ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
--------------------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ
Sinh viên thực hiện:
Giáo viên hướng dẫn
Hồ A Vơ
TS. Nguyễn Lê Thu Hiền
Lớp: K45 - KTCT
Niên khóa: 2011-2015
Huế, 5/2015
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
: Công nghiệp – Xây dựng
NN
: Nông nghiệp
DV
: Dịch vụ
DV – TM
: Dịch vụ - Thương mại
TTCN
: Tiểu thủ công nghiệp
NLĐ
: Nguồn lao động
NNL
: Nguồn nhân lực
CLNNL
: Chất lượng nguồn nhân lực
: Trung học phổ thông
ĐH
: Đại học
CĐ
: Cao đẳng
UBND
: Ủy ban nhân dân
LĐ – TB&XH
: Lao động - Thương binh & Xã hội
DS – KHHGĐ
: Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
CNKT
: Công nhân kĩ thuật
SVTH: Hồ A Vơ
THỰC
TIỄN
VỀ
NGUỒN
NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC .........................................12
1.1. Một số vấn đề lí luận cơ bản về nguồn nhân lực ......................................................................12
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực và lực lượng lao động ................................12
1.1.2. Phân loại NNL........................................................................................14
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực và mối quan hệ của phát triển NNL với phát
triển KT – XH...................................................................................................15
1.2. Các nhân tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá nguồn nhân
lực.....................................................................................................................................................18
1.2.1. Các nhân tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực........................18
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá NNL.....................................................................24
1.3. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở một số địa phương và bài học kinh nghiệm rút ra cho
huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị....................................................................................................26
CHƯƠNG II............................................................................................................... 29
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC...........................................29
Ở HUYỆN HƯỚNG HÓA, TỈNH QUẢNG TRỊ ....................................................29
SVTH: Hồ A Vơ
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.2. Phát triển nguồn nhân lực gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế.............65
3.2.3. Bố trí sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với khả năng của nguồn nhân
lực .....................................................................................................................66
SVTH: Hồ A Vơ
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.4. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người lao động ..............66
Nâng cao thể lực cho người lao động là một trong những giải pháp cấp bách,
vừa lâu dài và phải giải quyết qua nhiều thế hệ để nâng cao CLNNL. Để nâng
cao CLNNL, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách như Luật bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe nhân dân (1989), Bảo hiểm y tế (2008), Chiến lược quốc
gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến 2030 các văn kiện
đại hội Đảng về chăm sóc sức khỏe cho các tầng lớp nhân dân. Để thưc hiện
nâng cao thể lực lao động của người lao động, huyện Hướng Hóa cần thực
hiện những giải pháp như:................................................................................67
3.2.5. Có chính sách thu hút, đãi ngộ nhân tài, lao động hiệu quả..................68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ...................................................................................70
1. Kết luận.........................................................................................................................................70
2. Kiến nghị.......................................................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................72
PHỤ LỤC
SVTH: Hồ A Vơ
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG
Chuyên đề tốt nghiệp
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình phát triển KT – XH, nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia gồm:
vốn, NNL, tài nguyên thiên nhiên, KH – CN… Trong đó, NNL giữ vai trò quan trọng
và có tính chất quyết định nhất trong sự tăng trưởng và phát triển KT – XH của mọi
quốc gia. Các nguồn lực khác kể cả tài nguyên và vốn nếu không sử dụng hiệu quả thì
sẽ dần cạn kiệt, nhất là tài nguyên thiên nhiên; trong khi đó thì nguồn lực của con
người có khả năng phục hồi và tái sinh, xét dưới khía cạnh xã hội tổng thể thì nguồn
lực con người không bao giờ cạn kiệt. Hơn thế nữa. NNL là yếu tố không thể thiếu để
khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. NNL càng có ý nghĩa hết sức quan trọng cho
sự phát triển của đất nước khi nền kinh tế toàn cầu đang trong xu thế chuyển dịch sang
nền kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KH – CN, đặc biệt là sự bùng
nổ của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.
Thực hiện đường lối đổi mới nhằm mục tiêu phát triển KT – XH, Đảng và Nhà
nước ta luôn xác định con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển KT –XH.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) khẳng định: “Phát triển và nâng cao
CLNNL những là NNCLLC là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh
phát triển và ứng dụng KH – CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất đảm bảo cho phát triển nhanh, hiệu quả
và bền vững… Đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình
độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề…” Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt Nam đã
đạt được những thành tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức ổn định so với
các nước trong khu vực và trên thế giới, vị thế trên trường quốc tế ngày càng được
nâng cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, một trong những yếu tố chính
tạo nên những thành tựu đó là nhờ PTNNL.
huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
Mục tiêu của đề tài: Trên cơ sở lý luận và thực tiễn PTNNL ở một số địa phương,
cùng với việc phân tích thực trạng phát triển NNL ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng
Trị, nhằm đề xuất một số giải pháp chủ yếu phát triển NNL ở huyện Hướng Hóa, tỉnh
Quảng Trị.
Nhiệm vụ của đề tài:
Một là, hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về NNL.
SVTH: Hồ A Vơ
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Hai là, phân tích thực trạng PTNNL ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị giai
đoạn 2010 – 2014, từ đó có những đánh giá chung về thực trạng PTNNL ở huyện
Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
Ba là, đề xuất một số giải pháp PTNNL ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đến
năm 2020 là chủ yếu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là NNL ở huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Địa bàn huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
- Thời gian: Nghiên cứu thực trạng PTNNL giai đoạn 2010 – 2014 và đề xuất
giải pháp phát triển chủ yếu nguồn nhân lực cho giai đoạn 2015 – 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp điều tra, số
hai, NNL được hiểu là tổng thể nguồn lực cá nhân của từng con người. Với tư cách là
một nguồn lực trong quá trình phát triển, NNL có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất
và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một
thời điểm nhất định.
Theo lý thuyết phát triển, NNL theo nghĩa rộng là nguồn lực con người của một
quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh), nó là một bộ phận cấu thành các nguồn lực,
có khả năng lao động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển KT – XH như
nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính.
Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân lực được đề cập đến với tư
cách là một yếu tố của LLSX chủ yếu, sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ. Ở đây con
người được xem xét từ góc độ là những LLLĐ cơ bản nhất trong xã hội. Việc cung cấp
đầy đủ và kịp thời LLLĐ theo nhu cầu của nền kinh tế là vấn đề quan trọng nhất đảm
bảo tốc độ tăng trưởng sản xuất và dịch vụ.
Trong lý luận về vốn người, NNL trước hết như một yếu tố của quá trình sản
xuất, một phương tiện để phát triển KT – XH. Ngoài ra, lý luận về “vốn người” còn
xem xét con người về quan điểm nhu cầu về các nguồn lực của phát triển. Đầu tư cho
con người được phân tích tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng
hiệu quả của đầu tư này, hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ đầu tư đó.
Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn người, bao gồm thể lực,
trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, ý thức… do một cá nhân sở hữu. Do đó, đầu tư cho con
SVTH: Hồ A Vơ
12
Chuyên đề tốt nghiệp
người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn
cho sự phát triển bền vững.
Liên Hợp Quốc quan niệm: NNL là tất cả những kiến thức, các kỹ năng, kinh
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo có quan hệ với sự phát triển của đất nước. Đây là
Chuyên đề tốt nghiệp
Như vậy, Lực lượng lao động bao gồm những người có việc làm (trong tuổi lao
động và trên tuổi lao động) và những người chưa có việc làm nhưng đang tìm việc làm
(thất nghiệp).
Lực lượng lao động không bao gồm những người trong tuổi lao động nhưng nằm
trong các tình trạng: làm nội trợ chính trong gia đình, học sinh, sinh viên, những người
không có nhu cầu làm việc…
Tóm lại, nguồn nhân lực bao hàm cả lực lượng lao động.
1.1.2. Phân loại NNL
Tùy theo góc độ nghiên cứu mà người ta phân loại nguồn nhân lực theo các tiêu
thức khác nhau:
Căn cứ vào nguồn gốc hình thành, người ta chia nguồn nhân lực thành 3 loại chính:
Nguồn nhân lực có sẵn trong dân cư bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có làm việc hay không
làm việc. Độ tuổi lao động là giới hạn về những điều kiện cơ thể, tâm lý – sinh lý xã
hội mà con người tham gia vào quá trình lao động. Tùy thuộc vào điều kiện KT – XH
và trong từng thời kỳ của từng nước mà mỗi nước quy định giới hạn độ tuổi lao động
khác nhau. Ở nước ta, giới hạn độ tuổi lao động được quy định: Số tuổi thanh niên
bước vào độ tuổi lao động là 15 tuổi (giới hạn dưới); Độ tuổi về hưu đối với nam là 60
tuổi và đối với nữ là 55 tuổi (giới hạn trên).
NNL tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế) là số người có
công ăn việc làm, đang hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa xã hội.
NNL dự trữ: Bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì nhiều lý do
khác nhau, họ chưa tham gia hoạt động kinh tế và khi cần có thể huy động được. Bao
gồm: Những người làm công việc nội trợ gia đình (phần lớn là phụ nữ, khi có điều
kiện thì họ sẽ tham gia hoạt động kinh tế nếu muốn); Những người tốt nghiệp ở các
trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp (được coi là nguồn nhân lực dự trữ
quan trọng và có chất lượng); Nguồn nhân lực đã đến tuổi lao động, chưa học hết
1.1.3. Vai trò của nguồn nhân lực và mối quan hệ của phát triển NNL với phát
triển KT – XH
1.1.3.1. Vai trò của nguồn nhân lực
Mối quan hệ giữa NNL với phát triển kinh tế thì NNL luôn luôn đóng vai trò
quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế.
SVTH: Hồ A Vơ
15
Chuyên đề tốt nghiệp
Thứ nhất là, NNL là một trong những yếu tố chủ chốt, quyết định quá trình tăng
trưởng và phát triển KT – XH. NNL, NLĐ là nhân tố quyết định việc khai thác, sử
dụng, bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên
thiên nhiên, cơ sở vật chất kĩ thuật, KH – CN… có mối quan hệ mật thiết với nhau,
nhưng trong đó NNL được xem là năng lực nội sinh chi phối phát triển KT – XH của
mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám
có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng
hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát
huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả. Vì vậy con người với
tư cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung
tâm của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai là, NNL đặc biệt là NNL chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết
định sự thành công của sự nghiệp CNH – HĐH. Đối với nước ta CNH – HĐH là một
quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khi nước
ta đang bước vào giai đoạn CNH –HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều
kiện kinh tế xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng NNL có ý nghĩa quyết
định tới sự thành công của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ
vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế mà còn trong các lĩnh vực hoạt động
khác. Bởi vậy phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là
người lao động sản xuất mà còn với tư cách là một công dân trong xã hội, một cá nhân
trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại…không thể thực hiện được
CNH,HĐH nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà
khoa học, kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo
vác, những nhà lãnh đạo, quản lý tận tụy, biết nhìn xa trông rộng. Ngoài ra NNL là
điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh
sự nghiệp CNH, HĐH đất nước nhằm phát triển bền vững.
1.1.3.2. Mối quan hệ của phát triển NNL với phát triển KT – XH
Nguồn nhân lực có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đối với sự phát triển KT –
XH của mỗi đất nước. Nếu NNL có chất lượng cao, tốc độ phát triển hợp lý và có quy
mô vừa phải phù hợp với yêu cầu phát triển KT – XH trong từng giai đoạn thì nó sẽ
thúc đẩy KT – XH phát triển và ngược lại, chúng sẽ kìm hãm sự phát triển. Tuy nhiên
trong thực tế: Những nơi kinh tế phát triển lại thường không đáp ứng đủ nhu cầu trong
khi những nơi kém phát triển NNL lại tăng nhanh, quy mô lớn dẫn đến tình trạng thừa,
thiếu lao động giữa các khu vực. Việc tăng hoặc giảm NNL tùy thuộc vào quy mô và
tốc độ tăng dân số của từng nước trong từng thời kỳ. Thường thấy ở các nước có kinh
tế phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao, mức sinh thấp, thiếu NNL do tăng
trưởng và phát triển nền kinh tế. Trong khi đó, ở các nước chậm phát triển, mức sống
SVTH: Hồ A Vơ
17
Chuyên đề tốt nghiệp
dân cư thấp, mức sinh cao, tốc độ tăng NNL cao và thường có các đặc trưng sau: NNL
đông đảo về số lượng nhưng chưa được sử dụng hết; giữa nguồn nhân lực và các yếu
tố quan trọng khác cho phát triển kinh tế (như vốn, công nghệ, trang thiết bị…) không
phù hợp; CLNNL bị hạn chế.
Chuyên đề tốt nghiệp
rõ vị trí nền tảng, vai trò then chốt của GD – ĐT đối với công cuộc xây dựng và phát
triển đất nước. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, một trong những yếu tố tạo nên
sự phát triển bền vững, sự tiến bộ vượt bậc cho mỗi quốc gia là GD – ĐT. Mức độ
phát triển của GD – ĐT tác động đến cả quy mô và chất lượng của NNL.
Đối với quy mô NNL: Khi hệ thống GD – ĐT phát triển ở mức độ cao thì tỷ lệ
dân cư tham gia học tập tăng lên, số năm đi học của mỗi người tăng lên, do tỷ lệ lao
động đã qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật được nâng lên. Mức độ phát triển của GD –
ĐT càng cao thì quy mô NNL có chuyên môn kỹ thuật càng được mở rộng. GD – ĐT
tác động đến giảm mức sinh, bởi nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật làm
thay đổi nhận thức về sinh đẻ, số con và thời điểm sinh con.
Đối với chất lượng nguồn nhân lực: Mức độ phát triển của GD – ĐT là một trong
những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLNNL bởi nó không chỉ quyết định đến
trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật của người lao động mà còn quyết định đến sức
khỏe, tuổi thọ của người dân thông qua các yếu tố thu nhập, mức sống, nhận thức và
xử lý thông tin kinh tế xã hội, thông tin khoa học, … Các tác động chính của sự phát
triển GD – ĐT đối với chất lượng NNL gồm:
- Mức độ phát triển của GD – ĐT càng cao thì quy mô NNL có trình độ chuyên
môn kỹ thuật ngày càng mở rộng, bởi GD – ĐT là nguồn gốc cơ bản để nâng cao tỷ lệ
lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của nền kinh tế.
- Mức độ phát triển của GD – ĐT càng cao thì càng có khả năng nâng cao chất
lượng theo chiều sâu của NNL. Điều này thể hiện ở chỗ, một trong những tiêu chí của
phát triển GD – ĐT là nâng cao chất lượng đầu ra của học sinh, sinh viên của các
trường: trong nền GD – ĐT có trình độ phát triển cao thì chất lượng đầu ra được đảm
bảo, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và của xã hội. Đây chính là yêu cầu
đang đặt ra bức xúc với NNL. Và để nâng cao được chất lượng đầu ra của GD – ĐT
thì yêu cầu đặt ra là phải không ngừng nâng cao trình độ của hệ thống GD – ĐT ngang
tầm với các nước tiên tiến trên thế giới.
từ đó nâng cao được sức khỏe cho người dân cũng như NNL. Các cơ chế chính sách
trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân phù hợp sẽ tạo điều kiện cho
người lao động ở mọi tầng lớp đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, khám, chăm
sóc sức khỏe. Như chế độ bảo hiểm y tế đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối tượng
thương bệnh binh, người khuyết tật, học sinh sinh viên… Tất cả điều này sẽ có sự tác
động đến chất lượng nguồn nhân lực trên một phạm vi rộng.
SVTH: Hồ A Vơ
20
Chuyên đề tốt nghiệp
* Dân số
Dân số của một quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với quy mô NNL, là cái gốc sản
sinh ra NNL. Quy mô của dân số phụ thuộc vào tỷ suất tăng tự nhiên của dân số, do đó
quy mô NNL cũng phụ thuộc vào tỷ suất tăng dân số tự nhiên.
Sự vận động của dân số, tái sản xuất dân số là cơ sở tự nhiên của sự hình thành
NNL và quan hệ giữa tốc độ tăng NNL là tỷ lệ thuận. Mối quan hệ này chỉ được biểu
hiện sau một thời gian nhất định, tuỳ thuộc vào quy định độ tuổi NNL của một quốc
gia. Đối với đa số các nước, tỷ suất sinh của một năm sẽ tác động đến quy mô nguồn
nhân lực sau 15 đến 16 năm sau, có nghĩa là những người sinh ra sau 15 -16 năm
không bị khiếm khuyết về thể lực và tinh thần sẽ bước vào độ tuổi lao động và thuộc
NNL. Tỷ suất sinh không những tác động đến quy mô NNL mà còn tác động đến cơ
cấu NNL. Các mô hình phát triển dân số và tác động của nó đến cơ cấu quy mô NNL
trên thế giới hiện nay như sau:
- Nhóm các nước phát triển có trình độ dân trí rất cao, quy mô gia đình thường
không lớn (trên dưới 1 con) làm cho tỷ lệ tăng dân số thấp, tỷ lệ tăng dân số bình quân
thấp, không tăng hoặc giảm nên cơ cấu dân số thay đổi theo xu hướng già hóa dân số.
Xu hướng này tác động đến quy mô và cơ cấu NNL, trong đó nhân lực trẻ tuổi chiếm
tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu lao động, đồng thời có xu hướng tăng nhân lực cao tuổi.
trình độ cao đa số là lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật.
Khi nền kinh tế phát triển cao, tăng trưởng đầu tư cho nền sản xuất xã hội làm gia
tăng số việc làm cho NNL. Việc đầu tư sẽ trang bị thêm nhiều KHCN hiện đại về cả
mặt phương tiện kỹ thuật cũng như môi trường làm việc được nâng cấp hơn. NLD
ngày càng tiếp cận gần hơn với những công việc có chất lượng cao, thu nhập ổn định.
Điều này tạo nên một đời sống vật chất, tinh thần tốt hơn cho người lao động, chất
lượng NNL được nâng cao rõ rệt. Ngoài ra, tăng trưởng đầu tư còn kéo theo sự dổi
mới công nghệ và có tác động tích cực đến chất lượng NNL. Sự phát triển KT – XH
với đặc trưng là thực hiện các quá trình đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh và
quản lý, từ đó bắt buộc nhà nước, cơ quan, doanh nghiệp, hộ gia đinh phải đầu tư tài
chính nhiều hơn vào việc nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật cho người
lao động. Chỉ như vậy mới nâng cao được hiệu quả lao động, tăng khả năng cạnh tranh
và người lao động mới có cơ hội tìm được việc làm trên thị trường lao động như mong
muốn của họ. Quá trình này có mối quan hệ chặt chẽ với hoàn thiện NNL, là động lực
mạnh mẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng NNL quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến CLNNL. Tăng trưởng và phát triển
kinh tế có mối quan hệ mật thiết với thúc đẩy quá trình phân công lại lao động theo
ngành nghề ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từng vùng và từng địa phương.
SVTH: Hồ A Vơ
22
Chuyên đề tốt nghiệp
Đây cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng tỷ trọng GDP
của các ngành CN – XD – DV, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp. Đối với lao
động chuyển dịch cơ cấu kinh tế có tác động thúc đẩy tỷ trọng lao động cho các
ngành CN – XD – DV tăng lên, đồng thời tỷ trọng lao động làm việc trong ngành
nông nghiệp giảm xuống.
Công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất
* Yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc.
Yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc có sự tác động ảnh hưởng từ bên trong chất
lượng NNL. Một trong những bí quyết thành công của nhân loại trong phát triển nâng
cao CLNNL gắn liền với yếu tố văn hoá truyền thống dân tộc đó là phải biết kế thừa
và chọn lọc những tinh hoa của nền văn minh nhân loại với giữ gìn bản sắc dân tộc.
Điều này được thể hiện qua nền giáo dục của từng quốc gia phải mang đầy đủ các yếu
tố văn hoá, truyền thống của các dân tộc sinh sống trên đó. Nền văn hoá, truyền thống,
phong tục tập quán, lối sống của một cộng đồng một xã hội được hình thành cả hàng
ngàn năm lịch sử. Nó là đặc trưng, niềm tự hào của từng vùng miền, từng quốc gia
khác nhau trên từng thế giới, trở thành bản sắc văn hoá riêng của từng dân tộc. Những
truyền thống văn hoá đó ăn sâu trong mỗi người ngay từ lúc nhỏ, lớn lên những bản
sắc truyền thống dân tộc, truyền thống lối sống gia đình đó sẽ thay đổi, sẽ theo mỗi
người trong lối sống, cách ứng xử, phong cách làm việc. Và như vậy nó có sự ảnh
hưởng sâu sắc đến chất lượng NNL, cũng như có sự tác động tích cự hay tiêu cực
trong việc nâng cao LNNL
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá NNL
1.2.2.1. Số lượng
Số lượng NNL được xác định bởi các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng trưởng
của NNL. Quy mô NNL được hiểu là tổng số người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động được xác định tại một thời điểm nhất định. Quy mô NNL ở các thời
điểm khác nhau thì khác nhau. Nó phụ thuộc vào quy mô dân số và tốc độ tăng dân số.
Quy mô và dân số càng lớn thì quy mô và NNL càng lớn và ngược lại.
Tốc độ tăng nguồn nhân lực tại một thời kỳ là sự chênh lệch về quy mô NNL tại
thời điểm đầu và thời điểm cuối của thời kỳ, tính bằng phần trăm so với NNL ở thời
kỳ đầu và thường được quy về một năm. Tốc độ tăng NNL phụ thuộc vào tốc độ tăng
dân số, tốc độ tăng dân số càng cao thì tốc độ tăng NNL càng cao và ngược lại.
Cơ cấu NNL là sự phân chia toàn bộ NNL thành các bộ phận khác nhau theo các
tiêu thức khác nhau tạo nên cơ cấu NNL, các đặc trưng chủ yếu để phân chia là: Độ
tuổi, giới tính, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, khu vực,…[2]
+ Số người có trình độ ĐH và trên ĐH,…
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL (còn gọi là NNLCLC):
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết, kiến thức và kỹ năng thực hành về một
nghề nghiệp nhất định. Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả năng thực hành về
chuyên môn nào đó, nó thể hiện được trình độ đào tạo ở các trường THCN, CĐ, ĐH
SVTH: Hồ A Vơ
25