SKKN Một số biện pháp bồi dưỡng giáo viên khối lá nâng cao chất lượng môn làm quen với toán - Pdf 35

PHÒNG GIÁO GD-ĐT KRÔNG ANA
TRƯỜNG MẦM NON HOA CÚC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:

MỘT SỐ BIỆN PHÁP BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN KHỐI LÁ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN LÀM QUEN VỚI TOÁN

Họ và tên: Văn Thị Thủy
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Hoa Cúc
Trình độ đào tạo: Đại học sư phạm mầm non
Môn đào tạo: Giáo dục mầm non

Krông Ana, tháng 01 năm 2016
1


MỤC LỤC
I. PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................3
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài....................................................................4
3. Đối tượng nghiên cứu...............................................................................5
4. Giới hạn Phạm vi nghiên cứu...................................................................5
5. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................5
II. PHẦN NỘI DUNG.................................................................................6
1. Cơ sở lí luận...............................................................................................6
2. Thực trạng ..............................................................................................7
2.1. Thuận lợi - Khó khăn.............................................................................8
2.2. Thành công - hạn chế....................................................................8
2.3. Mặt mạnh - mặt yếu................................................................................9

này người giáo viên cần phải đầu tư thời gian, công sức một cách công phu,
khoa học để chuẩn bị đồ dùng cho tiết mới mong tiết học đạt được hiệu quả cao
và khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ sẽ đạt được ở mức độ cao nhất trong quá
trình tham gia các hoạt động của trẻ. Xuất phát từ nhận thức của trẻ từ trực quan
sinh động, đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trưu tượng quay trở về thực tiễn.
Thông qua môn học giúp trẻ nhận thức tốt hơn về thế giới xung quanh. Từ đó
hình thành hệ thống hoá kiến thức một cách chính xác, khoa học. Nhận thức về
toán học có liên quan mật thiết với quá trình phát triển toàn diện của trẻ, thông
qua toán học sớm hình thành ở trẻ khả năng tìm tòi, quan sát, khám phá, so sánh,
phân tích, tổng hợp các sự vật hiện tượng khách quan. Trên cơ sở đó bổ sung
thêm vốn ngôn ngữ và góp phần tích cực vào việc phát triển trí tuệ và thể chất
cho trẻ.
Qua môn học làm quen với toán trẻ được học tập vui chơi, thực hành
đếm số lượng bằng nhiều hình thức, trẻ được tiếp xúc, được sờ vào các đồ vật,
quan sát làm quen với các hình dạng của các vật thể của môi trường xung quanh
rất đa dạng và phong phú. Trẻ biết xác định được phía phải, phía trái, phía trước,
phía sau, phía trên, phía dưới của bản thân và của đối tượng khác, cũng như kỹ
năng định hướng trong không gian giúp trẻ phát triển về các giác quan. Qua môn
học này giúp trẻ tích lũy số vốn kiến thức sơ đẳng về hình thành biểu tượng toán
học vận dụng trực tiếp vào cuộc sống hàng ngày của trẻ.
Hoạt động làm quen với toán là hoạt động rất khô khan và cứng nhắc. Các
hoạt động đặc biệt là các đề tài hình thành các biểu tượng về số lượng, con số và
phép đếm thường lặp đi, lặp lại nhiều lần có nội dung giống nhau, chỉ khác về số
lượng là ở khối lá thì cho trẻ đếm, thêm bớt, chia nhóm trong phạm vi từ 6 đến
10. Cho nên nếu ta chỉ tập trung vào kiến thức dạy trẻ theo đúng các bước, nếu
lặp lại khi học trẻ thường rất nhanh chán sẽ không thu hút được sự chú ý của trẻ.
3


Hoạt động làm quen với toán giúp trẻ biết quan sát, phát hiện những dấu hiệu

của trẻ đối với bộ môn làm quen với toán trên cơ sở đề ra một số giải pháp, biện
pháp thích hợp nhằm giúp giáo viên trong quá trình hướng dẫn trẻ môn “Làm
quen với toán” có hiệu quả như: kích thích tính sáng tạo, phát triển về trí tuệ và
hình thành biểu tượng toán học về số lượng, trẻ biết cách đếm, thêm bớt trong
phạm vi từ 1 đến 10.... Thông qua đó nhằm phát huy tính tích cực chủ động ở
trẻ.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Nhiệm vụ mà đề tài đặt ra nhằm tạo cơ hội cung cấp, củng cố kinh
nghiệm, làm tăng sự tò mò, hứng thú. Qua thực hiện đề tài này nhằm giúp giáo
viên trong tiết dạy tạo nhiều cơ hội học tập và lĩnh hội được nhiều kiến thức mới
4


nhằm phát huy tính sáng tạo, tính tích cực chủ động và phát triển tư duy, nhận
thức cho trẻ thông qua chương trình mầm non mới.
Giúp giáo viên tìm ra các giải pháp, biện pháp để tạo được hứng thú,
sáng tạo cho trẻ trong môn Làm quen với toán .
Giáo viên giúp trẻ trải nghiệm, tìm tòi, kích thích sự sáng tạo của trẻ
Sau khi vận dụng đề tài sẽ góp phần đắc lực đối với giáo viên trong quá
trình hình thành nhân cách phát triển tư duy, đồng thời phát triển tốt khả năng
nhận thức của trẻ.
3. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao chất lượng môn làm quen
với toán
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Khuôn khổ nghiên cứu : Một số Biện pháp bồi dưỡng giáo viên nhằm
nâng cao chất lượng môn làm quen với toán
Đối tượng khảo sát : Giáo viên khối lá và trẻ 5-6 tuổi
Thời gian nghiên cứu : Năm học 2015 -2016
5. Phương pháp nghiên cứu


Tỉ lệ

Hình thức tổ chức giờ học linh hoạt, sáng tạo

8

3/8

38 %

Sử dụng đồ dùng đẹp, khoa học hơn

8

4/8

50 %

Tạo môi trường hoạt động cho trẻ phong phú hấp
dẫn hơn

8

3/8

38 %

NỘI DUNG


143

65/143

45,5%

143

70/143

49%

II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
Tổ chức hoạt động làm quen với toán cho trẻ mầm non là một hoạt động rất
quan trọng. Một tiết học nếu chỉ dạy đúng phương pháp, đầy đủ các bước thì vẫn
chưa đủ vì trẻ chỉ thực sự đón nhận sự truyền tải kiến thức một cách sinh động
hấp dẫn khi tiết học đó có những đồ dùng sinh động, phong phú lôi cuốn đối với
trẻ.
Bản thân tôi nhận thấy làm quen với môn toán là một môn học khó và khô
khan, mà quá trình hình thành các biểu tượng ban đầu ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp những kiến thức ban đầu
cho trẻ. Cho trẻ làm quen với những biểu tượng toán ngay từ tuổi mầm non
chính là cơ hội tốt để giúp trẻ hình thành phẩm chất, năng lực hoạt động ở trẻ
như quan sát, tìm tòi, so sánh. Qua đó giúp trẻ hình thành những khả năng tìm
6


tòi, quan sát... thúc đẩy sự phát triển tư duy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ, hình
thành các biểu tượng về môn toán như: số lượng, hình dạng, kích thước, phép

động cho trẻ làm quen với toán không chỉ xuất phát từ hoạt động của nhà giáo
dục mà còn có tính chất nhận biết hoạt động thực tiễn của trẻ đối với thế giới
xung quanh.
2.Thực trạng
2.1 Thuận lợi - khó khăn
* Thuận lợi:
Được sự quan tâm của cấp Uỷ đảng, chính quyền địa phương.
Được sự quan tâm, chỉ đạo tận tình của Phòng Giáo dục & Đào tạo, sự chỉ
đạo sát sao của chuyên viên Ngành học mầm non trong huyện.
7


Sự phối kết hợp của Ban đại diện cha mẹ học sinh góp phần cùng với nhà
trường giáo dục con em mình cùng tiến bộ.
Cơ sở vật chất, trường lớp tương đối đảm bảo để phục vụ tốt cho công tác
dạy và học của cô và trò. Sân chơi có bóng mát tạo điều kiện cho các cháu sinh
hoạt ở mọi lúc mọi nơi.
Phụ huynh đa số là làm lao động nhưng rất hiếu học, thường xuyên quan
tâm đến việc học tập của con em mình.
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, an tâm công tác, có tinh thần tự học, tự rèn
để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn.
* Khó khăn:
Các điểm trường không tập trung nên việc đi lại chỉ đạo và theo dõi
chuyên môn đôi lúc còn gặp khó khăn.
Về giáo viên năng lực không đồng đều, một số giáo viên trẻ mới về nên
còn lúng túng trong việc tổ chức các tiết học làm quen với toán theo chương
trình mầm non mới. Giáo viên chưa biết cách tạo cơ hội cho trẻ phát huy tính
tích cực. Đôi lúc giáo viên chưa thực sự sáng tạo còn nói nhiều hơn trẻ. Do đó
chưa phát huy được vai trò tích cực của trẻ trong quá trình hoạt động. Về phía
trẻ một số trẻ chưa qua lớp mầm, chồi. Nhất là số cháu đồng bào dân tộc Thiểu

tham gia tích cực vui vẻ thoải mái mạnh dạn trình bày ý kiến của mình trước tập
thể.
* Mặt yếu
Giáo viên chưa thực sự chủ động linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt
động .
Sử dụng đồ dùng chưa khoa học, chưa thực sự chú ý phát huy tính tích
cực ở trẻ.
Tạo môi trường hoạt động cho trẻ chưa phong phú, thiết kế các trò chơi
chưa hấp dẫn
Khai thác môi trường xung quanh ngay trong lớp để vận dụng hoặc giáo
dục trẻ còn hạn chế.
Một số cháu là người đồng bào dân tộc thiểu số nên việc thực hiện các
thao tác, kỹ năng còn chưa thành thạo.
2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động
- Nguyên nhân của sự thành công :
Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, tâm huyết với nghề, nhận thức được tầm
quan trọng của việc nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ham học hỏi, tìm
tòi, sáng tạo ra những cách dạy hay nhằm lôi cuốn trẻ vào giờ học.
- Nguyên nhân của sự hạn chế, yếu kém :
Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn chưa khoa học, chưa rõ ràng
CSVC thiếu đồ dùng dụng cụ phục vụ cho các hoạt động làm quen với
toán
Đồ dùng , đồ chơi phục vụ cho hoạt động còn đơn điệu, màu sắc chưa hấp
dẫn nên không cuốn hút trẻ trong các hoạt động làm quen với toán.
Một số giáo viên sử dụng đồ dùng chưa có khoa học, chưa phát huy được
tính tích cực ở trẻ. Khai thác môi trường xung quanh ngay trong lớp để vận dụng
hoặc giáo dục trẻ còn hạn chế.
Bên cạnh đó một số cháu chưa qua những lớp dưới lên nên việc tiếp cận
học đếm, nhận biết mối quan hệ hơn kém, nhận biết về kích thước, hình dạng, và
định hướng trong không gian còn rất khó khăn....

năng đếm, thêm bớt, chia nhóm, thực hiện được các thao tác đo….
Vận dụng những giải pháp, biện pháp, cách thức tổ chức cho trẻ các hoạt
động sao cho đạt hiệu quả nhất, vừa duy trì được hứng thú của trẻ vừa giúp trẻ
tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và thoải mái.
3.2. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp
Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên
Lập kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cụ thể theo từng tháng, học kỳ, từng
chủ đề, từng thời điểm một cách phù hợp tạo điều kiện cho giáo viên tham gia.
Xây dựng kế hoạch tổ chức các buổi chuyên đề hội giảng nhằm giúp giáo
viên học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau để nâng cao trình độ chuyên môn.
10


Hướng dẫn tổ khối lập kế hoạch họp chuyên môn trong tổ để rút kinh
nghiệm , trao đổi, thảo luận về mục tiêu, nội dung, phương pháp của môn học.
Lựa chọn những giáo viên cốt cán, ham học hỏi tiếp cận về cái mới, có
kinh nghiệm, có khả năng truyền đạt và xử lý tình huống sư phạm một cách linh
hoạt, sáng tạo… đi tập huấn các buổi chuyên đề do phòng giáo dục hoặc cụm tổ
chức, dự giờ học tập kinh nghiệm ở các trường bạn trong tỉnh, huyện để học tập
rút kinh nghiệm và tiếp thu những vấn đề mới và về triển khai lại trong tổ để
cùng nhau học hỏi.
Biện pháp 2: Hướng dẫn giáo viên biết cách làm, lựa chọn đồ dùng, đồ
chơi đẹp, sáng tạo nhằm lôi cuốn trẻ vào tiết dạy.
Giáo viên tăng cường làm đồ dùng và chú trọng sử dụng đồ dùng trực quan
hợp lý, phù hợp với nội dung bài dạy, đồ dùng đa dạng màu sắc kích thước
phong phú.
Tăng cường làm đồ dùng và và chú trọng sử dụng trực quan. Biện pháp hữu
hiệu giúp tiết học đạt kết quả là giáo viên biết cách gây sự chú ý của trẻ bằng
cách sử dụng đồ dùng trực quan đẹp kết hợp với sự khéo léo của mình khi sử
dụng đồ dùng trực quan giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách trọn vẹn, chính xác,

theo quy tắc, trang trí bên trong là hình ảnh ngôi nhà có hàng rào, đường đi vào
nhà trên đó có dán thảm đỏ để làm đường đi tạo góc mở cho trẻ hoạt động, trẻ
chơi ở góc toán được tô màu, được vẽ được dán sắp xếp theo quy tắc với nội
dung của từng chủ đề. Còn bên phải là thử tài của bé thì nên trang trí như một
cái bảng trên đó có dán những tấm thảm đỏ trẻ được tô màu, vẽ, dán, và gắn số
tương ứng với số lượng đồ vật trẻ đã gắn theo nội dung của từng chủ đề. Qua đó
rèn cho trẻ kỹ năng tô màu, vẽ dán, sắp xếp theo quy tắc, nhận biết số lượng
trong phạm vi 1-10 và gắn số lượng tương ứng với số đồ vật trẻ dán. Không
những tạo môi trường hợp lý mà tôi còn hướng dẫn giáo viên sử dụng những
sản phẩm của trẻ để tạo cho trẻ sự hứng thú khi đi học.
Biện pháp 4: Hướng dẫn giáo viên xác định loại tiết để chọn phương pháp
thích hợp và cung cấp kiến thức chính xác cho trẻ, lên lớp linh hoạt, gây hứng
thú cho trẻ vào giờ học,
Trước khi vào bài dạy tôi định hướng cho giáo viên xác định đúng loại tiết
để giáo viên có thể lên lớp tự tin vào bài dạy hơn, chẳng hạn đối với những tiết
về số, tôi cho giáo viên xác định đâu là tiết mới, tiết hỗn hợp, tiết ôn.
Ví dụ: Trẻ đếm đến 8, nhận biết các nhóm có 8 đối tượng. Nhận biết số 8 .
Chủ đề “Thế giới động vật” Chủ đề nhánh “Con vật đáng yêu quanh bé” Cô giáo
phải xác định được đây là tiết hỗn hợp và nếu là tiết hỗn hợp thì trước khi vào
bài mới thì nên cho trẻ ôn gợi nhớ lại kiến thức đã học của tiết trước.
Trong một giờ hoạt động giáo viên nên linh hoạt tổ chức cho trẻ được
hoạt động một cách lo gíc sôi động, không ngắt quản thời gian hoạt động phải
luân chuyển làm sao cho giờ học không bị nhàm chán, không khí giờ học luôn
sôi nổi, trẻ hứng thú hoạt động và giờ học lại đạt hiệu quả.
Lựa chọn các thủ thuật phù hợp để tổ chức cho trẻ hoạt động
Giáo viên nên chỉ là người gợi ý hướng dẫn và cho trẻ tìm tòi khám phá
bằng cách cô chỉ đặt ra câu hỏi gợi mở cho trẻ, trợ giúp cho trẻ không nên làm
thay trẻ hoặc nói hộ cho trẻ có như vậy trẻ được khám phá hoạt động, trẻ sẽ nhớ
lâu hơn và giúp trẻ có được kiến thức sâu rộng hơn.
Việc dạy trẻ đếm xác định số lượng trong phạm vi 10, nhận biết các số từ

đó trẻ sẽ so sánh các con số với nhau để thấy số nào lớn hơn, nhỏ hơn.
Trong quá trình dạy trẻ giáo cần yêu cầu và hướng dẫn trẻ tự tìm kiếm
được tất cả các cách chia một nhóm đối tượng thành hai nhóm
Ví dụ: Chia một nhóm đối tượng thành 2 phần theo các cách: 9 - 1, 8 -2,
và 7 -3. Ban đầu mỗi trẻ có thẻ thực hành chia theo cách mà trẻ thích, cô giáo có
nhiệm vụ tổng kết lại tất cả những cách chia có thể thực hiện được với nhóm đồ
vật đó một cách trực quan. Các bài luyện tập chia như vậy dành cho trẻ sẽ được
phức tạp dần cùng với những điều kiện chia nhất định
Ví dụ: Chia hai phần sao cho số lượng đối tượng của hai phần bằng nhau
hoặc chia sao cho số lượng của một phần nhiều hơn số đối tượng của phần kia…
Trong qua trình dạy trẻ giáo viên cần chú ý rằng, các bài luyện tập trên
nhằm mục đích dạy trẻ nhớ một cách mấy móc số này hay số khác được hình
thành từ những con số nào, khi thao tác với các bài tập cụ thể và các con số, trẻ
sẽ hiểu sâu sắc hơn mối quan hệ giữa tổng thể, bộ phận. Bộ phận có thể bằng
nhau hoặc không bằng nhau, nhiều hay ít, to hay nhỏ, nhưng chúng luôn luôn
nhỏ hơn tổng thể.
Đối với việc dạy trẻ mẫu giáo lớn phép đo lường có tác dụng phát triển sự
tri giác kích thước các vật của trẻ và làm cho nó trở nên chính xác hơn. Trong
quá trình học trẻ học được cách phân biệt vật để đo, vật làm từ thước đo và kết
13


quả đo, trẻ được làm quen với các quy định của phép đo lường, thông qua số
lượng các thước đo mà trẻ hình dung được kết quả đo. Vì vậy sự ước lượng kích
thước các vật của trẻ được phát triển. Hơn nữa nhờ hoạt động đo mà biểu tượng
về số lương và về các mối quan hệ giữa các số của trẻ được củng cố.
Để thấy sự cần thiết và vai trò của phép đo trong hoạt động thực tiễn của
con người, cô giáo cần sử dụng các ví dụ lấy từ thực tiễn cuộc sống của con
người để minh họa
Ví dụ: Mọi người đều phải đo khi mua quần áo , vải vóc…Hoặc cô tạo ra

Định hướng trong không gian là cách xác định vị trí phía trước- phía sau;
phía trên – phía dưới; phía phải – phía trái của bản thân so với các đối tượng
14


khác. Do vậy khi dạy trẻ xác định phía trước- phía sau, phía trên – phía dưới của
bản thân trẻ việc chủ yếu cần làm là dựa vào kinh nghiệm của trẻ. Chính vì vậy
giáo viên cần tạo mọi cơ hội cho trẻ được trải nghiệm và tự rút ra kinh nghiệm
của bản thân.
Ví dụ : Muốn dạy trẻ xác định các phía khác giáo viên sẽ dấu đồ vật ở từng
phía và cho trẻ tự trải nghiệm và suy nghĩ. Cô giáo vừa hướng dẫn vừa gợi hỏi
trẻ để kích thích trẻ trả lời các câu hỏi của cô.
Bên cạnh đó giáo viên nên tận dụng những thói quen sử dụng tay trái –
tay phải trong công việc hàng ngày để dạy trẻ xác định phía phải – phía trái của
bản thân trẻ.
Ví dụ: Chủ đề “Bản thân” tôi gợi ý cho giáo viên nên cho trẻ chơi trò chơi
làm động tác mô phỏng các hành động như: đánh răng, xúc cơm ăn, ….Khi trẻ
làm động tác mô phỏng hành động đang đánh răng cô giáo hỏi: Con đang cầm
bàn chải bằng tay nào? Con dùng tay nào cầm ca nước? Tay trái ngoài việc cầm
ca nước còn dùng để làm những việc gì? (cầm bát, giữ vở…). Tay phải ngoài
cầm bàn chải khi đánh răng còn dùng để làm những việc gì? (cầm thìa, cầm
bút…).Tay cầm bát của con đâu? Đó là tay gì?…
Bằng những hành động cụ thể như vậy trẻ sẽ dễ nhớ và nhớ sẽ lâu hơn,
đồng thời hoạt động cũng nhẹ nhàng và trẻ cảm thấy thoải mái hơn. Với hoạt
động này tôi luôn tạo điều kiện cho trẻ được trải nghiệm thực tế để trẻ có những
định hướng đúng trong không gian. Bên cạnh đó tôi còn tổ chức cho trẻ định
hướng các phía bằng hình ảnh những con vật gần gũi bằng nhựa, bằng bông…
kích thích hứng thú của trẻ và kể bằng những câu chuyện.
Ví dụ: Với đề tài “ Xác định vị trí phía trước, phía sau, phía trên, phía
dưới của đối tượng khác” tôi hướng dẫn giáo viên lên tiết dạy bằng cách dẫn dắt

cây, hồ nước). Còn tổ chức trò chơi để luyện tập cả lớp như trò chơi “Ai nhanh
tay” Cô chia lớp thành 2 tổ cho tổ 1 tìm con vật nuôi trong gia đình có 2 chân, tổ
tìm con vật nuôi trong gia đình có 4 chân, và mỗi trẻ tìm đủ 8 con không cùng
một loại (động vật nuôi trong nhà có gà, vịt chó, mèo…) có số lượng 8, giáo
viên cho trẻ thêm và và bớt ra theo yêu cầu, tổ chức cho 2 tổ thi đua nhau để trẻ
hứng thú.
*Dạy học vừa sức:
Trên cở sở giáo viên phải cân nhắc lựa chọn nội dung sao cho phù hợp, hợp
lí giữa nội dung các kiến thức lí tính và cảm tính
Để đảm bảo tính vừa sức cho trẻ những kiến mới truyền đạt cho trẻ cần
được phức tạp dần được củng cố dần qua các bài tập luyện phong phú và được
ứng dụng vào các dạng hoạt động khác nhau của trẻ như vậy sự mở rộng dần,
phức tạp dần nội dung dạy học sẽ giúp trẻ dễ dàng lĩnh hội kiến thức và kỹ năng
tạo cho trẻ hứng thú học toán .
*Đam bao tính khoa học :
Trên cơ sở của những khoa học toán học, sinh lý. Tâm lí học và giáo dục
học mầm non trong qúa trình dạy toán cho trẻ cần đảm bảo sự thống nhất giữa
các thao tác, kiến thức kỹ năng và thái độ thông qua các hoạt động giúp trẻ hình
thành biểu tượng số lượng trong thực tế.
Trong quá trình hình thành biểu tượng toán học về các hình dạng cần phải
đảm bảo tính chính xác khoa học và tất cả mọi mặt như ngôn ngữ kí hiệu hình
vẽ . Kiến thức suy luận thông qua hoạt động mà tư duy và ý thức phát triển tốt
Biện pháp nhằm đảm bảo tính ý thức và phát huy tính tích cực của trẻ
Để đảm bảo tính ý thức và phát huy tính tích cực của trẻ trong quá trình
lĩnh hội kiến thức giáo viên cần dạy trẻ nhận biết những dấu hiệu nhận biết của
đối tượng bằng cách thay đổi các dấu hiệu trong bản chất và giữ nguyên bản
chất của đối tượng. Đồ dùng đa dạng màu sắc tươi sáng, sắp xếp đồ dùng trực
quan ở nhiều vị trí khác nhau để trẻ đếm. Qua hiểu cách đếm trẻ nắm bắt được
các dấu hiệu đặt trưng của số lượng và có biểu tượng chính xác về chúng.
16

Hướng dẫn giáo viên mỗi ngày dành 5 đến 10 phút trước và sau giờ đón trẻ
để ôn tập bằng nhiều hình thức như đếm, thêm bớt, xác định các phía..... Khi
thấy trẻ đạt yêu cầu nâng cao dần, cho cháu giỏi kèm cháu yếu để cùng đếm,
nhận biết mối quan hệ hơn kém, định hướng trong không gian...
Bằng hệ thống câu hỏi: Và bài tập nhằm kích thích trẻ phát triển về trí lực
của trẻ một cách hưng phấn dẫn dắt trẻ tự tìm ra kết quả, tự đưa ra kết luận khái
quát bằng lời giáo viên cần đặt ra cho trẻ vào các tình huống có vấn đề buộc trẻ
phải suy nghĩ .
Ví dụ: Cho trẻ so sánh hai nhóm đồ vật để trẻ tự nhận xét về 2 nhóm đồ vật
cô sử dụng một số câu hỏi gợi mở để trẻ suy nghĩ. Cô hỏi 2 nhóm như thế nào
với nhau? (Trẻ có thể trả lời 2 nhóm không bằng nhau, gợi ý cho trẻ khác trẻ lời
nhóm nhiều hơn nhóm thì ít hơn) tại sao con biết 2 nhóm không bằng nhau? (Trẻ
trả lời vì nhóm có 8 đối tượng, nhóm có 7 đối tượng, nhóm nhiều hơn 1, nhóm
17


ít hơn 1…) Trẻ tự suy nghĩ và tìm ra câu trẻ lời, và cô là người động viên
khuyến khích trẻ để trẻ được trình bày ý kiến của mình.
Hệ thống câu hỏi bài tập cô đặt ra câu hỏi dựa trên tri giác và trí nhớ tái tạo
của trẻ nhằm ghi nhận những kiến thức của đối tượng yêu cầu trẻ miêu tả những
kiến thức mà trẻ vừa quan sát hay nhắc lại nhiệm vụ của cô giáo .
Ví dụ: Có bao nhiêu con ? hai nhóm như thế nào với nhau ? Tại sao không
bằng nhau ? Muốn bằng nhau làm thế nào?
Câu hỏi tái tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ nắm vững và củng cố những
kiến thức một cách sâu sắc hơn
Ví dụ : Tìm và chọn thêm con vật, bông hoa…cho đủ số lượng 9 (Số lượng
của tiết học)
Câu hỏi sáng tạo có nhận thức nhằm giúp trẻ sử dụng những kiến thức đã
nắm được để giải quyết tình huống hay nhiệm vụ khác nhau .
Ví dụ: Trong bình hoa của con có bao nhiêu bông hoa, có bao nhiêu cành

của giáo viên xem có phù hợp với nội dung ,chủ đề đó hay không.
Quan sát các trình tự tổ chức một tiết học để rút kinh nghiệm cho tiết học
tốt hơn và đánh giá kiến thức trẻ đã nhận biết về số lượng, kích thước, hình
dạng, định hướng trong không gian.
3.4. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp
Các giải pháp, biện pháp khi thực hiện đề tài có mối quan hệ mật thiết với
nhau, biện pháp này nó sẽ hỗ trợ cho biện pháp kia nhằm hòa quyện các nội
dung lại với nhau để đi đến một thể thống nhất là tìm ra các giải pháp tối ưu nhất
nhưng vẫn đảm bảo được tính chính xác, khoa học và lô gích giữa các giải pháp
và biện pháp với nhau.
3.5. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu
Sau một thời gian thực hiện, là một phó hiệu trưởng tôi rất phấn khởi khi
kết quả đạt được rất cao:
* Đối với giáo viên:
Tổng
số giáo
viên
khối lá

Kết
qua

Tỉ lệ

Hình thức tổ chức giờ học linh hoạt, sáng tạo hơn

8

7/8



Trẻ đếm, thêm bớt, chia
nhóm số lượng từ 1-10

143

140/143

97.9%

Xếp tương ứng

143

140/143

97.9%

Trẻ biết thực hiện thao

143

135/143

94,4%

19


tác đo

tập trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau đặc biệt là trú trọng việc tổ chức các tiết dạy
thực tế trên lớp giúp giáo viên có kiến thức, có kỹ năng sư phạm vững vàng
trong chuyên môn cũng như trong việc tổ chức các hoạt động để có thể chủ
động, linh hoạt và sáng tạo trong quá trình thực hiện
Xác định rõ nội dung và hình thức chỉ đạo bồi dưỡng chuyên môn, có
kiểm tra giảng dạy và tổng kết đánh giá kiểm tra việc thực hiện của trẻ từ đó rút
kinh nghiệm để bồi dưỡng cho giáo viên tổ chức tốt hơn.
Giáo viên cần phải dựa vào các nguyên tắc dạy học để tổ chức các hoạt
động đảm bảo tính vừa sức, tính phát triển, tính hệ thống liên tục và chú ý cá
biệt đối với trẻ nhằm hình thành ở trẻ, khả năng quan sát ghi nhớ và vận động
kích thích trẻ nỗ lực khám phá. Tổ chức hoạt động cứng nhắc rập khuôn sẽ
không kích thích khả năng hiểu biết ham khám phá của trẻ. Thông qua việc tạo
điều kiện cho trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh, hiểu biết về thế giới xung
20


quanh để trẻ có tâm lý tốt sau này. Đối với trẻ mầm non phải thường xuyên kiểm
tra đánh giá mức độ hiểu biết của trẻ, tạo cơ hội để trẻ tự tìm tòi, khám phá đó
cũng chính là giúp trẻ bước tiếp theo vào các lớp trên một cách tốt nhất.
Sau khi xây dựng biện pháp trên nhận thức của giáo viên. Nhìn chung việc
đổi mới của bậc học mầm non hiện nay là rất phù hợp với yêu cầu đổi mới của
đất nước để đáp ứng với yêu cầu đòi hỏi giáo viên mầm non phải học tập để
nâng cao trình độ tiếp cận với chương trình đổi mới được dễ dàng hơn.
Dựa vào những dấu hiệu màu sắc, hình dạng, kích thước, số lượng, vị trí
sắp xếp trong không gian này mà con người phân biệt vật này với vật khác, như
so sánh, thêm bớt, nhận biết được hình dạng, kích thước mang những dấu hiệu
bên ngoài của một vật cụ thể . Dựa vào chúng mà con người có thể tiến hành so
sánh các nhóm các vật khác nhau theo dấu hiệu số lượng, hình dạng, kích thước.
Những biểu hiện toán học của trẻ 5 – 6 tuổi ngày một phát triển càng lớn thì
quá trình tri giác của trẻ càng hoàn thiện. Do đó trẻ nhận biết hình dạng cùng các


TÀI LIỆU THAM KHẢO
22


STT Tên tài liệu
1

2

Tác gia

Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo
viên mầm non chu kỳ II (2004-2007)
Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình
giáo dục mầm non .

TS.Trần Thị Ngọc Trâm
– TS Lê Thu HươngPGS.TS. Lê Thị Ánh
Tuyết.

3

Quản lý giáo dục

( Phạm Thị Châu, Trần
Thị Sinh).

4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status