành tỷ giá) và

Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

-6-

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

hệ thống các công cụ can thiệp nhằm duy trì một mức tỷ giá cố định hay tác động để tỷ
giá biến động đến một mức cần thiết phù hợp với mục tiêu chính sách tiền tệ quốc gia.
Vì là một bộ phận của chính sách tiền tệ nên mục tiêu của chính sách tỷ giá theo
nghĩa rộng cũng phải phù hợp với mục tiêu của chính sách tiền tệ.
- Về mục tiêu ổn định giá cả: Với các yếu tố khác không đổi, khi tỷ giá tăng làm


Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

-7-

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

-

Năm 1994: tỷ giá chính thức giữa ngoại tệ với VND theo tỷ giá mua bán trên thị
trường chỉ giao động trong biên độ cho phép là +/- 0.5% so với tỷ giá chính thức.

-

1995-1999: tỷ giá được hình thành trên cơ sở tỷ giá liên ngân hàng.

-

Năm 1996 thì biên độ giao động được nâng lên +/- 1%.

-

1997-1998: Ngân hàng nhà nướcmở rộng biên độ giao dịch từ 1% lên 5%

-


Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

-8-

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

trường ngoại hối, Ngân hàng nhà nướcđã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng từ
18.932 lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ +/- 3% xuống +/- 1%.
Việc điều chỉnh tỷ giá trong năm 2011 có nhiều tác động tích cực đến nền kinh tế,
cụ thể nó có thể đưa tỷ giá chính thức sát với tỷ giá thị trường, tổ chức kinh tế và cá nhân
sẽ bán ngoại tệ cho ngân hàng nhiều hơn, giao dịch ngoại tệ sẽ dễ dàng hơn, tính minh
bạch của thị trường cao hơn, sẽ không còn cảnh tổ chức kinh tế và ngân hàng mua bán
chui ngoại tệ, gây ra nhiều hệ quả xấu cho cả các ngân hàng và khách hàng. Mặc dù động
thái của Ngân hàng Nhà nước được nhiều chuyên gia đánh giá cao. Tuy nhiên, việc duy
trì và giữ tỷ giá chính thức sát với tỷ giá thị trường là vấn đề rất khó cho cơ quan quản lý,
khi mà tỷ giá biến động do nhiều nguyên nhân như lạm phát cao, thâm hụt cán cân
thương mại lớn, lãi suất thay đổi liên tục và đặc biệt là việc các tổ chức kinh tế, cá nhân
đầu cơ găm giữ ngoại tệ, làm cho cân đối cung cầu ngoại tệ bị mất cân đối nghiêm trọng,
gây áp lực lớn lên tỷ giá.
2. Tác động của tỉ giá đến nền kinh tế
2.1. Tỷ giá với lạm phát:
Trên lý thuyết, khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối
đoái không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nước ngoài. Theo
quy luật cung cầu, người dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn vì
giá rẻ hơn; điều tất yếu xảy ra là nhập khẩu sẽ tăng, kéo theo cầu ngoại tệ tăng, làm cho tỷ
giá hối đoái cũng tăng. Tương tự vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập

hạn như trong năm 2010, chỉ số giá hàng hóa cơ bản ở các nước đang phát triển là 31%
trong khi trên toàn thế giới chỉ là 19%.
Thứ ba, trong năm 2010, với tốc độ tăng cung tiền và tín dụng đều ở mức trên 25%
và tỷ lệ đầu tư trên 40% trong khi tốc độ tăng trưởng GDP thực chỉ là 6,8% thì lạm phát
tiền tệ sau một độ trễ nhất định sẽ được thể hiện trong chỉ số giá. Điều chỉnh tỷ giá và
tăng giá điện đều là những việc không thể không làm để giảm sự méo mó trong giá thị
trường, vốn là một điều kiện cần để nền kinh tế có thể giảm chi phí giao dịch và phân bổ
nguồn lực một cách hiệu quả. Tuy nhiên, nếu không thay đổi phương thức điều hành
mang tính đối phó và thiếu phối hợp như hiện nay thì doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ
tiếp tục phải “chịu trận” trước một loạt các cú sốc lớn và dồn dập. Rõ ràng là để đạt mục
tiêu ổn định vĩ mô thì cách tư duy và điều hành vĩ mô của Chính phủ phải được thay đổi
một cách cơ bản.
PGS-TS Trần Hoàng Ngân, cho rằng tỷ giá tăng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến CPI,
tác động đến lạm phát bởi các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu được tính theo tỷ giá mới,
thậm chí xuất hiện những loại hàng hóa “ăn theo” đà tăng của tỷ giá. Áp lực lên lạm phát
là một trong những lo ngại, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam lên đến trên
150% so với GDP với nhiều mặt hàng nguyên liệu thiết yếu phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Tuy nhiên, thực tế trong thời gian qua các nhà nhập khẩu của Việt Nam đều phải mua
USD với tỷ giá thị trường chợ đen. Vì vậy, việc điều chỉnh lần này trên sẽ không ảnh
hưởng đáng kể tới chi phí thực sự của những nhà nhập khẩu. Giá hàng hóa có thể tăng lên
nhưng áp lực sẽ không quá lớn.
2.2. Tỷ giá với cán cân thương mại:
Cán cân thương mại của một nước là chênh lệch giữa kim ngạch xuất khẩu và kim
ngạch nhập khẩu. Một nền kinh tế khi xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ sẽ thu được ngoại
tệ. Để tiếp tục công việc kinh doanh, các nhà xuất khẩu phải bán ngoại tệ lấy nội tệ, mua
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 10 -


thương mại được cải thiện.
Việc tăng tỷ giá với tỉ lệ khá cao vào tháng 2/2011 có thể là một biện pháp đau
đớn, song cần thiết và bất khả kháng trong tình hình hiện nay nhằm làm cho nhập khẩu
trở nên đắt đỏ hơn, xuất khẩu có thể thuận lợi hơn và qua đó, có thể giảm nhập siêu ở
mức độ nhất định. Xuất khẩu có thể có lợi nếu tỉ lệ giá trị gia tăng của sản phẩm cao (như
gạo, hải sản) trong khi tác động thúc đẩy hạn chế hơn đối với các sản phẩm lắp ráp điện
tử vì tỉ lệ hàng nhập lên đến 90% giá thành. Tuy nhiên, những hệ lụy đối với mục tiêu ổn
định kinh tế vĩ mô thì cần phải bàn thêm.
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 11 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

Trước hết, với mức nhập khẩu lên đến 84 tỉ USD trên GDP 102 tỉ USD năm 2010
(chiếm 82%GDP), trong đó chỉ 10% là hàng tiêu dùng, 20% là trang thiết bị, máy móc,
còn lại khoảng 70% là đầu vào cho hoạt động kinh tế như xăng dầu, sắt thép, bông sợi...,
nền kinh tế nước ta quá phụ thuộc vào nhập khẩu và việc điều chỉnh tỉ giá mạnh như lần
này sẽ dẫn đến tăng giá đáng kể các mặt hàng nhập khẩu thiết yếu kể trên và qua đó tác
động tới giá thành sản phẩm và giá mua của người tiêu dùng. Những mặt hàng không
thuộc loại thiết yếu như mỹ phẩm, ô tô sang trọng có thể giảm nhập khẩu ở mức độ nhất
định, song tỉ lệ các mặt hàng này không quá lớn, trong khi các nguyên vật liệu cơ bản của
nền kinh tế vẫn phải tiếp tục nhập với mức giá nhập khẩu cao hơn. Người tiêu dùng sẽ
phải gánh chịu mức tăng giá, ước tính khoảng 3% từ sự điều chỉnh tỷ giá này. Giá một số
mặt hàng đã tăng lập tức, như gas, ô tô và khó tránh khỏi việc tăng giá các mặt hàng khác
trong thời gian tới do giá đầu vào nhập khẩu tăng lên khoảng 10%. Cho nên, tác động của

TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

Nam rẻ hơn để thúc đẩy xuất khẩu. Nhưng theo ông, đó là những bài học này có tính chất
giáo điều, không áp dụng cho Việt Nam được. Bởi vì, tại Việt Nam chỉ nhìn hai ngành
xuất khẩu chủ lực là da giày và may mặc thì hơn 90% là nguyên liệu nhập khẩu. Theo số
liệu của Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2010, da giày xuất khẩu 4,56 tỉ
USD, dệt may xuất khẩu được 5,52 tỉ USD. Tổng cộng lại là 10,8 tỉ USD. Trong khi đó,
nhập khẩu của hai mặt hàng này là 8,8 tỉ USD. Như vậy, xuất ròng của hai sản phẩm
chiến lược trên chỉ còn 1,2 tỉ USD thôi. Đây là vấn đề của nền kinh tế gia công chủ yếu
nhập khẩu, còn phần giá trị gia tăng chủ yếu là lao động. Vì thế, nếu đồng bạc VN rẻ đi
thì nguyên liệu nhập khẩu sẽ đắt lên. Như vậy giá thành sản phẩm sẽ tăng lên chứ không
phải giá thành sẽ rẻ hơn để xuất khẩu. Tỉ giá chỉ ổn định khi cán cân thanh toán cân bằng
và cán cân thương mại nghiêng về xuất chứ không phải nhập.
2.3.Tỷ giá với đầu tư nước ngoài
Theo Thống đốc NHNN, tháng 2/2011 là thời điểm thích hợp và thuận lợi để điều
chỉnh tỷ giá do nguồn ngoại hối dồi dào, các khoản vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp, ODA
cũng đang giải ngân tốt... qua đó, sẽ giúp thị trường ngoại hối ổn định, không bị xáo trộn.
Thế nhưng, cũng tồn tại một thực tế khác. Đó là từ hơn nửa năm nay, tỷ giá trên thị
trường phi chính thức luôn luôn vượt trần, có khi tới trên 10%. Bên cạnh đó, dòng vốn
nước ngoài (FDI, ODA và kiều hối) tuy lớn nhưng không đủ bù đắp thâm hụt thương mại
cũng như khoản “sai số và thiếu sót” (mà nguyên nhân là do người dân và doanh nghiệp
chuyển danh mục tiền tệ sang vàng và đô la). Kết quả là cán cân thanh toán luôn bị thâm
hụt và dự trữ ngoại hối tụt xuống mức thấp nhất kể từ năm 2005 dù tính theo con số tuyệt
đối hay tính theo số tuần nhập khẩu. Như vậy, áp lực giảm giá tiền đồng tích tụ suốt nhiều
tháng qua đã buộc NHNN phải “buông” tỷ giá.
Phá giá là liều thuốc đắng mà Việt Nam phải uống vì đang bị bệnh. Giúp giảm
gánh nặng chi tiêu cho người nghèo trong cơn bão này, đầu tư thêm vào các cơ sở giáo
dục, y tế dịch vụ công... là cần thiết song song với cắt giảm chi tiêu công không hiệu quả.
Mối liên hệ này khá phức tạp. Về nguyên tắc nếu phá giá để đưa tỷ giá về mức bền
vững thì nền kinh tế sẽ ổn định hơn dù trong ngắn hạn tốc độ tăng trưởng có thể bị ảnh

nước ngoài, luồng vốn ngoại tệ chảy vào trong nước, làm cho cung ngoại tệ tăng, tỷ giá
hối đoái giảm. Đầu tư ra nước ngoài ròng là hiệu số giữa luồng vốn chảy ra và luồng vốn
chảy vào một nước. Khi đầu tư ra nước ngoài ròng dương, luồng vốn chảy vào trong nước
nhỏ hơn dòng vốn chảy ra nước ngoài,tỷ giá hối đoái tăng. Tỷ giá hối đoái sẽ giảm trong
trường hợp ngược lại, đầu tư ra nước ngoài ròng âm. Theo quy luật tối ưu hoá, luồng vốn
sẽ chảy đến nơi nào có lợi nhất, tức là hiệu suất sinh lời cao nhất. Một nền kinh tế sẽ thu
hút được các luồng vốn đến đầu tư nhiều hơn khi nó có môi trường đầu tư thuận lợi, nền
chính trị ổn định, các đầu vào sẵn có với giá rẻ, nguồn lao động dồi dào có tay nghề, thị
trường tiêu thụ rộng lớn, lãi suất cao và sự thông thoáng trong chính sách thu hút đầu tư
nước ngoài của Chính phủ.
Điều chỉnh tỷ giá lần này là một bước nhằm lành mạnh hóa thị trường ngoại tệ,
giúp tăng tính thanh khoản, cân bằng cung cầu ngoại tệ từ đó hỗ trợ việc thực thi chính
sách tiền tệ. Tuy nhiên, kèm theo đó phải là một loạt biện pháp mạnh mẽ kiên quyết hạn
chế đầu tư công, cơ cấu lại kinh tế theo hướng hiệu quả hơn từ đó tăng năng suất, giảm
chỉ số ICOR hơn nữa…Những biện pháp như vậy mới làm tăng giá trị nội tệ nhờ tăng
trưởng kinh tế một cách chắc chắn, thực chất. Đó là cách lâu dài ổn định tỷ giá, ổn định
giá trị đồng tiền Việt Nam.
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 14 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

2.4.Lãi suất
Lãi suất và tỷ giá hối đoái là 2 trong số những công cụ quan trọng để Chính phủ
điều hành nền kinh tế vĩ mô của một nước. Tuy là 2 công cụ khác nhau nhưng giữa chúng


- 15 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

Lãi suất đang được NHNN định hướng giảm, nhằm khuyến khích các DN vay với
mức lãi suất thấp hơn để bảo đảm tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, lãi suất huy động VND
khó có thể giảm xuống do tác động của việc tăng tỷ giá VND/USD và lãi suất tiền gửi
USD, do luật ngang bằng lãi suất giữa lãi suất cho VND và lãi suất cho USD. Khi NHNN
muốn tăng cung tiền và tín dụng nhanh chóng như mấy tháng vừa qua để làm giảm lãi
suất VND, tác dụng thực tế lại ngược lại, vì tăng tiền lại làm tăng kỳ vọng lạm phát cũng
như gây thêm áp lực lên tỷ giá trên thị trường tự do. Ngoài ra, lãi suất huy động trên USD
lại tăng trong những tháng đầu năm 2011 do nhu cầu ngoại tệ của nền kinh tế, đô la hóa
đang rất cao, kết quả là lãi suất huy động trên VND vẫn khó giảm xuống ở hiện tại.
Ngoài ra, việc sử dụng vốn không hiệu quả và các khó khăn tài chính của các tập
đoàn lớn trong thời gian qua làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Điều này cũng làm cho lãi suất trái phiếu khó điều chỉnh giảm.
Nói chung nếu áp lực lên tỷ giá không được ngăn chặn bởi sự giảm bớt tăng cung
tiền và tín dụng sẽ khó lòng giải quyết được các bế tắc hiện tại của thị trường tín dụng và
hệ thống lãi suất để "khai thông" cho các thị trường chứng khoán và nhà đất cũng như của
cả nền kinh tế năm 2011. Chưa kể là tỷ giá của VND nếu lại vượt qua xa mức tâm lý
21.000 đồng/USD có thể làm niềm tin của dân cư, nhất là giới đầu tư, sa sút và có thể tạo
ra các thiệt hại tài chính lớn hơn nhiều do "dòng xoáy" lạm phát - tỷ giá gây ra.
Việc thay đổi tỉ giá cũng có tác động tới lãi suất USD. Nhìn lại lần tăng giá ngày
18/8/2010, sau khi tỉ giá USD/VND liên ngân hàng (NH) tăng thêm 2,09%, tỉ giá ngoại tệ
tại các NH tăng hết biên độ cho phép 3%, cán mức 19.500 đồng/USD, lập tức lãi suất
USD của một số NH bắt đầu tăng theo tỉ giá. Tình hình tương tự khi tỉ giá mới được công

đòi hỏi sự ngang bằng về tiền lãi, điều kiện mà theo đó lợi tức dự kiến của các khoản tiền
gởi của hai loại tiền bất kỳ là tương đương thì được đo bằng một loại tiền (nghĩa là đo
bằng các đơn vị có thể so sánh với nhau được). Chỉ khi tất cả các tỷ suất lợi tức dự kiến
đều bằng nhau, tức là khi đó điều kiện ngang bằng tiền lãi, thì sẽ không có tình trạng dư
cung về một số dạng tiền gởi nào đó và cũng không có tình trạng dư cầu về một số loại
tiền gởi khác. Thị trường hối đoái sẽ cân bằng khi không một loại tiền gởi nào ở trong
tình trạng dư cầu hoặc dư cung. Do vậy, có thể nói rằng thị trường hối đoái sẽ cân bằng
khi có điều kiện ngang bằng về tiền lãi.
2.5. Tỉ giá với tâm lý số đông
Nhân tố cuối cùng và cũng là nhân tố quan trọng nhất tác động đến tỷ giá hối đoái
đó là tâm lý số đông. Người dân, các nhà đầu cơ, các ngân hàng và các tổ chức kinh
doanh ngoại tệ là các tác nhân trực tiếp giao dịch trên thị trường ngoại hối. Hoạt động
mua bán của họ tạo nên cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Các hoạt động đó lại bị chi phối
bởi yếu tố tâm lý, các tin đồn cũng như các kỳ vọng vào tương lai. Điều này giải thích tại
sao, giá ngoại tệ hiện tại lại phản ánh các kỳ vọng của dân chúng trong tương lai. Nếu
mọi người kỳ vọng rằng tỷ giá hối đoái sẽ tăng trong tương lai, mọi người đổ xô đi mua
ngoại tệ thì tỷ giá sẽ tăng ngay trong hiện tại; Mặt khác, giá ngoại tệ rất nhạy cảm với
thông tin cũng như các chính sách của chính phủ. Nếu có tin đồn rằng Chính phủ sẽ hỗ trợ
xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu để giảm thâm hụt thương mại, mọi người sẽ đồng loạt bán
ngoại tệ và tỷ giá hối đoái sẽ giảm nhanh chóng.( khi thâm hụt thương mại giảm, thì cầu
về USD giảm, giá USD sẽ giảm trong tương lai).
Việc điều chỉnh tỷ giá vào tháng 2/2011 về sát với thị trường tự do sẽ khiến người
dân và doanh nghiệp có ngoại tệ sẽ mạnh tay bán ngoại tệ cho ngân hàng. Trước đây, bán
100 USD cho ngân hàng thiệt hơn vì tỷ giá thấp hơn thị trường tự do, nay chênh lệch chỉ
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 17 -

Lớp : QT6C

chính thức.
2.6. Tỉ giá với tình trạng đô la hóa
Việc biến động tỷ giá hối đoái có nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên
nhân ấy gắn với tình trạng "đô la hóa" ở nước ta hiện nay. Mặc dù Chính phủ theo đuổi
chính sách quản lý ngoại hối theo định hướng nhất quán "trên thị trường Việt Nam chỉ
giao dịch bằng đồng Việt Nam", nhưng thực tế, ngoại tệ và vàng được sử dụng khá phổ
biến như các phương tiện thanh toán trong giao dịch mua bán bất động sản, hàng hóa đắt
Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 18 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

tiền, vay, trả nợ, cất trữ. Những hàng hóa này thường là những hàng hóa mà doanh nghiệp
Việt Nam phải nhập khẩu toàn bộ hoặc nhập khẩu từng liên kiện, nên giá của chúng phụ
thuộc hoàn toàn vào USD, do vậy để tránh rủi ro tỷ giá cho mình, các DN buộc phải niêm
yết giá bằng USD. Mỗi khi có biến động về tỷ giá thì các ngoại tệ, nhất là USD gia tăng
vai trò trên thị trường.
Ngày 11/2/2011 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên
ngân hàng lên mức 20.693 VND/USD và thu hẹp biên độ giao dịch từ dao động 3%
xuống dao động 1%. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đang điều hành tỷ giá bình quân
liên ngân hàng tương đối linh hoạt trong thời gian gần đây.
Việc điều chỉnh tỷ giá này lập tức có hiệu ứng đối với thị trường tự do, nâng giá
mua bán USD lên mức 21.350 - 21.500 đồng (11/2/2011). Sự điều chỉnh tỷ giá cũng ít
nhiều tạo xung lực tăng giá vàng trong nước. Cùng với sự biến động của USD, giá vàng
cũng tăng gần 200.000 đồng mỗi lượng, tuy vậy thời gian sau đó giá vàng trong nước

3.1.Nguyên nhân về thực trạng tỉ giá bất cập ở VN
Khác với những lần trước, mặc dù lần này tỷ giá chính thức giữa đô la và tiền đồng
tăng tới 9,3% (2/2011) nhưng chỉ một tuần sau khi điều chỉnh, chênh lệch giữa tỷ giá
chính thức và tỷ giá thị trường gần như trở về trạng thái trước khi điều chỉnh.
Nguyên nhân đầu tiên khiến tỷ giá tăng trở lại là do sự điều hành của Ngân hàng
Nhà nước (NHNN). Thông thường, sau mỗi lần NHNN tăng tỷ giá, thị trường sẽ điều
chỉnh “quá mức” so với tỷ giá chính thức. Thế nên, để hạn chế và đảo ngược trạng thái
điều chỉnh quá mức này, qua đó bảo vệ tỷ giá mới, NHNN phải can thiệp vào thị trường
ngoại hối sau khi tăng tỷ giá. Tuy nhiên lần này mặc dù tỷ giá tăng tới 9,3% nhưng
NHNN lại không có bất kỳ một nỗ lực can thiệp đáng kể nào. Điều này được thị trường
diễn giải là do dự trữ ngoại hối thấp nên NHNN không có khả năng can thiệp để bảo vệ tỷ
giá. Thêm vào đó, với trần tỷ giá mới thấp hơn tỷ giá trên thị trường, việc giảm biên độ
giao dịch từ 3% xuống 1% không những không giúp tăng tính linh hoạt cho chính sách
của NHNN mà còn làm cho tỷ giá chính thức hoàn toàn mất hiệu lực đối với cả thị trường
liên ngân hàng cũng như thị trường phi chính thức.
Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ tình trạng ba đồng tiền có tính cố hữu của nền
kinh tế. Khi tiền đồng mất giá, một cách tự nhiên người ta có xu hướng chuyển sang nắm
giữ đô la và vàng. Cũng tự nhiên như thế, khi giá đô la trên thị trường cứ tiếp tục tăng,
nhiều người sẽ muốn chuyển sang nắm giữ vàng. Nhu cầu vàng tăng đẩy giá vàng lên
cao, từ đó khuyến khích việc nhập vàng (kể cả qua con đường không chính thức). Hai
điều này làm tăng thêm nhu cầu đô la và làm xấu thêm tình trạng khan hiếm đô la trên thị
trường, và vòng xoáy giá đô la và giá vàng cứ thế tiếp tục leo thang.
Nguyên nhân thứ ba là trong khi giá vàng, giá đô la đua nhau tăng như vậy thì
thông tin về những đợt điều chỉnh giá lớn về điện, nước, xăng, dầu, cũng như lo lắng về
tình trạng giá lương thực sẽ tăng cứ dồn dập đưa tới. Hệ quả là lạm phát kỳ vọng vốn đã ở
mức cao càng trở nên cao thêm, đồng thời người ta cũng nghĩ tới khả năng về một đợt
điều chỉnh tỷ giá mới, khiến cho hành vi chuyển sang nắm giữ vàng và đô la càng được
tăng cường. Điều này thường được lý giải như là một hiện tượng “tâm lý”.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng để ổn định tỷ giá, điều then chốt là
NHNN phải làm tăng sự hấp dẫn của tiền đồng một cách tương đối so với vàng và đô la.

- Thực hiện chặt chẽ các biện pháp về quản lý, sử dụng ngoại tệ, kiểm soát chặt
chẽ cả việc cho vay và bán ngoại tệ để thanh toán cho nhập khẩu các mặt hàng thuộc
Danh mục các mặt hàng nhập khẩu không thiết yếu, không cấp bách.

Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 21 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

KẾT LUẬN
Có thể nói, một nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế phải dựa trên nền tảng thể
chế kinh tế thị trường theo nguyên tắc tự do hóa các hoạt động kinh tế - thương mại và
được hỗ trợ bởi các thể chế chính trị tương thích là rất cần thiết, song phải có những bước
đi, lộ trình cụ thể để đảm bảo sự ổn định vĩ mô. Vấn đề lựa chọn cơ chế điều hành tiền tệ,
cơ chế điều hành tỷ giá nào là thích hợp trong quá trình hội nhập kinh tế luôn là những
vấn đề hóc búa. Sự lựa chọn sai lầm rất có thể dẫn đến sự bất ổn tiền tệ, bất ổn kinh tế vĩ
mô. Trong tình hình hiện nay, NHNN nhấn mạnh vai trò của tỷ giá như một công cụ quan
trọng để ổn định vĩ mô và ổn định thị trường tài chính là rất đúng hướng.Với một cơ chế
điều hành tỷ giá khống chế biên độ và điều hành thận trọng của NHNN hiện nay là giải
pháp hữu hiệu nhất để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
Tuy nhiên, trong dài hạn, khi nền kinh tế đã đạt được những điều kiện nhất định,
như tiềm lực tài chính của quốc gia đã đủ mạnh; thị trường tài chính phát triển đầy đủ và
vận hành ổn định; tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế được kiểm soát mức thấp; lạm
phát ở mức ổn định; cơ cấu xuất nhập khẩu có sự thay đổi căn bản, theo hướng xuất khẩu
các mặt hàng tinh chế, tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng thô giảm, giá trị hàng xuất được

3.2. Lạm phát.....................................................................................................................4
3.3. Lãi suất....................................................................................................................... 4
3.4. Một số nhân tố khác....................................................................................................4
4. Các biện pháp điều chỉnh tỷ giá hối đoái....................................................................5
4.1. Chính sách lãi suất tái chiết khấu...............................................................................5
4.2.Chính sách hối đoái.....................................................................................................5
4.3.Phá giá tiền tệ..............................................................................................................6
4.4.Nâng giá tiền tệ............................................................................................................6
5. Chính sách tỷ giá..........................................................................................................6

Họ và tên : Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày sinh : 18/03/1990

- 23 -

Lớp : QT6C


TIỂU LUẬN MÔN : KINH TẾ HỌC

II. THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ TỚI TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY..........................................................7
1.Thực trạng vấn đề tỷ giá ở Việt Nam hiện nay...........................................................7
2. Tác động của tỉ giá đến nền kinh tế............................................................................9
2.1. Tỷ giá với lạm phát.....................................................................................................9
2.2. Tỷ giá với cán cân thương mại.................................................................................10
2.3.Tỷ giá với đầu tư nước ngoài....................................................................................13
2.4. Lãi suất.................................................................................................................... 15
2.5. Tỉ giá với tâm lý số đông..........................................................................................17
2.6. Tỉ giá với tình trạng đô la hóa.................................................................................18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status