“Nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh trong thời kì hội nhập – Thực trạng và giải pháp” - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực quan
trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vậy, việc phát triển nguồn nhân lực trở
thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy
đủ dến con người là sự đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh của mỗi quốc gia. Đầu
tư cho con người là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát tiển bền vững. Ngay từ những năm
60 của thế kỷ XX, nhiều nước đã có được sự tăng trưởng kinh tế nhanh và mạnh thông
qua quá trình công nghiệp hóa, hay nói cách khác là thông qua việc phát triển khoa học
công nghệ gắn liền với việc phát triển nguồn nhân lực. Lịch sử phát triển kinh tế thế giới
đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao và ổn định phải thông qua việc
nâng cao chất lượng đội ngũ lao động kỹ thuật – nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
“Phát triển mạnh nguồn lực con người Việt Nam với yêu cầu ngày càng cao” [26, tr.20].
Nhằm bảo đảm nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIII (2010- 22015) đã đề ra
nhiệm vụ sau: “Phải chăm lo phát triển nguồn nhân lực có chất lượng toàn diện, cả về sức
khỏe thể chất, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, đời
sống văn hóa tinh thần” [7, tr.19]. Nhằm đáp ứng nhu cầu trong thời kỳ hội nhập kinh tế
quốc tế quốc tế của tỉnh nhà.
Ở Việt Nam sau cách mạng tháng 8 năm 1945 ngành du lịch đã có lịch sử 50 năm
phát triển. Năm 1960 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 26/CP, ngày
09/07/1960, thành lập công ty du lịch Việt Nam. Trong suốt 50 năm hình thành và phát
triển, ngành du lịch đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, ở mỗi thời kỳ đều xá định vị trí

1


của du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước phù hợp với yêu cầu
cách mạng.

nhân lực, để thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch nói riêng và sự phát triển của nền
kinh tế - xã hội nói chung của tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển của lịch sử, do đó vấn
đề con người, đặc biệt là vấn đề nhân tố con người luôn luôn là đối tượng thu hút sự quan
tâm của nhiều ngành khoa học. Thực tiễn ngày càng chứng minh, sự phát triển bền vững
của mỗi quốc gia phụ thuộc vào việc đầu tư khai thác, phát huy có hiệu quả vai trò nhân
tố con người.
Từ những nghiên cứu chung về con người, các nhà khoa học Xô Viết trước đây đã
nghiên cứu về nhân tố con người và phát huy vai trò của nhân tố con người. Có nhiều đề
tài và công trình của các nhà khoa học Xô Viết đi sâu vào nghiên cứu về mối quan hệ
giữa nhân tố con người và các nhân tố kinh tế, vật chất kỹ thuật trong cấu trúc nền sản
xuất xã hội. Công trình nghiên cứu của nữ viện sĩ Giaxlapxkaia về công bằng xã hội và
nhân tố con người những năm 1986 – 1987 là một ví dụ tiêu biểu. Hội nghị khoa học giữa
các nhà khoa học Xô Viết và Việt Nam tổ chức tại hà Nội vào năm 1988 đã tập trung trao
đổi ý kiến và thảo luận xoay quanh chủ đề về nhân tố con người và phát triển kinh tế xã
hội.
Theo hướng này ở nước ta các nhà khoa học cuãng đã có nhiều hoạt động sôi nổi
về nghiên cứu vấn đề con người. Đại hội lần thứ VIII của Đảng, các nhà hoa học đi sâu
nghiên cứu vấn đề nguồn lực con người, nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời kỳ hội
nhập quốc tế, nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều bài viết đã thể hiện quan điểm
coi con người là nguồn tài nguyên vô giá và sự cần thiết phải đầu tư vào việc bảo toàn,
phát triển và nâng cao chất lượng nguồn tài nguyên này, lấy nó làm đòn bẩy để phát triển
kinh tế, để công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Những bài viết những công trình khoa
3


học đó được đăng trên các báo chí, tạp chí, sách báo, chẳng hạn như: “Xây dựng nền tảng
tinh thần, tiềm lực văn hóa, tiếp tục thực hiện chiến lược xây dựng và phát triển nguồn
lực con người Việt Nam” của nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu (Tạp chí phát triển giáo

nay. Rút ra những điểm mạnh, điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực trong ngành du
lịch Quảng Ninh.
Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của Nguồn
nhân lực ngành Du lịch Quảng Ninh trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Về nguồn nhân lực ngành du lịch Quảng Ninh trong thời
kì hội nhập.
- Phạm vi nghiên cứu: Nguồn nhân lực ngành Du lịch Quảng Ninh trong thời kì
hội nhập quốc tế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các
quan điểm khoa học hiện đại về nguồn nhân lực.
- Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp lịch sử và logic, quy nạp và diễn dịch, phân tích và
tổng hợp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt
động quản lý nguồn nhân lực đối với ngành du lịch.
- Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp một số giải pháp cụ thể nhằm tăng cường chất lượng
hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh.
5


Những kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo có ích cho các
doanh nghiệp và cơ quan có chức năng trong việc xây dựng các kế hoạch, định hướng
phát triển nguồn nhân lực ngành Du lịch ở Quảng Ninh hiện nay.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 2

trí lực, kĩ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được quá
trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt đọng nào đó.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (Với quy mô, loại hình,
chức năng hác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ
7


chức cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới. Cách hiểu
này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các
yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung
của các tổ chức.
Đây là những khái niệm thường gặp và chung nhất về nguồn nhân lực. Cách hiểu
này xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh
thần tạo nên năng lực, sức mạh phục vụ cho tổ chức nói chung.
Trong báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá những tác động của toàn cầu hóa đối
với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa: Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề và năng
lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế
- xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân lực là toàn bộ những kĩ năng, kinh nghiệm,
năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và
đát nước. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất
lượng nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm
năng của con người cững là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong
quản lí, sử dụng.
Ngoài ra một nghiên cứu khác do ngân hàng Thế giới (WB) tiến hành đã có nhận
định: Nguồn nhân lực là toàn vộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kĩ năng nghề
nghiệp...của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn lực con người được coi là nguồn vốn
bên cạnh các loại vốn vật chất khác: Tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Ở nước ta nguồn nhân lực theo quy định pháp luật được hiểu là một bộ phận của
dân số bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định
của Bộ luật Lao động Việt Nam (Nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi).

công ở nước ta cũng có những biểu hiện mất cân đối.
Như vậy, nói tới nguồn lực con người là nói đến số lượng, chất lượng, và cơ cấu
nguồn nhân lực. Số lượng và chất lượng nguồn lực con người có quan hệ với nhau một
cách chặt chẽ. Nếu số lượng nguồn lực con người quá ít sẽ gây khó khăn cho việc phân
9


công lao động xã hội và do vậy chất lượng lao động cuãng bị hạn chế. Chất lượng nguồn
lực con người nâng cao sẽ góp phần làm giảm số lượng người hoạt động trong một đơn vị
sản xuất, kinh doanh hay giảm số lượng người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng
thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động
sản xuất, hoạt động xã hội.
Nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất
lượng và cơ cấu phát triển người lao động nói chung cả ở hiện tại và tương lai, tiềm năng
của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.Để đáp ứng yêu cầu
phát triển kinh tế và nhu cầu sử dụng lao động, những người lao động phải được đào tạo,
phân bổ và sử dụng theo cơ cấu hợp lý, đảm bảo tính hiệu quả cao trong sử dụng. Một
quốc gia có lực lượng lao động đông đảo, nhưng nếu phân bổ không hợp lý giữa các
ngành, các vùng, cơ cấu đạo tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng thì lực lượng lao
động đó không những không trở thành nguồn lực để phát triển, mà nhiều khi còn là gánh
nặng cản trở sự phát triển của tổ chức.
Nguồn nhân lực xã hội là khái niệm gắn liền với khái niệm dân số và lao động.
thông qua đó mà người ta có thể xác định được cụ thể nguồn nhân lực toàn xã hội tại thời
điểm nhất định, nguồn nhân lực xã hội được coi là bộ phận quan trọng của dân số, là
nguồn lao động tiềm tàng của mỗi quốc gia.
Nguồn nhân lực trong tổ chức là nguồn lực con người, nhân tố con người trong
một tổ chức cụ thể (Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học, bệnh viện...) “Là tổng
số cán bộ, nhân viên có trong danh sách hoạt động theo các nhiệm vụ của tổ chức và
được tổ chức trả lương”.
1.1.2. Vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

gay gắt của thị trường thì nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao càng thể hiện
rõ vai trò quyết định của mình đối với sự hình thành và phát triển của ngành du lịch mỗi
quốc gia.
11


Nếu một quốc gia có những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, những di
sản thiên nhiên và văn hóa nổi tiếng, nhưng lực lượng lao động (nguồn nhân lực) của
ngành du lịch lại có trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ kém hay tinh thần phục vụ
không tốt thì cũng không thu hút được khách đến tham quan, tìm hiểu. Hoặc sự quay trở
lại lần hai của các khách du lịch là rất thấp nếu chưa nói là không có.
Ngược lại một quốc gia tuy không có nhiều điều kiện thuận lợi về tài nguyên thiên
nhiên, các danh lam thắng cảnh. Nhưng ở đó có một nền văn hóa tiên tiến, con người văn
minh, mến khách, nguồn nhân lực và trình độ có chất lượng cao, luôn tận tình với công
việc thì vẫn có thể thu hút khách muôn phương đến thăm quan tìm hiểu về nền văn hóa
của đất nước mình. Điều này mang lại những lợi ích không nhỏ về kinh tế - xã hội cho
mỗ quốc gia.
Hội nghị lần thứ II (khóa VIII) của Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt
Nam đã đưa ra những định hướng chiến lược của Đảng về phát triển giáo dục – đào tạo
trong thời kỳ mới, có vai trò quan trọng đối với việc hình thành quy mô chất lượng nguồn
nhân lực của đất nước.
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng quyết định đến sự thành công của sự
nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội. Nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển hay
không, phần lớn đều phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực.
Mục tiêu của phát tiển nguồn nhân lực Việt Nam là đáp ứng sự nghiệp công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước, đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Đại hội lần thứ X của Đảng đã định hướng cho sự phát triển của nguồn nhân lực Việt
Nam: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được
đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa
học, công nghệ hiện đại”.

trong điều kiện kinh tế xã hội nhất định, là sự tổng hòa các mối quan hệ và hiện tượng do

13


việc các lữ hành tạo nên để thỏa mãn mục đích chủ yếu là nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí
và văn hóa nhưng lưu động chứ không cố định mà tạm thời cư trú của mọi người dẫn tới.
Hội nghị quốc tế về Du lịch và lữ hành được tổ chức ở Ottawa – Canada vào tháng
6/1991 đã thống nhất và đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: “Du lịch bao gồm tất cả
những hoạt động của người tu hành, tạm trú với mục đích tham quan, khám phá hoặc với
mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn; cũng như mục đích kinh doanh và những mục đích
khác nữa, trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường
sống định cư”.
Ngành Du lịch Việt Nam có lịch sử phát triển 50 năm, nhưng chỉ thực sự phát thiển
nhanh vào những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước. Nếu so sánh với các ngành kinh tế
khác, Du lịch được xếp vào một trong những ngành mới. Do đó hệ thống các thuật ngữ,
khái niệm cơ bản của ngành du lịch chỉ mới được chuẩn hóa trong thời gian gần đây.
Ở Việt Nam, quan niệm về Du lịch được cụ thể hóa trong Pháp lệnh Du lịch được
Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 08/12/1999 và trong điều 4 Luật Du lịch
được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2005, khái
niệm “Du lịch” cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy thuộc cách tiếp cận của
mỗi tác giả.
Tại khoản 1 điều 4 Chương 1 Luật Du lịch năm 2005 nước ta nêu rõ: “Du lịch là
hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định” [2.tr1].
Đây là một định nghĩa xúc tích, mang tính khái quát, bao hàm được cả hai khía
cạnh cơ bản của du lịch là chuyến đi ngoài nơi cư trú với mục đích tham quan nghỉ dưỡng
và các hoạt động liên quan đến chuyến đi đó. Do vậy, đề tài chọn cách định nghĩa này
của Luật Du lịch.


15


phân loại đều có ý nghĩa nhất định, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng
cách phân loại này hay phân loại khác. Dưới đây là một số loại hình chủ yếu:
Một là, căn cứ vào tính chất của sản phẩm du lịch hay tài nguyên du lịch thì có loại
hình du lịch sinh thái và du lịch văn hóa:
Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa
địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững.
Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham
gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống.
Hai là, căn cứ vào nhu cầu và mục đích của chuyến đi, du lịch được phân ra: Du
lịch nghỉ ngơi, du lịch văn hóa, du lịch thể thao, du lịch công vụ, du lịch chữa bệnh, du
lịch thăm hỏi, du lịch tín ngưỡng...
Ba là, căn cứ vào phạm vi lãnh thổ chuyến đi, du lịch được phân ra thành du lịch
quốc tế và du lịch nội địa. Du lịch quốc tế là loại hình du lịch mà điểm xuất phát và điểm
đến của du khách ở những quốc gia khác nhau, gồm du lịch quốc tế chủ động và thụ
động. du lịch quốc tể chủ động là việc nhận du khách quốc tế vào nước mình. Du lịch
quốc tế thụ động là việc đa du khách nước mình đến các nước khác. Còn du lịch nội địa
thì ngược lại, khách du lịch nội địa chỉ đi và đến các điểm du lịch trong phạm vi nước
mình.
Bốn là, căn cứ vào thành phần xã hội của du khách có du lịch cao cấp và du lịch
bình dân. Du lịch cao cấp là loại hình du lịch dành cho những người có khả năng thanh
toán cao. Ở thể loại này, các dịch vụ dành cho khách phải có chất lượng đặc biệt tốt và
với mức giá cao. Còn du lịch bình dân là loại hình du lịch dành cho những người có khả
năng thanh toán hạn chế, và do đó chất lượng dịch vụ ở loại hình này bình thường với
mức giá thấp.
Năm là, căn cứ vào phương tiện giao thông mà du khách đang sử dụng, du lịch
được phân thành: Du lịch xe đạp, du lịch mô tô, du lịch ô tô, du lịch tàu hỏa, du lịch tàu

17


giải khát, công ty phát hành thẻ tín dụng, công ty vận tải, thương mại bán buôn, bán lẻ
hàng hóa, vệ sinh môi trường, cung cấp điện, nước, kĩ thuật, sức khỏe, y tế...
c) Hoạt động của các cơ qian quản lí nhà nước chuyên ngành có liên quan đến
hoạch định chính sách, điều hành, kiểm soát, quản lí các dịch vụ phục vụ du lịch như: cơ
quan cấp phép, đăng kinh doanh, cơ quan đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội, cơ quan
quản lý rừng quốc gia, bảo tồn thiên nhiên, cơ quan quản lý văn hóa...
d) Hoạt động của cộng đồng dân cư liên quan đến phục vụ du lịch như: Các gia
đình, cá nhân, các tổ chức cộng đồng của đan tộc ít người tham gia quá trình phục vụ
khách du lịch một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
e) Hoạt động của các đơn vị đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp du
lịch tuyến trước và tuyến sau.
Như vậy, xét một cách tổng quát, nguồn nhân lực ngành du lịch bao gồm toàn bộ
lao động trực tiếp và gián tiếp liên quan đến quá trình phục vụ khách du lịch. Do đó, khi
đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực ngành Du lịch thì không chỉ đề cập đến các lao
động nghiệp vụ phục vụ khách một cách trực tiếp mà còn cả các lao động ở cấp độ quản
lý, lao động làm công tác đào tạo và các lao động gián tiếp khác phục vụ khách du lịch.
Căn cứ vào mối liên hệ với đối tượng lao động (khách du lịch), lao động du lịch được
chia thành hai nhóm: lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp bao gồm
những công việc trực tiếp phục vụ khách du lịch như trong khách sạn, nhà hành, lữ hành,
các cửa hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, cơ quan quản lý du lịch ... Lao động gián tiếp
bao gồm những công việc cung ứng, hỗ trợ cho các hoạt động trực tiếp phục vụ khách du
lịch như: cung ứng thực phẩm cho khách sạn nhà hàng, cung ứng hàng hóa cho các cửa
hàng bán lẻ phục vụ khách du lịch, xây dựng khách sạn nhà hàng, sản xuất máy bay, các
trang thiết bị phục vụ khách du lịch ...Tất nhiên các lao động trực tiếp phục vụ khách du
lịch bao giờ cũng có ảnh hưởng trực tiếp và lớn nhất đến chất lượng dịch vụ, từ đó đến
chất lượng sản phẩm du lịch.


19


thuật ngành, vì vậy phần lớn lao động đã qua đào tạo đều làm việc tại những khu du lịch,
trung tâm du lịch lớn, ở những khu vực còn lại thường thiếu lao động.
Trong ngành du lịch có nhiều công việc với yêu cầu lao động giản đơn, không đòi
hỏi phải đào tạo ở trình độ cao mới thể hiện được, dẫn đến tình trạng lao động chưa tốt
nghiêp trung học phổ thông khá cao. Ngược lại ở những bộ phận tiếp xúc trực tiếp với
khách du lịch, đội ngũ lao động thường được trang bị đầy đủ các kỹ năng về chuyên môn
nghiệp vụ, giao tiếp và tỷ lệ thông thạo ngoại ngữ tương đối cao.
+ Có sự biến đông về lao động theo thời gian trong năm: Do ảnh hưởng của tính
thời vụ du lịch các hoạt động du lịch thường diễn ra sôi dộng trong một thời gian nhất
định của năm (Còn gọi là mùa cao điểm) vào thời điểm cao nhất của mùa du lịch các
doanh nghiệp du lịch thương tuyển thêm lao động thời vụ dể đáp ứng nhu cầu kinh
doanh, phục vụ khách của mình. Đến mùa thấp điểm, doanh nghiệp du lịch chấm dứt
hợp đồng lao động với những lao động thời vụ. Lực lượng lao động làm việc trực tiếp
trong các doanh nghiệp du lịch lại được chia thành 4 nhóm cơ bản với vai trò và đặc
trưng khác nhau trong quá trình hoạt động kinh doanh du lịch:
a) Nhóm lao động có chức năng quản lý chung: Nhóm này gồm những người đứng
đầu những các đơn vị kinh tế cơ sở. Lao động của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh
doanh du lịch có những điểm riêng biệt, bởi đối tượng, công cụ và sản phẩm lao động
của họ có tính đặc thù, thể hiện:
- Là loại lao động trí óc đặc biệt: Trong quá trình ra quyết định và chức thực hiện
rõ nét nhất đặc điểm lao động trí óc của người lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh du
lịch.
- Là loại lao động tổng hợp: Với tư cách là một nhà chuyên môn, lao động của lãnh
đạo là lao động của người tìm kiếm nhân tài, sử dụng người giỏi, tổ chức và điều hành
công việc một cách trôi chảy cho mục đích kinh doanh có hiệu quả cao. Với tư cách là
nhà hoạt động xã hội, người lãnh đạo trong kinh doanh du lịch còn tham gia các hoạt


21


trạng sẵn sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ; có những quyết định kịp thời; giải quyết tốt
mọi công việc hàng ngày cũng như những việc đột xuất; năng động và linh hoạt trong quá
trình thực hiện nhiệm vụ.
d) Nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách: Đây là những lao động
trực tiếp tham gia vào quá trình kinh doanh du lịch, trực tiếp cung cấp dịch vụ và phục vụ
cho khách. Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau và đòi
hỏi phải tinh thông nghề nghiệp. Trong khách sạn có lao động thuộc nghề lễ tân; nghề
buồng; nghề chế biến món ăn; nghề bàn và pha chế đồ uống; trong kinh doanh lữ hành có
lao động làm công tác điều hành du lịch; marketing du lịch và đặc biệt có lao động thuộc
nghề hướng dẫn du lịch...Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề
điều khiển phương tiện vận chuyển du lịch...Các nghề trên lại được chi tiết hóa thành
từng việc cụ thể, phân công cho từng chức danh nghề nghiệp khác nhau và số lượng tùy
theo quy mô cảu các doanh nghiệp mà có thể thêm bớt lao động ở các vị trí, hoặc bố trí
một người kiêm nhiều việc.
Kinh doanh du lịch là chủ yếu nhằm cung cấp các dịch vụ và giải quyết các mối
quan hệ giữa con người với con người, nên đòi hỏi nhân viên phải có kỹ năng giao tiếp,
sự thân thiện và hình thức hấp dẫn...Đặc biệt một số công việc trong ngành khách sạn và
nhà hàng tương tự như các hoạt động nội trợ trong gia đình. Do các đặc điểm này, lực
lượng phụ nữ tham gia lao động trong ngành du lịch thường chiếm tỷ trọng cao.
Ngoài ra, kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của du khách về
nhiều loại hàng hóa, dịch vụ mang tính chất đơn lẻ hoặc tổng hợp, ở bất cứ địa điểm nào
và bất cứ thời gian nào. Các đặc điểm sản phẩm và tiêu dùng du lịch này tạo ra nhiều loại
công việc có thể thu hút sự tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều loại, nhiều bộ phận
lao động trong xã hội. Do đó càng làm tăng khả năng cung (về số lượng) lao động du lịch
trên thị trường và sự tham gia lao động trong ngành du lịch là rất cao. Vấn đề này có ý
nghĩa rất lớn đối với các nước kém phát triển, vì các nước này có nguồn lao động dồi dào
và dân số trong độ tuổi lao động nhưng lại có trình độ chuyên môn thấp.

Quảng Ninh là một tỉnh duyên hải ở đầu phía Đông Bắc Việt Nam, diện tích 6110
đất liền, 619,9
Với vị trí từ

diện tích đảo, 6000
sang

mặt nước biển.

kinh Đông và từ

lên

vĩ Bắc với chiều ngang

từ Đông sang Tây 195 km và chiều dọc từ Bắc xuống Nam 102 km, có 250 km đường bờ
biển. Đặc biệt phía bắc tỉnh Quảng Ninh có 132 km đường biên giới Việt – Trung với 3
cửa khẩu quốc tế, tiếp giáp với vùng duyên hải rộng lớn của miền nam Trung Hoa. Tỉnh
Quảng Ninh trở thành đơn vị hành chính – kinh tế trọng điểm của phía bắc nước ta nằm
trên đường giao lưu đường biển – trục hành chính từ Trung Quốc đến vịnh Bắc Bộ, vào
các cảng lớn phía bắc của Việt Nam và vào phần phía nam biển Đông đến các quốc gia
lân cận vùng Đông Nam Á.
Sự hội tụ giữa vị trí địa lý và cấu trúc cảnh quan cả trên đất liền và trên biển tạo
cho Quảng Ninh sức thu hút du khách thập phương về đây thưởng ngoạn, tham thú những
nét hấp dẫn của thắng cảnh trên một vùng thiên nhiên độc đáo, đưa Quảng Ninh vào vị
thế phát triển kinh tế du lịch vào bậc nhất quốc gia cũng như trong khu vực.
Khí hậu Quảng Ninh là nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt. Mùa khô được được
phân định từ tháng 10 đến tháng 4 với nhiệt độ trung bình từ
24


độ trung bình từ

C đến

C, lưu lượng dưới 1000

/ngày là những mỏ nước khoáng

có giá trị hoàn toàn có thể trở thành những trung tâm chữa bệnh, bồi bổ sức khỏe và phục
vụ khách du lịch nghỉ dưỡng.
Quảng Ninh có nhiều danh lam thắng cảnh có khả năng khai thác phục vụ kinh
doanh du lịch:
- Các di tích lịch sử và danh thắng: Nổi bật là dãy núi Yên Tử (Thị xã Uông Bí),
khu di tích nhà Trần (Đông Triều); Cụm di tích chiếm thắng Bạch Đằng là vùng nước
lịch sử ghi lại nghệ thuật quân sự và chiến lược chiến tranh nhân dân của các triều đại
phong kiến Việt Nam chống lại các tập đoàn phong kiến phương Bắc, được thể hiện ở ba
lần đại thắng quân xâm lược của Ngô Quyền (năm 938), Lê Hoàn (năm 918), Trần Hưng
Đạo (năm 1288), di tích thương cảng Vân Đồn và cụm di tích tịch lịch sử và danh thắng
núi bài thơ (Thành phố Hạ long); đền Cửa Ông (Thị xã Cẩm Phả); Miếu Tiên Công
(Huyện Yên Hưng).
- Các di tích kiến trúc nghệ thuật: Chùa Quỳnh Lâm được triều nhà Lý xây dựng
vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057), đình Phong Cốc được xây dựng vào cuối
thế kỉ XVII xếp hạng di tích quốc gia (1988), chùa Nam Thọ (Trà Cổ - Móng Cái), chùa
25


Trích đoạn Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du Xây dựng chiến lược tổng thể phát triển nguồn nhân lực ngành Hoàn thiện chính sách đàotạo, bồi dưỡng lao động trong ngành Hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền thưởng trong ngành du Xây dựng chương trình phát triển nguồn nhân lực du lịch trong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status