phát triển nguồn nhân lực ở huyện phong điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 14






 
!"#$%&'
()*+(,-./0-123-4 5( +(,-6.78.(9-4
.5:,;<-5=- 1>?@-.A"B-1C
0D4EE
Huế, 5/2014
Khúa lun tt nghip i hc GVHD: ThS. Lờ Vn Sn
Lời Cảm Ơn!
Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu đề tài Phát triển nguồn nhân lực ở
huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Thì đến nay, tôi đã hoàn thành đề tài
Khóa luận tốt nghiệp của mình.
Và để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này thì đầu tiên tôi xin đợc gửi lời cám
ơn đến ban lãnh đạo trờng Đại học Kinh tế Huế, ban chủ nhiệm khoa Kinh tế
Chính trị đã tạo điều kiện tốt nhất giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành đề tài này. Tôi
cũng xin đợc gửi những lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong trờng Đại học Kinh tế
Huế những ngời đã trực tiếp truyền đạt bồi dỡng kiến thức cho tôi trong quá trình
học tập. Với vốn kiến thức đợc tiếp thu trong quá trình học tập, không chỉ là nền
tảng cho quá trình nghiên cứu đề tài mà còn là hành trang quý báu để tôi bớc vào
đời một cách vững chắc và tự tin. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo, Th.S
Lê Văn Sơn đã hớng dẫn tôi hoàn thành đề tài này với tất cả tinh thần, trách nhiệm
và sự tận tâm nhiệt tình chỉ bảo.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Phòng Nông Nghiệp, Phòng Lao động
TB&XH, Phòng Nội vụ, Chi cục thống kê huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế và đông đảo ngời dân trong huyện đã nhiệt tình, tạo điều kiện thuận lợi nhất
giúp tôi trong thời gian thực tập và nghiên cứu và điều tra. Xin gửi lời cám ơn chân
thành anh Nguyễn Hoàng Ngọc Minh, cán bộ Phòng Lao động TB&XH huyện

NOH 4 Công nghiệp – Xây dựng
 4 Nông nghiệp
H; 4 Dịch vụ
H;NF 4 Dịch vụ - Thương mại
 4 Tiểu thủ công nghiệp
 4 Nguồn lao động
 4 Nguồn nhân lực
 4 Chất lượng nguồn nhân lực
 4 Nguồn nhân lực chất lượng cao
 : Phát triển nguồn nhân lực
5O 4 Lực lượng sản xuất
 4 Lực lượng lao động
5 4 Năng suất lao động
O 4 Xuất khẩu lao động
5 4 Trung học cơ sở
 4 Trung học phổ thông
 4 Đại học
 4 Cao đẳng
IH 4 Ủy ban nhân dân
NIPO : Lao động – Thương binh & Xã hội
H5N 4 Dân số - Kế hoạch hóa gia đình
 4 Công nhân kĩ thuật
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
iii
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
HFGIJ
IQ-1R:S4FT6UV8.W6(,>2X-UV.*-1(Y-Z>C8)8-<[::::::::::::::::::::::::::::::::::::R\
IQ-1R:R4]-1.^D1()6_AUQ-`>a66.b*1()6.786B6c-<[RddefB--<[SdSg Re
IQ-1R:g4=8a>-1h i( 6B.>?9-.*-1(Y-::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::::Re
IQ-1R:E4j>6/8.*1()*2k8$?6B6_*-16]-18.(-1X-U)8.8lC.>?9-.*-1

Trong quá trình phát triển KT – XH, nguồn lực cơ bản của mỗi quốc gia bao
gồm: vốn, NNL, tài nguyên thiên nhiên, KH – CN,… Trong đó, NNL giữ vai trò quan
trọng và có tính chất quyết định nhất trong sự tăng trưởng và phát triển KT – XH của
mọi quốc gia. Các nguồn lực khác kể cả tài nguyên và vốn nếu không sử dụng hiệu
quả thì sẽ dần cạn kiệt, nhất là tài nguyên thiên nhiên; trong khi đó thì nguồn lực của
con người có khả năng phục hồi và tái sinh, xét dưới khía cạnh xã hội tổng thể thì
nguồn lực con người không bao giờ cạn kiệt. Hơn thế nữa, NNL là yếu tố không thể
thiếu để khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. NNL càng có ý nghĩa hết sức quan
trọng cho sự phát triển của đất nước khi nền kinh tế toàn cầu đang trong xu thế chuyển
dịch sang nền kinh tế tri thức, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KH – CN, đặc biệt
là sự bùng nổ của công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.
Thực hiện đường lối Đổi mới nhằm mục tiêu phát triển KT – XH, Đảng và Nhà
nước ta luôn xác định con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển KT – XH.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (năm 2011) khẳng định: “Phát triển và nâng cao
CLNNL nhất là NNLCLC là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh
phát triển và ứng dụng KH – CN, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho phát triển nhanh, hiệu
quả và bền vững… Đào tạo NNL đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và
trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề ”[7] Sau hơn 25 năm đổi mới, Việt
Nam đã đạt được những thành tựu như tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức ổn định
so với các nước trong khu vực và trên thế giới, vị thế trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, một trong những yếu tố
chính tạo nên những thành tựu đó là nhờ PTNNL.
Phong Điền là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh T.T. Huế. Dân số toàn huyện năm
2013 là 100405 người, gồm 15 xã,1 thị trấn với tổng số 25058 hộ. Trong đó 4 xã thuộc
diện đặc biệt khó khăn với 1785 hộ nghèo chiếm 7,12% tổng số hộ của huyện. Trong
những năm qua nền kinh tế trên địa bàn đã có nhiều bước phát triển nổi bật bộ mặt nông
thôn đã có sự thay đổi rõ rệt, nhờ sự nỗ lực không ngừng về mọi mặt của các cấp ban
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
6

Thừa Thiên Huế.
g:V(6/^-1+hD.m[+(-1.(,-8{>8lCfY6h(
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
7
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
Đối tượng nghiên cứu là các yếu tố kinh tế, xã hội và các chính sách tác động đến
sự PTNNL huyện Phong Điền cũng như vai trò của PTNNL đối với phát triển KT –
XH ở huyện Phong Điền, tỉnh T.T. Huế.
Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Địa bàn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên
Huế. Thời gian: Nghiên cứu thực trạng PTNNL giai đoạn 2009 - 2013 và đưa ra định
hướng, giải pháp PTNNL cho giai đoạn 2014 - 2020.
E:./=-1D.)D-1.(,-8{>8lCfY6h(
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử; Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp bằng phương pháp điều tra, số
liệu thứ cấp thu thập từ cơ quan nhà nước đã qua kiểm duyệt; Phương pháp phân tích
tổng hợp.
n:„-1.uC8lCfY6h(
Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm lý luận về NNL, PTNNL, giúp
chính quyền địa phương nắm rõ về thực trạng, rà soát lại hiệu quả của việc PTNNL
trong phát triển KT – XH ở địa phương và có thể tham khảo các giải pháp mà đề tài
đưa ra nhằm đẩy nhanh và có hiệu quả của công tác này. Đề tài cũng có thể làm tài
liệu tham khảo cho những ai quan tâm, nghiên cứu vấn đề này đặc biệt là sinh viên
ngành kinh tế chính trị.
o:B68a>fY6h(
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về NNL và PTNNL ở nước ta hiện nay.
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp PTNNL ở huyện Phong Điền, tỉnh T.T. Huế.
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
8
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn

Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng: NNL là toàn bộ vốn người, bao gồm thể lực,
trí lực, kĩ năng nghề nghiệp, ý thức,… do một cá nhân sở hữu. Do đó, đầu tư cho con
người là đầu tư quan trọng nhất trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn
cho sự phát triển bền vững. [16]
Liên Hợp quốc quan niệm: NNL là tất cả những kiến thức, các kĩ năng, kinh
nghiệm, năng lực và tính sáng tạo có quan hệ với sự phát triển của đất nước. Đây là
yếu tố quan trọng nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội của một quốc gia.
Theo GS. Phạm Minh Hạc thì NNL được hiểu là số dân và chất lượng con người,
bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất, thái độ và
phong cách làm việc.[9, 19]
Như vậy dựa vào các quan niệm trên chúng ta có thể hiểu “NNL của một quốc
gia, một vùng lãnh thổ là tổng thể khả năng và năng lực của dân cư nơi đó có thể tham
gia vào quá trình lao động ở hiện tại và tương lai để sản xuất ra hàng hóa và sản phẩm
cho xã hội”. Khả năng và năng lực tham gia ở đây chính là việc sẵn sàng hoặc không
sẵn sàng tham gia lao động và là tổng thể năng lực về tổng thể các yếu tố thể lực, trí
tuệ và tâm lực của vốn dân cư có thể đáp ứng được yêu cầu phát triển KT – XH đất
nước. Nguồn lực con người được thể hiện thông qua số lượng dân cư chất lượng con
người. Như vậy thì có thể nói NNL không chỉ bao gồm chất lượng hiện tại mà còn bao
hàm cả nguồn cung cấp nhân lực trong tương lai.
1.1.1.2. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
PTNNL là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện và nâng cao CLNNL và điều
chỉnh hợp lý số lượng NNL.
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO),
PTNNL là làm cho toàn bộ sự làm nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ
với sự phát triển của đất nước.
Theo Tổ chức Lao động thế giới (ILO), PTNNL là chiếm lĩnh trình độ làm nghề
và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm
hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân hay PTNNL là quá
trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL ngày càng đáp ứng tốt hơn
yêu cầu của nền KT – XH.[2, 93]

NNL tham gia vào hoạt động kinh tế (dân số hoạt động kinh tế) là số người có
công ăn việc làm, đang hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế và văn hóa xã hội.
NNL dự trữ: bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì nhiều lý do
khác nhau, họ chưa tham gia hoạt động kinh tế và khi cần có thể huy động được. Bao
gồm: Những người làm công việc nội trợ gia đình (phần lớn là phụ nữ, khi có điều
kiện thì họ sẽ tham gia hoạt động kinh tế nếu muốn); Những người tốt nghiệp ở các
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
11
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
trường phổ thông và các trường chuyên nghiệp (được coi là NNL dự trữ quan trọng và
có chất lượng); NNL đã đến tuổi lao động, chưa học hết THPT, không tiếp tục học
nữa, muốn tìm việc làm; NNL ở độ tuổi lao động đã tốt nghiệp ở các trường chuyên
nghiệp (trung cấp, cao đẳng, đại học) thuộc các chuyên môn khác nhau đang tìm việc
làm; Những người trong độ tuổi lao động đang bị thất nghiệp muốn tìm việc làm;
Những người thuộc tình trạng khác như lực lượng vũ trang đã xuất ngũ, lao động ở
nước ngoài về, những người nghỉ hưu sớm,…
Căn cứ vào vị trí của bộ phận NNL, NNL được chia thành 3 loại:
NNL chính: là NNL có năng lực lao động lớn nhất, đảm đương chủ yếu các quá
trình hoạt động KT - XH của đất nước. Đây chính là NNL trong độ tuổi lao động.
NNL phụ: là NNL tùy theo sức của mình có thể tham gia vào các hoạt động kinh
tế với thời gian nhất định; là bộ phận dân cư nằm ngoài độ tuổi lao động.
NNL bổ sung: là bộ phận NNL được bổ sung từ các nguồn khác, sẵn sàng tham
gia làm việc, như số người trong độ tuổi lao động tốt nghiệp ra trường, số người hết
hạn nghĩa vụ quân sự, lao động ở nước ngoài về,…
Hiện nay, người ta dùng thêm khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao
(NNLCLC) để chỉ một bộ phận người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao,
có thể thích ứng với sự phát triển khoa học công nghệ hiện đại. Giữa CLNNL và
NNLCLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nói đến CLNNL là muốn nói đến tổng
thể NNL của một quốc gia, trong đó NNLCLC là bộ phận cấu thành đặc biệt quan
trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về NNLCLC không

của mình trong lao động xã hội. Sức khỏe là sự phát triển hài hòa của con người cả về
thể chất lẫn tinh thần. Theo Tổ chức Y tế thế giới “Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn
thoải mái về thể chất, tinh thần chứ không chỉ không có bệnh tật hay thương tật”.
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ học vấn của NNL: Trình độ học vấn của NNL là trạng thái
hiểu biết cao hay thấp của người lao động đối với những kiến thức phổ thông về tự nhiên và
xã hội mà cơ sở quyết định của nó là trình độ học vấn của dân cư. Trình độ học vấn của
NNL là một chỉ tiêu hết sức quan trọng phản ánh CLNNL và có tác động mạnh mẽ tới quá
trình phát triển KT – XH. Trình độ học vấn được thể hiện qua các quan hệ tỷ lệ:
 Số người biết chữ và chưa biết chữ;
 Số người có trình độ tiểu học;
 Số người có trình độ THCS;
 Số người có trình độ THPT;
 Số người có trình độ ĐH và trên ĐH,…
Chỉ tiêu biểu hiện trình độ chuyên môn kĩ thuật của NNL (còn gọi là nguồn nhân
lực chất lượng cao): Trình độ chuyên môn kĩ thuật là sự hiểu biết, kiến thức và kĩ năng
thực hành về một nghề nghiệp nhất định. Trình độ chuyên môn là sự hiểu biết, khả
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
13
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó thể hiện được trình độ đào tạo ở các trường
trung học chuyên nghiệp, CĐ, ĐH và sau ĐH, có khả năng chỉ đạo, quản lý một công
việc thuộc một chuyên môn nhất định. Trình độ chuyên môn NNL được đo bằng:
 Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề;
 Tỷ lệ lao động trung cấp;
 Tỷ lệ lao động cao đẳng, đại học;
 Tỷ lệ lao động trên đại học,…
Trình độ kĩ thuật của người lao động thường dùng để chỉ trình độ của người được
đào tạo ở các trường kĩ thuật, được trang bị kiến thức nhất định, những kĩ năng về thực
hành công việc nhất định. Trình độ kĩ thuật được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
 Số lao động được đào tạo và lao động phổ thông;

luôn chiếm vị trí quan trọng. Ngày nay, không một quốc gia nào trên thế giới lại không
thấy rõ vị trí nền tảng, vai trò then chốt của GD – ĐT đối với công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước.Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, một trong những yếu tố tạo
nên sự phát triển bền vững, sự tiến bộ vượt bậc cho mỗi quốc gia là GD – ĐT. Mức độ
phát triển của GD – ĐT tác động đến cả quy mô và chất lượng của NNL.
Đối với quy mô NNL: Khi hệ thống GD – ĐT phát triển ở mức độ cao thì tỷ lệ
dân cư tham gia học tập tăng lên, số năm đi học của mỗi người tăng lên, do đó tỷ lệ lao
động đã qua đào tạo chuyên môn kĩ thuật được nâng lên. Mức độ phát triển của GD –
ĐT càng cao thì quy mô NNL có chuyên môn kĩ thuật càng được mở rộng. GD – ĐT
tác động đến giảm mức sinh, bởi, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật làm
thay đổi nhận thức về sinh đẻ, số con và thời điểm sinh con.
Đối với chất lượng NNL: Mức độ phát triển của GD – ĐT là một trong những
yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến CLNNL, bởi nó không chỉ quyết định đến trình
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
15
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật của người lao động mà còn quyết định đến sức khỏe,
tuổi thọ của người dân thông qua các yếu tố thu nhập, mức sống, nhận thức và xử lý
thông tin kinh tế xã hội, thông tin khoa học,… Các tác động chính của phát triển GD –
ĐT đối với CLNNL gồm:
•Mức độ phát triển của giáo dục, đào tạo càng cao thì quy mô NNL có trình độ
chuyên môn kĩ thuật ngày càng mở rộng, bởi GD – ĐT là nguồn gốc cơ bản để nâng
cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kĩ thuật của nền kinh tế.
•Mức độ phát triển của GD – ĐT càng cao thì càng có khả năng nâng cao chất
lượng theo chiều sâu của NNL. Điều này thể hiện ở chỗ, một trong những tiêu chí của
phát triển GD – ĐT là nâng cao chất lượng đầu ra của học sinh, sinh viên của các
trường; trong nền GD – ĐT có trình độ phát triển cao thì chất lượng đầu ra được đảm
bảo, đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và của xã hội. Đây chính là yêu cầu
đang đặt ra bức xúc với NNL. Và để nâng cao được chất lượng đầu ra của GD – ĐT
thì yêu cầu đặt ra là phải không ngừng nâng cao trình độ của hệ thống GD – ĐT ngang

động ở mọi tầng lớp đều có khả năng tiếp cận với dịch vụ y tế, khám, chăm sóc sức
khỏe. Như chế độ BHYT đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, các đối tượng thương bệnh
binh, người khuyết tật, học sinh sinh viên… Tất cả điều này sẽ có sự tác động đến
CLNNL trên một phạm vi rộng.
 HX-UV
Dân số của một quốc gia có mối liên hệ chặt chẽ với quy mô NNL, là cái gốc sản
sinh ra NNL [23, 52]. Quy mô của dân số phụ thuộc vào tỷ suất tăng tự nhiên của dân
số, do đó quy mô NNL cũng phụ thuộc vào tỷ suất tăng dân số tự nhiên.
Sự vận động của dân số, tái sản xuất dân số là cơ sở tự nhiên của sự hình thành
NNL và quan hệ giữa tốc độ tăng NNL là tỷ lệ thuận. Mối quan hệ này chỉ được biểu
hiện sau một thời gian nhất định, tùy thuộc vào quy định độ tuổi NNL của mỗi quốc
gia. Đối với đa số các nước, tỷ suất sinh của một năm sẽ tác động đến quy mô NNL
sau 15-16 năm sau, có nghĩa là những người sinh ra sau 15-16 năm không bị khiếm
khuyết về thể lực và tinh thần sẽ bước vào độ tuổi lao động và thuộc NNL. Tỷ suất
sinh không những tác động đến quy mô NNL mà còn tác động đến cơ cấu NNL. Các
mô hình phát triển dân số và tác động của nó đến cơ cấu quy mô NNL trên thế giới
hiện nay như sau:
−Nhóm các nước phát triển có trình độ dân trí rất cao, quy mô gia đình thường
không lớn (trên dưới 1 con) làm cho tỷ lệ tăng dấn số thấp; tỷ lệ tăng dân số bình quân
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
17
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
thấp, không tăng hoặc giảm nên cơ cấu dân số thay đổi theo xu hướng già hóa dân số.
Xu hướng này tác động đến quy mô và cơ cấu NNL, trong đó nhân lực trẻ tuổi chiếm
tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu lao động, đồng thời có xu hướng tăng nhân lực cao tuổi.
−Nhóm một số nước Công nghiệp mới (NICs) và vùng lãnh đã đạt được trình độ
dân trí tương đối cao, kế hoạch dân số và gia đình đạt được thành tựu trong nhiều thập
kỷ, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên thấp. Tỷ trọng dân số trẻ tuổi của các nước này trong dân
số giảm hợp lý và tác động đến cơ cấu NNL theo hướng tạo ra quy mô và NNL hợp lý
hơn nhằm đáp ứng được cho quá trình phát triển KT – XH.

trình đổi mới công nghệ sản xuất kinh doanh và quản lý, từ đó bắt buộc Nhà nước, cơ
quan, doanh nghiệp, hộ gia đình phải đầu tư tài chính nhiều hơn vào việc nâng cao
trình độ học vấn, chuyên môn kĩ thuật cho người lao động. Chỉ như vậy mới nâng cao
được hiệu quả lao động, tăng khả năng cạnh tranh và người lao động mới có cơ hội tìm
được việc làm trên thị trường lao động như mong muốn của họ. Quá trình này có mối
quan hệ chặt chẽ với hoàn thiện NNL, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy nâng cao
CLNNL quốc gia.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tác động đến CLNNL. Tăng trưởng và phát triển kinh
tế có mối quan hệ mật thiết với thúc đẩy quá trình phân công lại lao động theo ngành
nghề ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân, từng vùng và từng địa phương. Đây
cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng tăng tỷ trọng GDP của các
ngành CN - XD và DV, giảm tỷ trọng của ngành NN. Đối với lao động, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế có tác động thúc đẩy tỷ trọng lao động trong các ngành CN –XD và DV
tăng lên, đồng thời tỷ trọng lao động làm việc trong ngành NN giảm xuống.
Công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao
CLNNL, là công cụ quan trọng góp phần giúp dân cư và người lao động tiếp cận tri
thức, thông tin,… thúc đẩy tăng NSLĐ. Trong cuộc cạnh tranh kinh tế, máy tính, tin
học tác động phổ biến đến tính chất và nội dung của điều kiện lao động, từ đó thúc đẩy
nâng cao CLNNL, NNL thích ứng ngày càng tốt hơn đối với nền sản xuất hiện đại và
tạo khả năng, cơ hội để hội nhập nhanh chóng lao động nước ta với lao động các nước
trên thế giới.
Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để Chính phủ các quốc gia nâng cao năng lực tài
chính để tăng đầu tư cho các chương trình mục tiêu về GD – ĐT, chăm sóc sức khỏe y
tế, phát triển văn hóa thể thao,… Nhờ đó mà quy mô GD – ĐT được mở rộng, chăm
sóc sức khỏe của dân cư và người lao động được cải thiện, đời sống tinh thần được
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
19
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
nâng cao. Các yếu tố này có tác động tích cực đến trình độ học vấn, chuyên môn kĩ
thuật, sức khỏe dân cư, người lao động, tức là tác động tích cực đến CLNNL.

q78+0(D.)66_(}-i( 6B`•.T(
1.2.1. Vai trò của nguồn nhân lực
Mối quan hệ giữa NNL với phát triển kinh tế thì NNL luôn luôn đóng vai trò
quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế.
Thứ nhất là, NNL là một trong những yếu tố chủ chốt quyết định quá trình tăng
trưởng và phát triển KT – XH. NNL, NLĐ là nhân tố quyết định việc khai thác, sử dụng,
bảo vệ và tái tạo các nguồn lực khác. Giữa nguồn lực con người, vốn, tài nguyên thiên
nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, KH – CN,… có mối quan hệ mật thiết với nhau, nhưng
trong đó NNL được xem là năng lực nội sinh chi phối quá trình phát triển KT – XH của
mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng đầu là trí tuệ, chất xám
có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết bồi dưỡng, khai thác và sử dụng
hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến đâu cũng chỉ là yếu tố có hạn và chỉ phát
huy được tác dụng khi kết hợp với NNL một cách có hiệu quả. Vì vậy, con người với tư
cách là NNL, là chủ thể sáng tạo, là yếu tố bản thân của quá trình sản xuất, là trung tâm
của nội lực, là nguồn lực chính quyết định quá trình phát triển KT – XH.
Thứ hai là, NNL đặc biệt là NNLCLC là một trong những yếu tố quyết định sự
thành công của sự nghiệp CNH, HĐH. Đối với nước ta CNH, HĐH là một quá trình
tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Khi nước ta đang bước vào
giai đoạn CNH, HĐH rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện KT – XH còn
thấp, do đó yêu cầu nâng cao CLNNL có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước và phát triển bền vững.
Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trên các trụ cột chủ yếu là công nghệ
thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,… Để có được nền kinh tế tri
thức cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc để phát triển KH – CN, đặc biệt là
công nghệ thông tin; đồng thời phải đầu tư cho PTNNL. Suy cho cùng tri thức là hệ
quả, tất yếu của sự PTNNL. Các nước muốn phát triển nền kinh tế tri thức cần phải
đầu tư cho phát triển con người mà cốt lõi là phát triển GD – ĐT , đặc biệt là đầu tư
phát triển nhân tài. Nhờ đầu tư cho PTNNL mà nhiều nước chỉ trong một thời gian
ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển.
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga

KT – XH phát triển và ngược lại, chúng sẽ kìm hãm sự phát triển. Tuy nhiên, trong
thực tế: những nơi kinh tế phát triển NNL lại thường không đáp ứng đủ nhu cầu trong
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
22
Khóa luận tốt nghiệp đại học GVHD: ThS. Lê Văn Sơn
khi những nơi kém phát triển NNL lại tăng nhanh, quy mô lớn dẫn đến tình trạng thừa,
thiếu lao động giữa các khu vực. Việc tăng hoặc giảm NNL tùy thuộc vào quy mô và
tốc độ tăng dân số cũng từng nước trong từng thời kì. Thường thấy ở các nước kinh tế
phát triển đời sống nhân dân được nâng cao, mức sinh thấp, thiếu NNL do tăng trưởng
và phát triển kinh tế. Trong khi đó, ở các nước chậm phát triển mức sống dân cư thấp,
mức sinh cao, tốc độ tăng NNL cao và thường có các đặc trưng sau: NNL đông đảo về
số lượng nhưng chưa được sử dụng hết; Giữa NNL và các yếu tố quan trọng khác cho
phát triển kinh tế (như vốn, công nghệ, trang thiết bị, ) không phù hợp; CLNNL bị hạn
chế. [2, 61]
Vì thế, đối với những nước này, để sử dụng hết NNL hiện có nhằm phát triển KT
– XH phù hợp, cần có chiến lược phát triển KT – XH phù hợp, trong đó chiến lược
PTNNL, sử dụng đầy đủ và hợp lý NNL; tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần
để nâng cao CLNNL là những vấn đề hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển
KT – XH của mỗi quốc gia.
S:g:( -1.(9[D.)66_(}--1>€- X-8lC[T6UVfACD./=-1
 ( -1.(9[8lChŒ-1
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc trung ương có nền kinh tế phát triển trong khu
vực miền Trung Tây Nguyên. Trong thời gian vừa qua, Đà Nẵng được cả nước chú ý
bởi những chính sách về nhân lực khá đặc biệt so với nhiều tỉnh khác trên cả nước.
Qua nhiều năm áp dụng những biện pháp, chính sách mới, Đà Nẵng đã đạt được
những kết quả khả quan. Chính vì thế, những kinh nghiệm quý giá này cần được
nghiên cứu để ứng dụng những nội dung phù hợp vào tình hình T.T. Huế nói chung và
huyện Phong Điền nói riêng.
Chính sách về NNL của thành phố Đà Nẵng tập trung trước hết đó là vào khu
vực công, thể hiện ở hàng loạt chính sách quan trọng nhằm vào điều chỉnh và phát

Hương Trà là thị xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm trên trục quốc lộ 1A, là cửa
ngõ phía bắc của thành phố Huế với tổng dân số năm 2012 là 118.354 người. Trong
những năm gần đây, thị xã Hương Trà đã đạt được những thành tựu trong phát triển
kinh tế với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm giai đoạn 2008-2012 đạt
14,46%/năm. Để đạt được những thành tựu đó, một trong những chính sách mà thị xã
đã thực hiện thành công đó là PTNNL.
Nhận thức được tầm quan trọng của GD – ĐT , thị xã Hương Trà đã xác định:
Tiếp tục thực hiện mục tiêu nâng cao giáo dục toàn diện; lấy đổi mới căn bản giáo dục,
nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý làm khâu đột phá trong việc
thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục trên địa bàn. Thực hiện đổi mới chương trình,
SVTH: Nguyễn Thị Yến Nga
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status