Chủ đề 1: “Vì sao Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ chí minh
làm nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho moi hành đọng của Đảng”.
BÀI LÀM
Thắng lợi của cách mạng nước ta nói chung cũng như sự trưởng thành, lớn
mạnh của Đảng cộng sản Việt Nam gần một thế kỷ qua nói riêng là kết quả tổng
hợp của rất nhiều yếu tố. Nhưng có một thực tế không thể phủ nhận, đó là nhờ
Đảng ta đã được vũ trang bằng lý luận cách mạng và khoa học nhất của thời đại:
chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong thời kỳ cách mạng mới,
việc tiếp tục kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam vẫn là một tất yếu khách quan, là
một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc, đồng thời là
một bộ phận của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đảng lấy chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam
cho hành động. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, thể hiện bản chất giai cấp
công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Đảng, thể hiện lập trường kiên
định của Đảng trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp của tình hình,
đồng thời là tiêu chuẩn cơ bản phân biệt Đảng Cộng sản với các đảng phái
khác. Khẳng định diều này ngay từ luận cương chính trị 1930 đã khẳng định:
"Điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần
phải có một Đảng Cộng sản có một đường lối chánh trị đúng, có kỷ luật, tập
trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải đấu tranh mà trưởng thành.
Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm
gốc". Tiếp đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) đã
thông qua "Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ” trong đó khẳng
định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư
1
1
“Vật chất là một phạm trù TH dùng để chỉ thực tại khách quan, được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và
tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Phân tích định nghĩa :Vật chất là 1 phạm trù TH, thì nó khác với vật chất trong KHTN
và trong đời sống hàng ngày:
Vật chất trong KHTN, trong đời sống hàng ngày là các dạng vật chất cụ thể, tồn tại
hữu hình, hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác.
Chúng bao gồm vật chất dưới dạng hạt, trường, trong TN, XH, dưới dạng vĩ mô, vi
mô rất phong phú đa dạng.
Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức là vật chất đã được khái quát từ tất cả
các sinh vật cụ thể. Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi đầu, không có
kết thúc, không được sinh ra, không bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế
không thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó.
Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. Nghĩa là vật
chất là tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên ngoài, độc lập với cảm
giác, ý thức con người, không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức. Đây là thuộc tính quan
trọng nhất của vật chất, là tiêu chuẩn để phân biệt cái gì là vật chất, cái gì không là
vật chất. Điều đó khẳng định vật chất có trước, cảm giác ý thức có sau, vật chất là
nguồn gốc khách quan của cảm giác, của ý thức.
Vật chất tồn tại không huyền bí mà nó là “thực tại khách quan được đem lại cho con
người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh“.
Điều này khẳng định con người có khả năng nhận thức thế giới vật chất, chỉ có
những điều chưa biết chứ không thể có những điều không biết.
3. Ý nghĩa phương pháp luận.– Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có
trướ c, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý th ức, song ý th ức có thể tác động tr ở lại vật
chất thông qua hoạt động thực tiễn của con ng ười; vì vậy con ng ười phải tôn trọng tính khách
quan, đồng thời phát huy tính năng động, chủ quan của mình. Nếu không tôn trọng tính khách
quan sẽ dễ dẫn đến bệnh chủ quan.– Ý có thể quyết định làm cho con ng ười hoạt động đúng và
thành công khi phản ánh đúng đắn, sâu sắc thế gi ới khách quan. Ng ược lại, ý th ức, t ư t ưởng có
thể làm cho con ngườ i hoạt động sai và thất bại khi con ng ười phản ánh sai thế gi ới khách quan.
+ Nhảy vọt: Sự biến đổi về chất gọi là nhảy vọt, đó là bước ngoặt trong sự biến đổi dẫn đến về
lượng.
+ Điểm nút giới hạn mà đến xảy ra nhảy vọt gọi là điểm nút.
2) Phân tích nội dung quy luật lượng-chất.
a) Những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất:
Quá trình vận động, phát triển của sự vật diễn ra bằng cách lượng đổi dẫn đến chất đổi. Sự vật
tồn tại trong sự thống nhất giữa chất và lượng. Chất lượng tương đồng qua lại lẫn nhau. Lượng
biến đổi dẫn đến tăng hoặc giảm trong giới hạn đó. Sự thay đổi về lượng chất làm thay đổi
hoàn toàn về chất, nhưng ảnh hưởng đến trạng thái của chất. Lượng phát triển đến một mức độ
nhất định hết giới hạn đó thì đó chính là điểm nút ở đây xảy ra nhảy vọt. Đó là sự chuyển biến
về chất, chất cũ mất đi, chất mới ra đời thay thế cho sự vật cũ mất đi nhường chỗ cho sự vật
mới ra đời. Nhảy vọt kết thúc một giai đoạn biến đổi về lượng, nó là sự gián đoạn trong quá
5
5
trình vận động liên tục của sự vật nhưng nó không chấm dứt sự vận động mà chỉ chấm dứt
một dạng tồn tại của sự vật, chấm dứt một giai đoạn vận động này sang một giai đoạn vận
động khác.
b) Chất mới ra đời tác động đến sự biến đổi của lượng. Chất mới ra đời tạo mọi sự thống nhất
mới giữa chất và lượng và đổi mới.
Chất mới hình thành quy định sự biến đổi của lượng. Sự ảnh hưởng của chất đến lượng có thể
biểu hiện ở quy mô, mức độ, nhịp điệu phát triển của lượng mới. Trong sự vật mới, lượng lại
tiếp tục biến đổi dẫn đến đến hết giới hạn đó, đó là điểm nút, ở đây lại xảy ra nhảy vọt và có
sự chuyển biến về chất, chất mới ra đời, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời thay thế cho nó. Sự
ra đời của chất mới lại tác động đến sự biến đổi của lượng mới, cứ như vậy, hiện tượng vận
động, phát triển lúc thì dẫn đến lượng, lúc thì nhảy vọt về chất.
3) ý nghĩa của việc nắm vững quy luật này trong hoạt động thực tiễn.
- Việc nắm vững mối liên hệ biện chứng giữa thay đổi về chất có ý nghĩa phương pháp luận
LLSX để xác lập QHSX mới phù hợp với yêu cầu phát triển của LLSX (Trong xã hội có giai
cấp đối kháng, LLSX và QHSX thường dẫn đến đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao của nó là
CMXH
*Thứ 2: QHSX tác động trở lại TLSX (QHSX được hình thành, biến đổi theo yêu cầu phát
triển của LLSX song nó có tính độc lập tương đối) sự tác động trở lại của QHSX đối với
LLSX diễn ra theo 2 xu hướng:
+ Nếu QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì sẽ thúc đẩy LLSX phát triển.
7
7
+ Nếu QHSX không phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX thì sẽ kìm hãm sự phát triển
của LLSX, với hai nền sản xuất có LLSX tương đương (Cơ khí, đại công nghiệp...) song tính
chất của QHSX khác nhau sẽ dẫn đến mục đích của sản xuất năng xuất lao động khác nhau.
Chú ý: QHSX có thể tác động mở đường cùng với sự phát triển của LLSX tác dụng đó có giới
hạn của nó. Bao giờ QHSX cũng bị LLSX quyết định. Như vậy có thể nói, sự liên hệ tác động
qua lại biện chứng giữa LLSX và QHSX trong một phương thức SX đã hình thành nên quy
luật phổ biến của toàn bộ lịch sử xã hội loài người: quy luật về sự phù hợp của QHSX với tính
chất và trình độ của LLSX quy luật này chi phối toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại nó làm
cho lịch sử là một dòng chảy liên tục xong máng tính dán đoạn. Trong từng giai đoạn lịch sử,
quy luật này có những biểu hiện đặc thù của nó.
c) ý nghĩa
Quy luật QHSX phù hợp với tính chất và trình độ của LLSX nói lên rằng nền sản xuất của xã
hội chỉ có thể được phát triển trên cơ sở QHSX phải phù hợp với LLSX, cho nên hiểu
và vận dụng đúng quy luật này có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển sản xuất.
Trước đây ta đã chưa nhận thức và vận dụng đúng quy luật này thể hiện xây dựng QHSX quá
cao quá xa so với tính chất và trình độ của LLSX chưa quan tâm chú ý đầy đủ đến các mặt
QHSX.
hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với nó là xã hội cộng sản là trong xã hội tư bản chủ nghĩa
quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở
hữu phải thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định. Còn chủ nghĩa cộng sản và
phần lớn trường phái chủ nghĩa xã hội công nhận quyền sở hữu tập thể và nhà nước đối với phương
tiện sản xuất.
Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân để tự do kinh doanh bằng
hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị
trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia
vào quá trình kinh tế. Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế
chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Có thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư
nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao
động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa.
10
10