Đề tài "Hoàn thiện chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở Huyện Đông Anh giai đoạn 2006-2010" - Pdf 19

Hoàn thiện chính sách đào tạo phát triển
nguồn nhân lực ở Huyện Đông Anh giai
đoạn 2006-2010
1
1
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu
Tóm tắt Luận văn
PHẦN MỞ ĐẦU 1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Con người là chủ thể của quá trình sản xuất - kinh doanh. Con người
khuôn mẫu gắn liền với hiệu quả của mọi quá trình lao động xã hội.
Nguồn nhân lực là tiềm năng lao động trong một thời kỳ xác định của
một quốc gia, cũng có thể xác định trên một địa phương, một ngành, hay một
vùng. Theo đó, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng
của bộ phận dân số có thể tham gia vào quá trình hoạt động kinh tế xã hội.
Tiềm năng lao động của con người bao trùm cả thể lực, trí lực và tâm lực
(như đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử văn hoá dân tộc).
Số lượng, chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động
kinh tế xã hội chính là số lượng, chất lượng của bộ phận dân số trong độ tuổi
đang có việc làm, chưa có việc làm nhưng có khả năng làm việc. Chất lượng
nguồn nhân lực để thể hiện bằng các chỉ tiêu: về tình trạng phát triển thể lực;
trình độ học vấn; kiến thức; tay nghề; tác phong nghề nghiệp; v.v Số lượng,
chất lượng nguồn nhân lực gắn bó chặt chẽ với quá trình đào tạo phát triển.
Quá trình đào tạo làm biến đổi nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và
cơ cấu nhằm phát huy, khơi dậy những tiềm năng của con người, thúc đẩy
phát triển con người về tri thức, kỹ năng, phẩm chất; thúc đẩy sáng tạo v.v
Trong những năm tới, yêu cầu CNH, HĐH, đô thị hoá nhanh của thủ đô
Hà Nội, đặc biệt ở một huyện ngoại thành như Đông Anh. Yêu cầu số lượng,

chung về đào tạo, giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất để phát
triển khu công nghiệp tập trung và đô thị mới. Đề tài cũng là tài liệu tham
khảo tốt đối với chúng tôi.
3. Mục đích nghiên cứu
3
3
Luận văn được triển khai với mục đích đề xuất những kiến nghị hoàn
thiện chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở huyện Đông Anh giai
đoạn 2006-2010 chủ yếu đối với nông dân, vùng Nhà nước thu hồi chuyển đổi
mục đích sử dụng đất.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề đào tạo phát triển nguồn nhân
lực của huyện Đông Anh, chủ yếu đối với nông dân vùng Nhà nước thu hồi
chuyển đổi mục đích sử dụng đất.
Thời gian nghiên cứu từ 2000-2010.
5. Luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: điều
tra, phân tích, khái quát hoá, v.v trong quá trình triển khai nghiên cứu.
6. Các đóng góp của luận văn
- Luận văn đã hệ thống hoá các vấn đề lí luận về nguồn lực, nguồn
nhân lực, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, đặt trong bối cảnh của một
huyện ngoại thành CNH, HĐH, đô thị hoá nhanh.
- Luận văn đã phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xã hội; thực trạng
nguồn nhân lực và thực trạng đào tạo phát triển nguồn nhân lực và các chính
sách thúc đẩy quá trình đó. Từ đó rút ra những nhận xét về thành công và
những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết, những yêu cầu phải hoàn thiện chính
sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực của huyện Đông Anh giai đoạn 2006-2010.
- Luận văn đã dự báo nhu cầu đào tạo, đề xuất 3 quan điểm và 3 yêu
cầu, các chính sách và nội dung cụ thể hoàn thiện chính sách, các kiến nghị về
điều kiện để thực hiện chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực của
huyện và hiệu quả cao. Điều cần nhấn mạnh là các dự báo, các đề xuất được

xã hội. Con người là trung tâm của sự phát triển xã hội. Trong học thuyết về
hình thái xã hội, Các Mác đã chỉ rõ tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại
được quy định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, trong đó, con
người là lực lượng quan trọng có tính quyết định và năng động nhất. Con
người là chủ thể của quá trình sản xuất, sáng tạo ra lịch sử.
Theo quan niệm kinh tế học thì con người khuôn mẫu gắn liền với hiệu
quả hoạt động kinh tế - xã hội của họ. Phục vụ con người là mục đích của sản
xuất. Nhưng con người lại là yếu tố động nhất, quyết định hiệu quả của mọi
quá trình lao động xã hội. Ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến nhanh như vũ
bão, thì vai trò của con người ngày càng quan trọng. Sức lao động là tổng hợp
thể lực và trí lực của con người. Nó chính là khả năng lao động của con
người.
Sức lao động tồn tại ngay trong chính bản thân người lao động dưới các
dạng sức cơ bắp, sức thần kinh, trí óc. Người sở hữu sức lao động, chính là
6
6
người tiêu dùng sức lao động. Trong quá trình sử dụng sức lao động khi có
các điều kiện về tư liệu sản xuất, đối tượng lao động, môi trường tự nhiên,
kinh tế, xã hội, pháp lý sức lao động mới biến thành hoạt động lao động. Do
đó, hoạt động lao động là quá trình sử dụng sức lao động xảy ra trong quá
trình lao động. Sự bù đắp các hao phí về sức cơ bắp, sức thần kinh thông qua
việc tiêu dùng tư liệu sinh hoạt vật chất, tinh thần và học tập.
b. Nguồn nhân lực: là tiềm năng về lao động trong một thời kỳ xác định
của một quốc gia, cũng có thể được xác định trên một địa phương, một ngành
hay một vùng (Bộ Lao động - Thương binh và xã hội: Thuật ngữ lao động -
Thương binh và xã hội. NXB Lao động - xã hội, Hà Nội, 1999, tr13). Theo
đó, nguồn nhân lực được xác định bằng số lượng và chất lượng của bộ phận
dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội.
Tiềm năng lao động của con người bao hàm cả thể lực, trí lực và tâm
lực (như đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống lịch sử văn hoá dân

Tình
trạng
khác
Không
có nhu
cầu làm
việc
Nội trợ
cho gia
đình
mình
Đi
học
Thất
nghiệp
Đang
làm việc
trong các
ngành
kinh tế
quốc dân
Lực lượng lao động
8
Nguồn nhân lực sẵn có trong dân cư
Nguồn nhân lực
dự trữ
Nguồn nhân lực tham gia trong hoạt động kinh tế
Đi học Nội trợ
Chưa có nhu cầu làm việc
Lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Lực lượng lao động đang thất nghiệp

những nét đặc trưng phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp đến
hoạt động sản xuất và phát triển con người. Những nét đặc trưng đó bao gồm:
những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo
đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực, thí dụ trạng thái sức khoẻ, trình
độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã
hội cũng như các lĩnh vực bảo đảm dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục,
đào tạo, lao động việc làm, trả công cũng như nhiều mối quan hệ xã hội khác.
Chất lượng là một đặc trưng quan trọng của nguồn nhân lực, cần vượt
trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất - kỹ thuật để sáng tạo, cũng như,
sẵn sàng đón nhận những tiến bộ kỹ thuật - công nghệ mới.
1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực
a) Bản chất của phát triển nguồn nhân lực
Có thể tìm hiểu vấn đề phát triển nguồn nhân lực theo các cách tiếp cận
khác nhau:
- Tiếp cận theo hướng tìm hiểu nội dung thì phát triển nguồn nhân lực
là quá trình gia tăng về số lượng; nâng cao về chất lượng của nguồn nhân lực
bao gồm ba nội dung cơ bản: phát triển quy mô và cơ cấu dân số thích hợp;
10
10
đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hoá, hiện đại hoá; giải quyết việc làm, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân
lực.
- Phát triển nguồn nhân lực đòi hỏi mỗi một thành viên của nguồn nhân
lực phải phát triển nhân cách; phát triển năng lực vật chất và năng lực tinh
thần; tạo dựng, hoàn thiện và ngày càng nâng cao cả về đạo đức và tay nghề;
cả tâm hồn và hành vi (tức là phải phát triển cả kiến thức lẫn kỹ năng; cả thể
lực lẫn tinh thần, đạo đức nhân cách…).
- Ở tầm vĩ mô phát triển nguồn nhân lực là tạo ra nguồn nhân lực có khả
năng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong từng thời kỳ phát triển
cả về mặt quy mô, cơ cấu số lượng và chất lượng. Tiếp cận theo tiêu chức

nông nghiệp giảm trong khi đất chuyên dùng phục vụ đô thị hoá tăng nhanh.
Cùng với xu hướng di cư từ nông thôn ra thành thị thì nhiều vùng nông thôn
bị đô thị hoá, lao động nông thôn chuyển thành lao động thành thị.
Vấn đề giải quyết việc làm cho lao động ở đô thị trở nên cấp bách. Cần
có những chính sách thích hợp để giải quyết nhu cầu này trong ngắn hạn và
trong dài hạn. Trong nông thôn cùng với việc phát triển nền nông nghiệp hàng
hoá, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ cùng phát triển. Cơ cấu ngành
nghề biến động, thúc đẩy quá trình đổi mới cơ cấu lao động, và đời sống kinh
tế xã hội nông thôn.
Năm, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn liền với quá trình
phân công sản xuất kinh doanh quốc tế. Thị trường lao động cũng được quốc
tế hoá. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để có thể hội nhập thị trường lao động
quốc tế.
b) Các nhân tố tác động đến quá trình phát triển nguồn nhân lực
Có ba nhóm nhân tố ảnh hưởng:
- Nhóm nhân tố "tự nhiên" gồm quy mô, cơ cấu và tốc độ tăng dân số.
Các nhân tố này được xem xét trong mối quan hệ qua lại giữa sự biến dộng
dân số, với nguồn nhân lực và giải quyết việc làm.
12
12
Quy mô dân số được biểu thị khái quát bằng tổng số dân cư của một
khu vực vào thời điểm nhất định. Quy mô dân số là nhân tố quan trọng là căn
cứ để hoạch định chiến lược phát triển. Mỗi một nước (cũng như một vùng,
địa phương) cần có một quy mô dân số thích hợp, tương thích với điều kiện tự
nhiên, cũng như trình độ phát triển kinh tế xã hội của mình.
Cơ cấu dân số thích hợp bảo đảm cho sự phát triển ổn định, được nhiều
nhà dân số học nhất trí: Tỷ lệ trẻ em dưới tuổi lao động là 26%÷28%; Tỷ lệ
người trong độ tuổi lao động là 60÷64%; Tỷ lệ người già trên độ tuổi lao động
là: 10÷12%. Muốn vậy, thì tỷ suất sinh (TFR) phải giữ ở mức thay thế.
Gia tăng dân số là cơ sở để hình thành và phát triển nguồn nhân lực.

chất lượng nguồn nhân lực, là cơ sở để phát triển. Tình trạng sức khoẻ và dinh
dưỡng tác động đến tuổi thọ trung bình.
Trình độ dân trí được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ người biết chữ; số
năm đi học bình quân (có thể chi tiết đến từng nhóm tuổi, giới tính) tình hình
giáo dục phổ thông, trung học chuyên nghiệp; cao đẳng đại học và đào tạo
công nhân kỹ thuật. Trình độ học vấn thể hiện mặt bằng dân trí. Trình độ học
vấn là cơ sở quan trọng để nâng cao trình độ và kỹ năng làm việc của người
lao động.
Trình độ học vấn nâng cao càng tạo thuận lợi mang tính nội sinh để
phát triển giáo dục, đào tạo nghề, là nhân tố quan trọng nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết, khả năng thực hành về
lĩnh vực ngành nghề nào đó của người lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực còn phụ thuộc vào quy mô, cơ cấu đội ngũ
học viên, sinh viên đang được đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học, học
nghề.
Các yếu tố về văn hoá truyền thống:
Yếu tố văn hoá và truyền thống dân tộc chi phối mạnh mẽ hành vi ứng
xử của con người trong công việc và cuộc sống, do đó, trực tiếp ảnh hưởng
14
14
đến tính cách, phẩm chất riêng của lao động mỗi vùng trong một nước, cũng
như từng bước. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ chế mới có tác dụng
tích cực như kích thích người lao động vươn lên, tích cực học tập, rèn luyện,
nâng cao trình độ nghề nghiệp thích ứng với đòi hỏi của thị trường; đồng thời
ma lực của đồng tiền ảnh hưởng đến nhân cách và lối sống, đến quan niệm và
nhận thức về trách nhiệm và nghĩa vụ. Do vậy, yếu tố văn hoá truyền thống
dân tộc ngày càng có vai trò quan trọng, góp phần tạo nên những con người
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, tay nghề, kỹ năng giỏi, đồng thời có tâm
hồn, tinh thần lành mạnh.

nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động. Khôi
phục phát triển các làng nghề, đẩy mạnh phong trào lập nghiệp của thanh niên
và đào tạo lao động có nghề. Tổ chức quản lý chặt chẽ hoạt động xuất khẩu
lao động…"(Báo cáo chính trị - ĐH IX trang 104).
Quan điểm giải quyết vấn đề trên là: Tạo lập, phát triển và sớm hoàn
thiện thị trường lao động. Văn kiện Đại hội IX nhấn mạnh: "Mở rộng thị
trường lao động trong nước có sự kiểm tra giám sát của Nhà nước, bảo vệ lợi
ích của người là và người sử dụng lao động. Đẩy mạnh xuất khẩu lao động có
tổ chức, có hiệu quả. Hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách tạo cơ hội
bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến
khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình độ đào tạo lại, học nghề
mới.
Để tạo nhiều việc làm (tăng cầu) Đảng ta chủ trương "giải phóng lực
lượng sản xuất", "thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần" các thành phần kinh tế cùng tham gia phát triển lực lượng sản
xuất, tạo nhiều chỗ làm việc, tăng thu nhập cho người lao động. Cụ thể là:
- Đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Một mặt, tiếp tục đưa nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp lên một trình độ
mới. Mặt khác, đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, các ngành nghề đa
dạng, chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng
16
16
nghề, chuyển một bộ phận quan trọng lao động nông nghiệp sang khu vực
công nghiệp và dịch vụ, tạo nhiều việc làm mới ngay trên địa bàn các vùng
nông thôn.
- Về công nghiệp, một mặt tranh thủ đi nhanh vào các lĩnh vực công
nghệ cao, cần phát triển các ngành nghề sử dụng nhiều lao động.
Phát triển mạnh các ngành dịch vụ. Thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông
thôn. Phát triển mạnh các hình thức tổ chức doanh nghiệp vừa và nhỏ trong
các lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ ở đô thị v.v

các hoạt động kinh tế - xã hội nhằm phát huy những ưu thế và khắc phục các
khuyết tật của kinh tế thị trường. Nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý sử
dụng những công cụ quản lý truyền dẫn các tác động quản lý lên các đối
tượng và khách thể quản lý. Các công cụ quản lý bao gồm: công cụ kế hoạch;
pháp luật; các chính sách kinh tế, xã hội; bộ máy Nhà nước, cán bộ công
chức; các tài sản nhà nước (như: ngân sách, đất đai, tài nguyên, công khố, kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội); các doanh nghiệp Nhà nước; hệ thống thông tin
Nhà nước; văn hoá dân tộc. Trong đó, chính sách kinh tế - xã hội là một công
cụ hết sức quan trọng. Chính sách kinh tế - xã hội là một tổng thể các quan
điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động
lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các vấn đề (đặt ra cho chính
sách) nhằm thực hiện các mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng
thể của đất nước.
Cấu trúc của một chính sách gồm có: Mục tiêu của chính sách, các
nguyên tắc thực hiện mục tiêu của chính sách, các phân hệ của chính sách,
các giải pháp và các công cụ của chính sách.
Là một công cụ quan trọng nhất, các chính sách có các chức năng: chức
năng định hướng, chức năng điều tiết, chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển
chức năng khuyến khích sự phát triển.
18
18
Để thực hiện các chức năng trên, các chính sách phải đảm bảo các yêu
cầu sau đây:
• Tính khách quan: Nghĩa là phải tuân thủ các yêu cầu của quy luật
khách quan, cũng có nghĩa nội dung chính sách phải dựa trên cơ sở khoa học,
cơ sở thực tiễn vững vàng. Điều đó đòi hỏi phải khắc phục tính chủ quan, giản
đơn, duy ý chí. Cán bộ hoạch định chính sách phải là những người có năng
lực và hết lòng vì dân, vì nước.
• Tính chính trị: Đòi hỏi chính sách phải quán triệt đường lối, chủ
trương của Đảng và Nhà nước và thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng.

Công nghiệp hóa, gắn liền với quá trình tập trung sản xuất, hình thành
các trung tâm kinh tế của một vùng lãnh thổ hay cả nước. Do đó, công nghiệp
hóa tất yếu dẫn tới đô thị hóa.
Đô thị có thể là một trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, đạt được
các tiêu chuẩn về trình độ phát triển và được công nhận về pháp lý.
Quá trình đô thị hóa thực chất là một quá trình biến đổi và phân bổ lực
lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí lại dân cư, hình thành, phát
triển các hình thức và các điều kiện sống đô thị trên cơ sở kết cấu hạ tầng kỹ
thuật, kinh tế, xã hội và quy mô dân cư tương xứng.
Xu hướng đô thị hóa ở nước ta đang diễn ra theo các hướng: Hình thành
các trung tâm công nghiệp dịch vụ lớn trong các đô thị lớn; Hình thành các đô
thị vệ tinh trên cơ sở phát triển các trung tâm công nghiệp dịch vụ ngoại
thành, mở rộng các đô thị hiện có chuyển các vùng nông thôn thành các đô thị
mới với quy mô khác nhau.
Quá trình đô thị hóa tác động mạnh mẽ đến thị trường lao động ở các đô
thị theo các hướng sau:
Từ phía cung: cùng với việc mở rộng đô thị lực lượng lao động cần
phải có việc làm ở các đô thị tăng lên nhanh chóng. Trước hết, phải kể đến lao
động nông nghiệp ở các vùng nông thôn nay chuyển thành phường, quận của
20
20
đô thị. Họ bị thu hồi mất toàn bộ tư liệu sản xuất quan trọng nhất là đất đai,
do đó, không thể tiếp tục nghề nông, phải chuyển sang nghề khác.
Thứ đến phải tính tới là làn sóng di dân vào các đô thị tìm kiếm việc
làm (nhất là các đô thị lớn thí dụ ở thành phố Hồ Chí Minh 70% công nhân
các khu công nghiệp là người nhập cư). Những người này bị đô thị thu hút bởi
hai lí do: một là, khoảng chênh về thu nhập giữa các đô thị với các vùng nông
thôn. Hai là, kỳ vọng về chất lượng của đời sống đô thị.
Thứ ba, cùng với việc mở rộng các trường dạy nghề, các trường trung
học chuyên nghiệp và đại học v.v số học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường

Từ đó đặt ra cho nhiệm vụ đào tạo phát triển nguồn nhân lực các vùng
ven thành phố đang đô thị hóa nhanh các yêu cầu sau:
- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực phải đáp ứng nhu cầu chuyển dịch
cơ cấu kinh tế.
Đô thị hóa, công nghiệp hóa nông nghiệp, ở các vùng ven đô đã thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân công lại lao động xã hội, tỷ trọng lao
động làm việc trong các ngành công nghiệp, dịch vụ tăng nhanh. Tính chất lao
động nông nghiệp cũng thay đổi do đó, yêu cầu đối với đào tạo lao động
CMKT phải đáp ứng được cho quá trình này, cụ thể:
• Đảm bảo quy mô và chất lượng đào tạo lao động CMKT các cấp trình
độ, các nghề cho nhu cầu sử dụng các loại hình doanh nghiệp nông thôn
(doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty CP, HTX, Doanh nghiệp có
vốn FDI), nhu cầu lao động của trang trại sản xuất hàng hóa nông thôn.
• Đảm bảo quy mô và chất lượng đào tạo lao động CMKT các cấp trình
độ, các nghề cho phát triển các làng nghề truyền thống, phát triển các ngành
nghề mới trong các vùng đang đô thị hóa.
• Đảm bảo quy mô và chất lượng đào tạo lao động CMKT các cấp trình
độ, loại hình nghề cho phát triển ngành nghề dịch vụ, thí dụ: Du lịch làng
nghề, du lịch sinh thái v.v
22
22
• Đảm bảo quy mô và chất lượng đào tạo lao động CMKT các cấp trình
độ, loại nghề để đáp ứng lao động CMKT cho các khu công nghiệp, khu chế
xuất.
• Đảm bảo quy mô và chất lượng đào tạo lao động CMKT các cấp trình
độ (đặc biệt là CNKT) đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lao động.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động ở các vùng ven đô là chuyển
dịch từ lao động kỹ thuật thấp, lạc hậu, năng suất lao động thấp sang lao động
có công nghệ - kỹ thuật, trang thiết bị hiện đại hơn, năng suất lao động cao
hơn. Đây thực chất là quá trình đổi mới chất lượng lao động, bao gồm cả về

phải phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động và nhu cầu của những người
tham gia đào tạo, học nghề để tìm việc, tự tạo việc làm, tạo lập doanh nghiệp.
Sự biến động của cầu lao động về số lượng, chất lượng, cơ cấu lao động theo
nghề, cấp trình độ CMKT trên thị trường lao động phải được quan sát và có
sự điều chỉnh.
- Đào tạo, phát triển nhân lực vùng ven, đô thị hóa nhanh phải nhấn
mạnh đào tạo, dạy nghề. Trong đó, bao gồm cả đào tạo công nhân lành nghề
và lành nghề có trình độ cao (đào tạo mũi nhọn) và đào tạo nghề đại trà (bán
lành nghề). Đào tạo mũi nhọn cung cấp cho khu vực phi nông nghiệp nông
thôn những công nhân kỹ thuật bậc cao, các nghệ nhân, có khả năng sáng tạo,
thiết kế sản phẩm mới có khả năng tiếp thu và sử dụng thiết bị, công nghệ
hiện đại, sản xuất những sản phẩm chất lượng cao phục vụ xuất khẩu. Đào tạo
đại trà nhằm phổ cập nghề cho người lao động, trang bị cho họ những kiến
thức, kỹ năng nghề đơn giản, để lao động nông thôn có năng lực tiếp nhận
phương pháp làm việc, phương tiện sản xuất trong các cơ sở sản xuất nông
nghiệp, xây dựng, dịch vụ có khả năng chuyển từ hoạt động nông nghiệp sang
hoạt động phi nông nghiệp.
- Hình thức đào tạo, phương thức đào tạo phải đa dạng, linh hoạt thích
hợp với điều kiện và trình độ của lao động nông thôn đang đô thị hóa, tạo
24
24
được môi trường cho người lao động nông thôn tham gia vào đào tạo, học
nghề. Trên cơ sở đó để khắc phục các nhân tố ảnh hưởng đến đào tạo, học
nghề của lao động nông thôn như không đủ điều kiện vật chất do kinh tế eo
hẹp, không thể bỏ hẳn việc làm để tham gia đào tạo ở các trường lớp xa địa
phương và chính quy, không thể tham gia đào tạo với thời gian dài nếu không
có hình thức đào tạo thích hợp, thiếu trình độ văn hóa để tham gia đào tạo…
- Ngoài đào tạo nghề tại các trường đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân
lực nông thôn đòi hỏi phải mở rộng các lớp khuyến ngư, khuyến nông,
khuyến lâm nhằm chuyển giao khoa học - công nghệ mới cho chuyển dịch nội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status