Đề TàI :
TạI SAO NƯớC TA PHảI CHủ ĐộNG THAM GIA VàO QUốC
Tế HOá- TOàN CầU HOá KINH Tế. CáC GIảI PHáP CƠ BảN CủA
NƯớC TA THAM GIA VàO XU HƯớNG TRấN.
Nhận xét của giáo viên :
- Lý luận :
- Thực tiễn :
- Điểm :
1
A/ PHầN Mở ĐầU
Thế kỷ hai mươi đã qua với nhiều diễn biến thăng trầm của lịch sử đất nước ta,
một nước nông nghiệp lạc hậu đã trải qua bao cuộc chiến tranh giành độc lập tự do
đã bị tàn phá nặng nề cả về nguồn lao động, tài nguyên lẫn kinh tế và văn hoá xã
hội. Mặc dù chiến tranh đã qua đi, nước ta đang chuyển mình, trong mười lăm năm
đổi mới đã có nhiều bước tiến vượt bậc trong tư duy lý luận, trong phương thức
lãnh đạo của Đảng và nhà nước cũng như trong kinh tế- xã hội, đạt được nhiều
thành tựu to lớn. Song trên thực tế nước ta vẫn là một nước nghèo, lạc hậu so với
thế giới. Đối với các nước phát triển chúng ta còn cách xa họ rất nhiều cả về kinh tế
còng nh khoa học, công nghệ. Vì vậy mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động tham
gia vào quốc tế hoỏ- toàn cầu hoá là vấn đề cần thiết và không thể thiếu được trên
con đường đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Thế kỷ 21 đã đến vấn đề tham gia vào quốc tế hoá- toàn cầu hoá kinh tế càng
trở nên cấp thiết hơn, nó có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Nó
không chỉ tạo ra khả năng và điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế- xã hội, học
hỏi tiếp thu công nghệ mới, mở rộng quan hệ với bạn bè quốc tế mà đồng thời cũng
là một thách thức lớn đối với nước ta.
Với tầm quan trọng như vậy, việc chủ động tham gia vàoquốc tế hoá - toàn cầu
hoá kinh tế đã được Đảng và nhà nước quan tâm, đổi mới, vạch ra đường lối đối
ngoại độc lập tự chủ rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá, đem lại nhiều thành tựu
góp phần tạo nên thế và lực mới. Tuy nhiên vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Vấn đề
đặt ra là cần phải có những biện pháp gì và thực hiện nh thế nào để chúng ta có thể
4
Để hiểu rõ một cách sâu sắc, toàn diện vấn đề quốctế hoá- toàn cầu hoá kinh tế
ta cần hiểu lịch sử phát triển của nó. Nhiều nhà kinh tế cho rằng xu thế toàn cầu hoá
kinh tế đã hình thành và phát triển qua chặng dường khá dài. Tính đến nay thế giới
đã ba lần “toàn cầu hoỏ” và lần này là lần thứ tư. Nhưng theo quan niệm của C.Mỏc
và Ănghen thì xu hướng toàn cầu hoá kinh tế có từ khi đại công nghiệp tư bản chủ
nghĩahỡnh thành. Trong “tuyờn ngụn của Đảng cộng sản” các ông đã viết, “…Vỡ
luụn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư bản xâm
lấn khắp toàn cầu.Nú phải xâm nhập vào khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới,
giai cấp tư bản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất
thế giới”. Tuy nhiên theo quan niệm của các nhà nghiên cứu hiện nay thì toàn cầu
hoá đúng với nghĩa của nó chỉ hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh
chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhất từ là khi các cường quốc tư bản chủ
nghĩa đã phân chia xong thế giới về lãnh thổ chính trị. Tuy có sự khác nhau nhất
định trong việc phân kỳ lịch sử hình thành quá trình toàn cầu hoá nhưng các nhà
nghiên cứu về cơ bản đốu cú sự tương đồng. Họ đều cho rằng toàn cầu hoá kinh tế
và quốc tế hoá kinh tế là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đều là tất yếu
của lịch sử, tuy nhiên toàn cầu hoá kinh tế là sự quốc tế hoá đến độ nhuần nhuyễn
hay nói cách khác quốc tế hoá là cơ sở, là tiền đề của toàn cầu hoá kinh tế. Tuy
nhiên theo quan niệm của các nhà nghiên cứu hiện nay thì toàn cầu hoá đúng với
nghĩa của nó chỉ hình thành từ khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh chuyển thành
chủ nghĩa tư bản độc quyền, nhất từ là khi các cường quốc tư bản chủ nghĩa đã
phân chia xong thế giới về lãnh thổ chính trị. Tuy có sự khác nhau nhất định trong
việc phân kỳ lịch sử hình thành quá trình toàn cầu hoá nhưng các nhà nghiên cứu về
cơ bản đèu có sự tương đồng. Họ đều cho rằng toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá
kinh tế là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đều là tất yếu của lịch sử, tuy
nhiên toàn cầu hoá kinh tế là sự quốc tế hoá đến độ nhuần nhuyễn hay nói cách
khác quốc tế hoá là cơ sở, là tiền đề của toàn cầu hoá kinh tế.
5
2. Những tác động của toàn cầu hoá.
thế giới tăng hai lần(đầu thế kỷ đến năm 1947), nhưng từ sau đó đến đấu những
năm90 của thế kỷ trước đã tăng 50 lần, có sự ra tăng mạnh mẽ của việc buôn bán
như vậy là nhờ hàng rào thuế quan và phi thuế quan thuyên giảm đáng kể.
Dưới tác động của quá trình toàn cầu hoá , những thành tựu khoa học và công nghệ
được chuyển giao nhanh chóng, ứng dụng rộng rãi, qua đó các nước đi sau trong sự
phát triển kinh tế có điều kiện tiếp cận với chúng để phát triển.
Với xu thế toàn cầu hoỏ, dũng vốn cũng vượt qua biên giới quốc gia, nhiều
hình thức đầu tư, hợp tác sản xuất , góp phần điều hoà dòng vốn theo lợi thế so
sánh, giỳp cỏc nước tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ từ bên ngoài, hình thành
sự phân công lao động quốc tế có lợi cho cả bên đầu tư lẫn bên tiếp thu. Tổng số
vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng: năm 1997 gấp 800 lần năm 1914. Đặc biệt
là đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ. Đầu những năm 90 có khoảng 50,17% vốn đầu tư
nước ngoài của các nước phát triển dành cho các ngành dịch vụ, tỷ trọng đó của các
nước đang phát triển cũng là29,5%. Sở dĩ được như vậy là bởi vì các ngành công
nghiệp hiện nay đã ở tình trạng bão hoà, Ýt không gian mới, trong khi đó ngành
dịnh vụ được xây dựng trên nền tảng vốn doanh nghiệp, chu kỳ kinh doanh ngắn
hiệu quả nhanh nờn cỏc nhà đầu tư thích bỏ vốn vào các lĩnh vực này và xu hướng
đầu tư vào các ngành này sẽ có thể tăng nhanh trong những thập kỷ tới. Không chỉ
riờng ngành dịch vụ mà các ngành khác tổng đầu tư cũng tăng, do lĩnh vực sản xuất
và thị trường tiền tệ ngày càng thống nhất. Đến cuối năm 1993, tổng đầu tư trực
tiếp vào các ngành đạt hơn hai tỷ USD, Gấp 210 lần năm 1953, đầu tư nước
ngoàicủa thị trường tiền tệ là 1,776 tỷ USD, gấp150 lần năm 1953. Đến cuối những
7
năm 90 con số này tăng lên 4000 tỷ và hơn 48000 tỷ USD, xu thế tăng trưởng rất rõ
rệt. Đồng thời, hệ thống phân công sản xuất cùng ngành nghề mang tính toàn cầu
hoá đang hình thành. Theo điều tra của bộ kinh tế Pháp cùng với công ty Anđasen
và hội nghị phát triển thương mại liên hợp quốc tiến hành từ năm1996 đến năm
2002 với 300 công ty lớn đã cho thấy, tỷ trọng buôn bán của các công ty con đặt tại
nước ngoài trong tổng kim ngạch của các công ty mẹ sẽ tăng lên từ 47% đến 56%,
tỷ trọng giá trị sản phẩm từ 35%đến 42%. Mạng lưới sản xuất mang tính toàn cầu
hơn 160 nước tham gia dưới các loại hình và mức độ khác nhau. Sù ra tăng nhanh
của các tổ chức này góp phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hoá kinh tế , việc
giao lưu trao đổi các hoạt động kinh tế để tìm kiếm lợi Ých giữa các nền kinh tế,
các khu vực kinh tế ngày mội gia tăng làm cho nền kinh tế mỗi quốc gia, mỗi khu
vực trở thành một bộ phận của kinh tế thế giới , hình thành một cục diện kinh tế thế
giới mới mà trong đó các thành viên vừa đấu tranh vừa hợp tác và cùng nhau phát
triển. Góp phần giảm thiểu các chướng ngại tronh việc chuyển giao vốn, hàng
hoá,dịch vụ, nguồn nhân lực…giữa các nền kinh tế, các khu vực kinh tÕ làm tăng
vai trò đối ngoại, mậu dịch và đầu tư nước ngoài, giúp việc phân bố các nguồn lực
trên thế giới hợp lý và có hiệu quả hơn.
Ngoài những mặt tích cực về kinh tế, toàn cầu hoá kinh tế còn làm gia tăng
tính tuỳ thuộc lẫn nhau có lợi cho cuộc đấu tranh cho hoà bình, hợp tác và phát
triển . Các thành tựu văn hoá cũng được chuyển tải nhanh chóng hôn qua những
phương tiện hiện đại.
b. Tác động tiêu cực.
Mặc dù có rất nhiều mặt thuận lợi, song vấn đề toàn cầu hoá kinh tế vẫn khụng
ttrỏnh khỏi những tiêu cực đặc biệt là trong chính trị.
9
Trong điều kiện hiện nay, có thể nói toàn cầu hoá phát triển chưa đầy đủ, nhà
nước cộng đồng trong chủ thể quốc tế , mét số nước lớn và các tập đoàn kinh tế lớn,
xuất phát từ việc duy trì lợi Ých quốc gia và lợi Ých tập đoàn, có thể tiền hành
những can thiệp xuyên quốc gia đối với các nước khác, hay nói cách khác trong quá
trình bành chướng ra toàn cầu, các nước lớn và các công ty xuyên quốc gia vì lợi
Ých của mình có thể lợi dụng sức mạnh kinh tế của mình để thực hiện những can
thiệp chính trị ddối với các nước khác. Hình thức can thiệp chủ yếulà : mượn chiêu
bài duy trì chuẩn mực và quy tắc quốc tế để can thiệp vào công việc nội chính và
ngoại giao của các nước khác. Lấy lý do bảo vệ an ninh quốc tế và thực thi chủ
nghĩa nhõn đạo để thực hiện can thiệp xuyên quốc giađối với các nước khác bất
chấp cả việc có vi phạm chuẩn mực và nguyên tắc quốc tế hiện hành hay không?
Nguyên nhân cơ bản vẫn là các nước công nghiệp phát triển – nhất là Mỹ hiện nay
tuyệt đối trong việc hoạch định và thục thi chính sách kinh tế. Đồng thời sức mạnh
kinh tế của các nước phát triển mà trọng tâm của nó là các cong ty xuyên quốc gia
góp phần làm giảm quyền lực nhà nước dõn tộc, trong khi đó quyền lực của các
nước tư bản và các công ty xuyên quốc gia không ngừng tăng lên. Bởi lẽ, khi các
hoạt động giao lưu kinh tế thương mại quốc tế ngày càng mạnh mẽ thỡ trờn thế giới
vai trò của quốc gia dõn tộc ngày càng mất đi những ý nghĩa nhiều mặt của nó. Các
truyền thống văn hoá, truyền thống dõn tộc, sắc thái dõn tộc nếu không có sự bảo
vệ giữ gìn sẽ bị băng hoại dần. Trong khi đó chủ nghĩa bá quyền văn hoá phát triển
ngày càng mạnh, nhất là líp trẻ với sự sùng bái một cách nghiện ngập các văn hoá
phẩm Âu- Mỹ, đã góp phần đẩy nhanh quá trình đó. Bởi vậy, thế giới sẽ mất dần
tớnh đa dạng và phong phú của nó. Toàn cầu hoá kinh tế, khoa học và công nghệ
11
cũng kéo theo cả những tội phạm xuyên quốc gia, truyền bá nền “văn hoỏ” phi
nhân bản, không lành mạnh, băng hoại đạo đức, xâm hại bản sắc dõn tộc.
Nền kinh tế toàn cầu hoá là một nền kinh tế rất dễ bị chấn thương, sự trục trặc
ở một khâu có thể lan nhanh ra phạm vi toàn cầu. Nhất là trong lĩnh vực tài chính-
tiền tệ, các nước lớn, các nhà tài phiệt thu được lợi nhuận lớn, đồng thời cũng thúc
đẩy các nguồn vốn đầu cơ tăng nhanh, dẫn đến sự hình thành các “ bong búng” tài
chính- Nguyên nhân gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính trên quy mô lớn. Trong
điều kiện toàn cầu hoá phát triển mạng thì khủng hoảng của một nước, một khu vực
đều có khả năng gây ra các cú sốc lan truyền xuyờn biờn giới dẫn đến sự chao đảo,
thậm chí gây khủng hoảng với các nước khác, khu vực khác và cả toàn cầu. Song
nguy hại lớn nhất lại thuộc về các nước kém phát triển, bởi các nước này vốn đã
yếu, các điều kiện chống đỡ không có, đã phụ thuộc lại càng phụ thuộc hơn. Cuộc
khủng hoảng ở Mờhicụ năm 1996, cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ ở Châu á
vùa qua là những minh chứng sống cho điều đó.
Ngay trong những mặt tích cực cũng có những mặt tiêu cực của vấn đề toàn
cầu hoá kinh tế. Về trao đổi hàng hoá, vệc tự do hoá thương mại thường đem lại lợi
Ých lớn hơn cho các nước công nghiệp phát triển, vì sản phẩm của họ có chất
lượng cao, giá thành hạ, mẫu mã đẹp do đó có sức cạnh tranh cao, dễ chiếm lĩnh thị
không thể phủ nhận. Hơn nữa nó lại là một quy luật tất yếu của lịch sử không thể
bác bỏ. Vì vậy Việt Nam- nhất là trong thời kỳ hiện nay cần phải chủ động hội nhập
vào nó. Nhưng chúng ta cần có những đối sách phù hợp với điều kiện kinh tế- xã
hội, truyền thống dân tộc… để trong quá trình hội nhập vẫn độc lập tự chủ đi lên
theo con đường xã hội chủ nghĩa và khắc phục nhiều tiêu cực khác do nó đem đến.
13
Trong điều kiện hiện nay, nước ta còn là một nước nghèo, đang chập chững đi
những bước đi đầu tiên bước vào thời đại công nghiệp hoá- hiện đại hoá vì vậy cần
hội nhập để học tập, tiếp thu những khoa học tiến bộ từ các nước phát triển, tăng
thêm tinh thần đoàn kết của các nước bè bạn. Thu hót được vốn đầu tư nước ngoài,
tranh thủ được nguồn viện trợ phát triển chính thức (ODA) ngày càng lớn, giảm
đáng kể nợ nước ngoài, khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị trường do Liờn
xụ và hệ thỗngó hội chủ nghĩa tan rã, đảy lùi chính sách bao vây cô lập cấm vận
của các thế lực thù địch.
Trước hết đó là những tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật với vai trò
ngày càng tăng của các công ty đa quốc gia đã thúc đẩy nhanh chóng về khoa học
kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hoá và hợp tác hoá giữa các
quốc gia làm cho sản xuất được quốc tế hoá cao. Các nước đều nỗ lực hội nhập vào
xu thế chung đó và tăng cường sức cạnh tranh kinh tế. Vì thế Việt Nam còng càn
tích cực tham gia hội nhập . Trong những bước đầu tiên tham gia hội nhập, quá
trình đa phương hoỏ,đa dạng hoá và phát triển kinh tế đối ngoại đã góp phần quan
trọng trong phát triển kinh tế và đạt được sự ổn định với tốc độ tăng trưởng khá
cao. Bên cạnh những thuận lợi căn bản trong quá trình từng bước từng bước hội
nhập với khu vực và quốc tế Việt Nam cũng gặp không Ýt khó khăn với trình độ
phát triển thấp, tính cạnh tranh kinh tế cũn kộm, cơ cấu và phương thức phân bố
nguồn lực trong các nghành kinh tế có xu hướng khuyến khích và tập trung vào các
ngành được bảo hộ cao. Chóng ta chủ động tham gia vào quá trình toàn cầu hoá để
khắc phục những thiếu xót trong nền kinh tế, phát triển toàn diện các nghành kinh
tế.
Qỳa trình toàn cầu hoỏ cũn tác động đến việc mở rộng thị trường nội địa và thị
thông thoáng. Đại hội lần thứ VII họp vào tháng 6 năm 1991 mở ra bước đột phá
mới: thông qua cương lĩnh của Đảng và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã
hội mười năm, đồng thời đưa ra đường lối đối ngoại với khẩu hiệu khá nổi tiếng.
Với chính sách đối ngoại rộng mở chúng ta tuyên bố rằng: “Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới , phấn đấu vì hoà bình, độc lập và
phát triển”. Cụ thể tại đại hội VII, hội nghị trung ương lần thứ 3 đã ra nghị quyết về
chính sách đối ngoại và kinh tế đối ngoại, trong đó tư tưởng chủ đạo là: “giữ vững
nguyên tắc độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa, đồng thời phải rất sáng tạo,
năng động, linh hoạt phù hợp với vị trí điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của nước ta
cũng như diễn biến tình hình thế giới và khu vực, phù hợp với từng đối tượng mà
nước ta có quan hệ. Đồng thời phải bảo đảm lợi Ých dõn téc, trong đó kết hợp
nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân;
giữ vững độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đẩy mạnh đa dạng hoá, đa phương hoá
quan hệ đối ngoại; nắm vững hai mặt hợp tác và đấu tranh trong quan hệ quốc tế ;
ưu tiên hợp tác khu vực đồng thời mở rộng quan hệ với tất cả các nước . Đến đại
hội lần thứ VIII (6/1996)đã khẳng định chủ trương “ xây dựng một nền kinh tế
mở”, “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới”, “ tích cực chủ
độnh thâm nhập và mở rộng thị trường quốc tế”, “ tiến hành khẩn trương, vững
chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ”, gia nhập APEC và WTO.
Ngày2- 10- 1998 trong thông báo số 171/ TB- VPCP, thủ tướng chính phủ, trong
phiên họp xem xét đề án Việt Nam gia nhập APEC, đã giao cho uỷ ban kinh tế quốc
tế sớm trình một nghiên cứu về chiến lược tổng thể của Việt Nam trong việc tham
gia các tổ chức kinh tế quốc tế như APEC, AFTA, WTO…hay hiệp định thương
mại Việt- Mỹ. Để đạt được sự tăng trưởng kinh tế , Việt Nam đã chủ động điều
chỉnh cơ cấu kinh tế còng nh tích cực tham gia hội nhập kinh tế vào khu vực và thế
giới. Trở thành thành viên chính thức của APEC tháng 11-1998 là một cột mốc
16
quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực của Việt Nam. Năm 1993,
chóng ta đã khai thông quan hệ với các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế nh IMF,
WB, ADB. IMF, WB đã hỗ trợ cho ta thông qua chương trình tín dụng trung hạn:
Việt Nam hoàn toàn mở cửa thị trường thương mại và đầu tư vào năm 2020. Vào
tháng 3/ 1996 nước ta đã tham gia diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM) với tư cách
thành viên sáng lập. Nội dung hợp tác chủ yếu vào thuận lợi hoá thương mại và đầu
tư- hợp tác giữa các nhà doanh nghiệp A- Âu. Việt Nam đang tích cực, chủ động
xúc tiến mở rộng thương mại đầu tư và hợp tác hỗ trợ giữa các doanh nghiệp của
các nước thành viên trong khối. Từ tháng 6/ 1996 tiến hành đàm phán xây dựng
hiệp định thương mại với các nước trong khối. Tháng 11/ 1995 chóng ta gửi đơn
xin gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO. Đó là những hướng tiếp tục mở
rộng hơnhợp tác thương mại , hội nhập kinh tế trên toàn thế giới trong thời gian tới.
Để gia nhập WTO ta sẽ phải vừa tiến hành đàm phán đa phương với WTO vừa đàm
phán song phương với khoảng trên 30 nước. Đây là một thách thức lớn đối với
nước ta
Với các chính sách hội nhập tích cực của Đảng và nhà nước ta, chóng ta đã đạt
được những kết quả bước đầu khá khả quan trên con đường hội nhập kinh tế quốc
tế lâu dài
Trước hết, chúng ta đẩy lùi được chính sách bao vây cô lập cấm vận của các
nước thù địch, tạo dựng được môi trường quốc tế, khu vực thuận lợi cho công cuộc
xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nâng cao vị thế đất nước trên chính trường và thương
trường thế giới. Đặc biệt là nước ta đẫ khắc phục được tình trạng khủng hoảng thị
trường do Liờn Xụ và hệ thống xã hội chủ nghĩa bị tan rã và cuọc khủng hoảng khu
vực gây nên, đồng thời mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, mở rộng các mối quan
18
hệ song phương, đa phương với nhiều nơi trên toàn thế giới. Điều này đã góp phần
quan trọng vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội nước ta trong thập niên
cuối thế kỷ 20. Nếu nh trước những năm 90, tốc độ GDP bình quân nước ta chỉ đạt
khoảng2%-3%/ năm thì ở thập niên cuối thế kỷ 20 (1991- 2000 ), mức tăng bỡnh
quõnGDP đạt 6%- 8%. Sau 10 năm, tổng sản phẩm xã hội (GDP ) tăng thêm 18 tỷ
USD, thu nhập bình quân đầu người tăng gấp hơn 2 lần. Nhiều mặt hoạt động sản
xuất và đời sống xã hội đó cú những bước phát triển tương đối nhanh. Tốc độ xuất
nhập khẩu hàng năm thường cao gấp 2- 3 lần tốc độ GDP.Nếu năm 1991, thị trường
ngoài cũ của Việt Namvề cơ bản đã được giải quyết thông qua câu lạc bé Paris,
London và đàm phán song phương. Điều đó góp phần ổn định cán cân thu chi ngân
sách tập chung nguồn lực cho các chương trình phát triển kinh tế – xã hội trong
nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo cơ hội để nước ta tiếp cận với những thành quả
của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới.
Nhiều công nghệ hiện dại, dây truyền sản xuất tiên tiến đã được sử dụng tạo nên
bước phát triển mới trong các ngành sản xuất. Đồng thời, thông qua các dự án liên
doanh hợp tác với nước ngoài, các doanh nghiệp Việt Nam đã tiếp nhận được nhiều
kinh nghiệm quản lý sản xuất hiện đại, góp phần đào tạo và bồi dưỡng đọi ngò cán
bộ trong nhiều lĩnh vực (phần lớn là các cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý,
các nhà kinh doanh ). chỉ tớnh riờng trong các công trình đầu tư nước ngoài đó cú
khoảng 30 vạn lao động trực tiếp, 6000 cán bộ quản lý và 25000 cán bộ khoa học
kỹ thuật đã được đào tạo. Trong lĩnh vực sản xuất lao động tính đến năm 1999, Việt
Nam đã đưa trên 7 vạn người đi lao động ở nước ngoài.
20
Qỳa trình hội nhập từng bước đưa hoạt động của các doanh nghiệp và cả nền
kinh tế môi trường vào cạnh tranh, nhờ đó đã tạo được tư duy làm ăn mới, thúc đẩy
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Kết hợp nội
lực với ngoại lực, hình thành sức mạnh tổng hợp góp phần đưa đến những thành
tựu to lớn và nhờ vậy giúp chúng ta tiếp tục giữ vững, củng cố độc lập tự chủ, định
hướng xã hội chủ nghĩa, an ninh quốc gia và bản sắc văn hoỏ dõn tộc.
Nói tóm lại, thành tựu lớn nhất sau hơn một thập niên triển khai các hoạt động
hội nhập kinh tế quốc tế vẫn là góp phần duy trì hoà bình ổn định, tạo dựng môi
trường thuận lợi để phát triển kinh tế, nõngcao vị thế của Việt Nam trên trường
quốc tế. Đặc biệt chúng ta đã chủ động cùng Hoa Kỳ tháo gỡ những trở ngại nhằm
bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Tháng 7/ 1999, Việt Nam và Hoa Kỳ đã ký
hiệp định thương mại, đánh dấu một bước quan trọng trong tiến trình bình thường
hoá quan hệ kinh tế giữa hai nước. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cơ hội
luôn đi liền với thách thức và khó khăn.
15 tỷ USD), viện trợ ODA chỉ khoảng 5 tỷ USD/ năm so với kế hoạch là 7- 8tỷ
USD. Khoảng cách về trình độ phát triển của chúng ta so với nhiều nước không chỉ
chậm, thu hẹp mà cũn cú những biểu hiện của nguy cơ tụt hậu. Tốc độ GDP liên tục
giảm 8,4% năm 1995 xuống 5,8% năm 1998 và 4,8% năm 1999. Bản thân nội tại
nền kinh tế Việt Nam vẫn còn biểu hiện của sự yếu kém : cung lớn hơn cầu, cơ cấu
ngành, địa phương chưa hợp lýnhiều đơn vị sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả thấp,
các tệ nạn quan liêu, tham nhòng, buôn lậu được khắc phục một cách chậm chạp.
Nhiều cơ chế, chính sách và bộ máy hành chính cải cách chậm, chưa đáp ứng được
yêu cầu đổi mới bởi nền kinh tế nước ta còn yếu, tư tưởng bảo hộ còn nặng nề.
22
Thiếu sót đáng kể là công tác nghiên cứu triển khai còn chậm, chất lượng thấp. Cho
đến nay, ở nước ta còn chưa hiểu sâu, chưa nắm thật vững toàn bộ định chế của các
tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, nhất là của tổ chức thương mại thế giới
(WTO) và nhiều văn kiện pháp lý quốc tế khác mà nước ta cần vận dụng khi gia
nhập tổ chức này. Công tác hội nhập quốc tế mới chỉ tập chung triển khai ở các cơ
quan trung ương, sự tham gia ở cỏcc ngành, các cấp tuy có đặt ra nhưng còn yếu và
chưa đồng bộ, do đó chưa tạo được sức mạnh cần thiết trong quá trình hội nhập.
Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện các cơ chế của
một nền kinh tế thị trường đang trong quá trình hình thành ở nước ta. Nhiều chính
sách, luật lệ liên quan đến mở cửa thị trường và điều tiết quan hệ kinh tế đối ngoại
còn thiếu huặc chưa phù với quy định và thông lệ quốc tế. Bên cạnh đú, cỏc doanh
nghiệp của ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh. Doanh
nghiệp của ta hầu hết có quy mô nhỏ, yếu kém cả về hai mặt quản lý và công nghệ
lại hình thành và hoạt động quỏ lõu trong cơ chế bao cấp. Chúng ta chưa tạo đủ cơ
chế, biện pháp có hiệu lực nhằm kích thích các doanh nghiệp gắn sự tồn tại và phát
triển của mình với việc cải tiến sản xuất kinh doanh, với khả năng cạnh tranh trên
thương trường quốc tế
Hơn thế nữa, nước ta lại là nước tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
chậm hơn so với nhiều nước trong khu vực và thế giới. Lại thêm việc chưa hình
thành được một kế hoạch tổng thể và dài hạn về hội nhập kinh tế quốc tế và một lộ
hiểu biết không đầy đủ, Ýt kinh nghiệm trong lĩnh vực này, chưa đủ trình độ ngoại
ngữ khi mà lĩnh vực và quy mô hợp tác đang ngày càng được mở rộng. Cán bộ
doanh nghiệp cũng Ýt hiểu biết về luật pháp quốc tế, về kỹ thuật kinh doanh. Đội
24
ngò công nhân kỹ thuật lành nghề chưa được đào tạo đúng mức. Nói chung doanh
nghiệp của ta còn yếu cả về sản xuất, quản lý và khả năng cạnh tranh. Doanh
nghiệp nước ta quy mô nhỏ, yếu kém về mặt quản lý, trình độ khoa học, công nghệ
hiện đại chưa có, lại hình thành và hoạt động quỏ lõu trong cơ chế bao cấp. Chúng
ta chưa đào tạo đủ cơ chế biện pháp có hiệu lực nhằm kích thích các doanh nghiệp
gắn sự tồn tại và phát triển của mình với việc cải tiến sản xuất kinh doanh, với khả
năng cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Các sản phẩm của doanh nghiệp sản
xuất của nước ta chất lượng, mẫu mã đều không có khả năng cạnh tranh so với các
sản phẩm của nước ngoài. Nhiều sản phẩm chất lượng cũng không thua kém sản
phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài, lại thêm nguyên liệu đắt đỏ, thế nhưng trên
thực tế giá bán và khả năng cạnh tranh vẫn không bằng sản phẩm của nước ngoài.
Đó là điều rất bất lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam bởi họ vẫn chưa tạo được uy
tín, niềm tin vào sản phẩm của mình trong nhân dân. Về hoạt động thương mại :
Việt Nam đang trong lé trình thực hiện giảm thuế theo hiệp định ưu đãi thuế quan
có hiệu lực chung (CEFT)để tham gia vào khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
và lộ trỡnh này sẽ kết thúc vào năm 2006. Khi tham gia vào AFTA thì những tác
động từ phía bên ngoài ảnh hưởng dến thương mại, đầu tư … của Việt Nam sẽ được
xem xét từ hai phía : tác động từ khu vực AFTA và từ khoa học ngoài AFTA, Vì
rằng thực hiện CEPT sẽ dẫn đến việc giảm thuế nhập khẩu trong nội bộ các nước
ASEAN nhưng vẫn giữ nguyên đối với các nước ngoài khối ASEAN. Thực hiện
AFTA nước ta cũng có rất nhiều thuận lợi và ưu tiên để phát triển kinh tế . Song cái
gì cũng vậy, đều có tính chát hai chiều của nó, cả hiệu ứng của việc tạo ra mậu dịch
cũng gây ra tác động hai chiều. Một mặt nó tạo ra thị trường rộng lớn để đẩy mạnh
sản xuất và xuất khẩu, song mặt khác nếu nền kinh tế trong nước chưa đủ mạnh và
chưa đủ sức để cạnh tranh thì sẽ có những ngành hàng bị thua thiệt ngay tại sân nhà
và việc này đồng nghĩavà với việc thị trường bị thu hẹp. Bên cạnh hiệu ứng của