ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ & PHÁT TRIỂN
................
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
KINH DOANH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
TRƯỜNG PHÚ THỪA THIÊN HUẾ
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
Trần Thị Ý Nhi
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
PGS. TS. Trần Văn Hòa
Lớp: K45C-Kế hoạch đầu tư
Niên khóa: 2011-2015
Huế, tháng 5 năm 2014
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
Huế, tháng 5 năm 2014
Sinh Viên
Trần Thị Ý Nhi
MỤC LỤC
Trang
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
DANH MỤC BẢNG BIỂU
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
: Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
ROA
: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
NPT
: Nợ phải trả
VKD
: Vốn kinh doanh
VCSH
: Vốn chủ sở hữu
LN
: Lợi nhuận
TSLĐ & ĐTNH
: Tài sản lưu dộng và đầu tư ngắn hạn
TSCĐ & ĐTDH
: Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
trong việc sử dụng vốn đầu tư để từ đó đề ra những giải pháp nhằm khắc phục những
nhược điểm mà Công Ty đang gặp phải, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng vốn
của Công Ty trong thời gian sắp tới.
Mục tiêu nghiên cứu: Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu
quả sử dụng vốn kinh doanh trong Công Ty Cổ Phần. Đánh giá thực trạng hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh tại Công Ty Cổ Phần Trường Phú Thừa Thiên Huế..Đề xuất
những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng vốn kinh doanh tại Công Ty
Cổ Phần Trường Phú Thừa Thiên Huế.
Dữ liệu phục vụ nghiên cứu: Thu thập số liệu thông qua sách, báo, tạp chí,
internet có liên quan. Số liệu về các báo chí tài chính, các bảng kê tài sản cố định của
Công Ty Cổ Phần Trường Phú trong giai đoạn năm 2012 đến năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu
nghiên cứu với dữ liệu thứ cấp, phương pháp xửlý số liệu, phương pháp thay thế liên
hoàn. Cụ thể, thu thập số liệu tại Công Ty thông qua các bảng cân đối kế toán, báo cáo
kết quả hoạt động kinh doanh… Từ các số liệu thu thập tổng hợp báo cáo để tiến hành
phân tích và so sánh các chỉ số qua các năm từ đó áp dụng các công thức tính ra được
các chỉ số tài chính của Công Ty và liên hệ với tình hình hoạt động kinh doanh của
Công Ty qua các năm để đưa ra nhận xét, đánh giá về đơn vị.
Kết quả nghiên cứu: Qua quá trình phân tích hiệu quả sử dụng vốn cho ta thấy
Công Ty đã đạt những thành tựu to lớn như tăng liên tục qua các năm cùng với sự tăng
lên của doanh thu và lợi nhuận đã góp phần không nhỏ làm tăng khả năng thanh toán,
củng cố và phát triển nguồn vốn đảm bảo duy trì ổn định sản xuất kinh doanh trong
thời gian tới. Nhưng bên cạnh đó Công Ty vẫn cón gặp phải một số khó khăn cần phải
có các biện pháp khắc phục sớm như số lượng hàng tồn kho còn cao, tỷ lệ hao mòn
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, một yếu tố không thể thiếu được là phải có
vốn, bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng vốn nhất định, bởi vốn
chính là đối tượng của quá trình trao đổi, nếu thiếu hụt doanh nghiệp sẽ mất khả năng
thanh toán không đảm bảo sự sống cho doanh nghiệp. Hay nói cách khác vốn là điều
kiện để tồn tại và phát triển của bất kì doanh nghiệp nào.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì nhu cầu về vốn cho từng doanh nghiệp
càng trở nên quan trọng hơn vì các doanh nghiệp phải đối mặt trực tiếp với sự biến
động của thị trường, cùng với sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước, các
bạn hàng nước ngoài nên đòi hỏi phải sử dụng vốn sao cho hợp lý nhằm mang lại hiệu
quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh và làm tăng thêm sức cạnh tranh của
mình. Chính vì vậy, vốn có ý nghĩa hết sức quan trọng là sự sống của các doanh
nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn đóng vai trò quan trọng trong phân tích hoạt
động kinh doanh nhằm đánh giá trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp để đạt được
kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Đồng thời trên cơ sở đó cung cấp các thông tin
hữu ích cho các đối tượng quan tâm như các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng…nhận
biết tình hình tài chính thực tế để có quyết định đầu tư hiệu quả.
Mặt khác, một doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn của mình một cách có hiệu quả
nhất sẽ tồn tại, phát triển và đứng vững trên toàn thị trường, một phần lợi nhuận từ
việc sử dụng hiệu quả của nguồn vốn đem lại sẽ được đầu tư, tiến hành để tái sản xuất
mở rộng quy mô, đưa doanh nghiệp ngày càng phát triển lớn mạnh hơn. Vậy hoạt
động quản lý và sử dụng vốn sao cho hiệu quả là một nội dung quan trọng trong công
tác quản lý tài chính của doanh nghiệp. Nó giúp cho các doanh nghiệp nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện cho tình hình tài chính của doanh
nghiệp luôn ở trạng thái ổn định và lành mạnh. Đây cũng là một vấn đề luôn thu hút
của các nhà đầu tư, các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp và những người làm công tác
kế toán tài chính.
Xuất phát từ thực tế và nhận thức được yêu cầu đòi hỏi sau một thời gian thực
tập tốt nghiệp tại Công Ty Cổ Phần Trường Phú Thừa Thiên Huế với sự giúp đỡ của
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Công Ty Cổ Phần Trường Phú Thừa Thiên Huế.
3. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung vào hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công Ty Cổ Phần
Trường Phú Thừa Thiên Huế.
4. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi thời gian : Tình hình sử dụng vốn hoạt động sản xuất kinh doanh qua các năm
2012 – 2014.
-
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Công Ty Cổ Phần Trường Phú
Thừa Thiên Huế.
-
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Công Ty trong
giai đoạn 2012-2014, đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của giai đoạn này, từ đó đề
ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho Công Ty.
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
5. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công
Ty Cổ Phần Trường Phú Thừa Thiên Huế
Phần III: Kết luận và kiến nghị
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tổng quan về vốn kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm về vốn
Để hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thực sự có hiệu quả thì
điều đầu tiên mà các doanh nghiệp quan tâm và nghĩ đến là làm thế nào để có đủ vốn
và sử dụng nó như thế nào để đem lại hiệu quả cao nhất.Vậy vấn đề đặt ra ở đây- vốn
là gì? Các doanh nghiệp cần bao nhiêu vốn thì đủ cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của mình.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn.vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ
tiền tệ đặc biệt. Mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
tức là mục đích tích quỹ chứ không phải mục đích tiêu dùng như một vài quỹ tiền tệ
khác trong các doanh nghiệp.
Đứng trên mỗi góc độ và quan điểm khác nhau, với mục đích nghiên cứu khác
nhau thì có những quan niệm khác nhau về vốn.
Theo quan điểm của Marx, ông cho rằng: “ Vốn chính là tư bản, là giá trị đem lại
giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất ”. Định nghĩa của Marx có tầm
khái quát lớn, tuy nhiên do hạn chế về mặt trình độ phát triển của nền kinh tế mà Marx
quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dư cho nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa. Nó giống các hàng hóa
khác ở chỗ có chủ sở hữu nhất định. Song nó có điểm khác vì người sở hữu có thể bán
quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Giá của vốn (hay còn gọi là lãi suất)
là cái giá phải trả về quyền sử dụng vốn. Chính nhờ sự tách rời về quyền sở hữu và
quyền sử dụng vốn nên vốn có thể lưu chuyển trong đầu tư kinh doanh và sinh lời.
Tóm lại, vốn là một phạm trù được xem xét theo nhiều quan điểm, với nhiều mục
đích khác nhau. Do đó, khó có thể đưa ra định nghĩa thỏa mãn tất cả các yêu cầu, các
quan niệm đa dạng. Song hiểu một cách khái quát, ta có thể coi:
Vốn kinh doanh là toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu hay các giá trị tích lũy
được cho các quá trình sản xuất tiếp theo của doanh nghiệp.
1.1.1.2. Phân loại vốn kinh doanh
Trong quá trình sản xuất kinh doanh để quản lý và sử dụng vốn một cách có hiệu
quả các doanh nghiệp đều tiến hành phân loại vốn. Tuỳ thuộc vào mục đích và loại hình
của từng doanh nghiệp mà doanh nghiệp phân loại vốn theo những tiêu thức khác nhau.
1.1.1.2.1. Căn cứ vào phạm vi huy động và sử dụng vốn
- Nguồn vốn trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn có thể huy động được từ hoạt động
bản thân của doanh nghiệp như: tiền khấu hao TSCĐ, lợi nhuận giữ lại, các khoản dự
trữ, dự phòng, khoản thu từ người bán, thanh lý TSCĐ…
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
- Nguồn vốn bên ngoài doanh nghiệp: Là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy
động từ bên ngoài nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh như:
vay ngân hàng, vay của các tổ chức kinh tế khác, vay của cá nhân và nhân viên trong
công ty…
1.1.1.2.4. Căn cứ vào phương thức luân chuyển
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn có thể chia vốn thành hai loại Vốn cố định
và Vốn lưu động.
- Vốn cố định
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
Là một bộ phận của vốn sản xuất, là hình thái giá trị của những tư liệu lao động
đang phát huy tác dụng trong sản xuất. Khi xem xét những hình thái giá trị của những
tư liệu lao động đang nằm trong vốn cố định, không chỉ xét về mặt hiện vật mà quan
trọng là phải xem xét tác dụng của chúng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Đối với
tất cả các tư liệu lao động đang phát huy tác dụng trong sản xuất đều là vốn cố định,
tuỳ theo tình hình thực tế, từng thời kỳ mà có những quy định cụ thể khác nhau. Hiện
tại Nhà nước quy định các tư liệu sản xuất có đủ hai điều kiện thời gian sử dụng lớn
hơn một năm và giá trị tài sản lớn hơn 5 triệu đồng thì được coi là tài sản cố định.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn cố định tham gia nhiều lần vào sản
xuất, giá trị của tài sản cố định giảm dần, theo đó nó được tách ra làm hai phần: Một
phần gia nhập vào chi phí sản phẩm dưới hình thức khấu hao tương ứng với sự giảm
dần giá trị sử dụng của tài sản cố định. Trong các chu kỳ sản xuất tiếp theo, nếu như
phần vốn lưu chuyển dần tăng lên thì phần vốn cố định giảm đi tương ứng với mức
suy giảm giá trị sử dụng của tài sản cố định. Kết thúc quá trình sản xuất kinh doanh tài
sản cố định hết thời gian sử dụng và vốn cố định hoàn thành một vòng luân chuyển.
Đối với các doanh nghiệp quốc doanh, vốn cố định là phần vốn đầu tư mua sắm
các loại tài sản cố định dưới hai hình thức: Ngân sách cấp phát và vay công ty ( một
phần được trích từ quỹ phát triển sản xuất). Vốn cố định giữ vai trò rất quan trọng trong
- Máy móc thiết bị
- Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn
- Thiết bị, dụng cụ quản lý
- Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm
- Các loại tài sản cố định khác
Vậy với mỗi cách phân loại trên đây cho phép ta đánh giá xem xét kết cấu tài sản
cố định của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau. Kết cấu tài sản cố định là tỷ
trọng của một loại tài sản cố định nào đó so với tổng nguyên giá các loại tài sản cố
định của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định.
Kết cấu tài sản cố định giữa các ngành sản xuất khác nhau hoặc cùng một ngành
sản xuất cũng khác nhau.
Đối với các doanh nghiệp việc phân loại và phân tích tình hình kết cấu tài sản cố
định là việc làm cần thiết giúp doanh nghiệp chủ động biến đổi kết cấu tài sản cố định
sao cho có lợi nhất cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp.
Vốn lưu động
Là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động và tài sản lưu thông được đầu
tư vào sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy vốn lưu động bao gồm những
giá trị của tài sản lưu động như: Nguyên vật liệu chính, phụ; nguyên vật liệu và phụ
tùng thay thế; công cụ dụng cụ; thành phẩm; hàng hoá mua ngoài dùng cho tiêu thụ
sản phẩm; vật tư thuê ngoài chế biến; vốn tiền mặt; thành phẩm trên đường gửi bán…
Khác với tư liệu sản xuất, đối tượng lao động chỉ được tham gia vào một chu kỳ
sản xuất để góp phần hợp thành giá trị và giá trị sử dụng của một sản phẩm. Vì vậy
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
Phân loại theo hình thái biểu hiện: Vốn lưu động gồm:
• Vốn vật tư hàng hoá: Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật
cụ thể như nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm.
• Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản vốn bằng tiền mặt, đầu tư công ty…
Căn cứ vào chủ sở hữu về vốn, vốn lưu động bao gồm:
• Vốn chủ sở hữu: Là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
• Vốn vay hay các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán
Tóm lại, từ các cách phân loại trên doanh nghiệp có thể xác định được kết cấu
vốn lưu động của mình theo những tiêu thức khác nhau. Kết cấu vốn lưu động phản
ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần trong tổng số vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Ở các doanh nghiệp Nhà nước khác nhau thì kết cấu vốn lưu động khác nhau.
Việc phân tích kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau sẽ
giúp doanh nghiệp hiểu rõ thêm những đặc điểm riêng về số vốn lưu động mà mình
đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định đúng biện pháp quản lý vốn lưu động có hiệu
quả hơn.Qua đó cũng có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc những hạn chế về
mặt chất lượng trong công tác quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp mình.
1.1.1.2.5.Căn cứ vào quyền sở hữu đối với vốn
Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có
trách nhiệm phải trả cho các tác nhân kinh tế như nợ vay ngân hàng, nợ vay của các chủ
thể kinh tế, nợ vay của cá nhân, phải trả cho người bán, phải nộp ngân sách…
trình vận động vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm
cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là đồng tiền.Đồng tiền phải quay về nơi xuất phát
với giá trị lớn hơn, đó là mục tiêu kinh doanh lớn nhất của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Vốn có giá trị về mặt thời gian: Thông qua đặc điểm này các doanh nghiệp phải
lưu ý đến ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như lạm phát, tình hình phát triển kinh
tế và đặc biệt là phải tính toán vòng quay của vốn một cách hợp lý.
Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu: Vốn góp, vốn liên doanh thì chủ sở hữu là các
bên tham gia liên doanh, góp vốn, vốn vay thuộc sở hữu của Ngân Hàng và các chủ nợ
khác, nghiên cứu kỹ vấn đề này là điều rất cần thiết giúp doanh nghiệp có các phương
án sử dụng vốn dài hạn và ngắn hạn hiệu quả hơn.
Vốn được coi là hàng hóa đăc biệt: Điều này có nghĩa là vốn phải có đầy đủ cả giá
trị và giá trị sử dụng, giá trị của hàng hóa vốn chính là bản thân nó, giá trị sử dụng của vốn
thể hiện ở chỗ khi đưa vào sản xuất kinh doanh nó sẽ tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Như mọi hàng hóa khác vốn cũng được mua bán trên thị trường nhưng người ta chỉ
mua và bán quyền sử dụng nó đó chính là yếu tố làm cho vốn trở thành hàng hóa đặc biệt
khác các loại hàng hóa khác.Người thừa vốn đưa vốn vào thị trường, người cần vốn tới thị
trường vay và phải trả một khoản phí cho lượng vốn vay đó (lãi).Trong quá trình đó
quyền sở hữu vốn sẽ không thay đổi mà chỉ thay đổi quyền sử dụng vốn.
1.1.1.4. Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế.Để tiến hành hoạt động
kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó.Số
vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong hoạt
động kinh doanh.Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành lập,
hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể:
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
một doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận cho mình, nhưng lại
làm tổn hại đến lợi ích chung của nền kinh tế xã hội sẽ không được phép hoạt động.
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
Ngược lại, nếu doanh nghiệp đó hoạt động đem lại lợi ích cho nền kinh tế, còn bản
thân bị lỗ vì sẽ làm cho doanh nghiệp bị phá sản. Như vậy kết quả tạo ra do việc sử
dụng vốn phải kết hợp với lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của nền kinh tế xã hội.
Vậy, hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh,
là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng vốn, tài sản
vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi ích và tối thiểu hóa
chi phí.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp
trong cơ chế thị trường
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ đảm bảo an toàn tài chính cho doanh nghiệp.
Hoạt động trong cơ chế thị trường đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải luôn đề cao tính an
toàn, đặc biệt là an toàn tài chính. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp.Việc sử dụng vốn có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp nâng
cao khả năng huy động vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp được đảm bảo
doanh nghiệp có đủ tiềm lực để khắc phục những khó khăn và rủi ro trong kinh doanh.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao sức cạnh
tranh.Để đáp ứng nhu cầu cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng
hoá mẫu mã sản phẩm.Doanh nghiệp phải có vốn trong khi đó vốn của doanh nghiệp
có hạn.Vì vậy, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là rất cần thiết.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu tăng giá
trị tài sản của chủ sở hữu và các mục tiêu khác của doanh nghiệp như nâng cao uy tín
Hiệu quả sử dụng vốn cố định ròng ( mức doanh lợi vốn cố định )
Công thức tính:
Hiệu quả sử dụng VCĐ ròng trong 1 kỳ =
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đơn vị vốn cố định bình quân mà công ty bỏ
ra đầu tư thì thu được bao nhiêu đơn vị lợi nhuận ròng.
Hệ số đảm nhiệm vốn cố định
Công thức tính:
Hệ số đảm nhiệm VCĐ =
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu cần sử dụng bao
nhiêu đơn vị vốn cố định. Chỉ tiêu này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn cố
định càng cao.
1.1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Các chỉ tiêu này nói lên tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong Công Ty và qua đó
để biết được hiệu quả sử dụng vốn lưu động đó như thế nào.
Số vòng quay vốn lưu động
Công thức tính:
Số vòng quay vốn lưu động =
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng trong kỳ.
Nếu số vòng quay càng nhiều chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao và ngược lại.
Mức doanh lợi vốn lưu động( tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động )
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
- Số ngày một vòng quay của hàng tồn kho
Số ngày một vồng quay của HTK =
Ý nghĩa: Chỉ tiêu số ngày tồn kho cho biết bình quân hàng tồn kho của doanh
nghiệp mất hết bao nhiêu ngày.
Kỳ thu tiền bình quân
SVTH: Trần Thị Ý Nhi - Lớp: K45C -KHĐT
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: PGS.TS.Trần Văn Hòa
Tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu. Nó
cho biết bình quân mất bao nhiêu ngày để Công Ty có thể thu hồi khoản phải thu.
- Tốc độ chu chuyển các khoản phải thu (vòng quay khoản phải thu)
Công thức tính:
Vòng quay khoản phải thu =
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà
doanh nghiệp áp dụng đối với bạn hàng. Vòng quay khoản phải thu càng cao thì kỳ thu
tiền bình quân càng thấp và ngược lại.
- Số ngày bình quân vòng quay khoản phải thu
Số ngày trung bình =
Ý nghĩa: Cho biết doanh nghiệp mất bình quân là bao nhiêu ngày để thu hồi các
khoản phải thu của mình.
1.1.2.3.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
Hiệu quả sử dụng vốn
nhiêu đơn vị lợi nhuận
1.1.2.4. Các chỉ tiêu đánh giá khái quát mức độ độc lập tài chính
Hệ số tài trợ
Công thức tính :
Tỷ suất tự tài trợ =
Ý nghĩa: Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm về mặt tài
chính và mức độ độc lập tài chính doanh nghiệp. Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số
nguồn vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phẩn.
Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính càng cao,
mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng và ngược lại, trị số của
các chỉ tiêu càng nhỏ, khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của doanh nghiệp càng
thấp, mức độ độc lập về tài chính của doanh nghiệp càng giảm
Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn
Công thức tính:
Tỷ suất tự tài trợ TSDH =
Ý nghĩa: Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn (hay Hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản
dài hạn) là chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản ngắn hạn bằng vốn chủ sở hữu.
Hệ số tự tài trợ tài sản cố định
Công thức tính:
Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ =
Ý nghĩa: Hệ số tự tài trợ tài sản cố định (hay hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản cố
định) là chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng bộ phận tài sản cố định (đã và đang đầu tư)
bằng vốn chủ sở hữu.
Trên đây là một số chỉ tiêu thường được sử dụng để làm căn cứ cho việc đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Đánh giá tình hình sử dụng VKD
của doanh nghiệp tốt hay chưa tốt, ngoài việc so sánh các chỉ tiêu này với các chỉ tiêu
kỳ trước, các chỉ tiêu thực hiện so với kế hoạch nhằm thấy rõ chất lượng và xu hướng