Các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tại Công ty Khách sạn Du lịch Kim Liên - Pdf 11

LỜI MỞ ĐẦU
Việc áp dụng chính sách “Đổi mới” và mở cửa nền kinh tế tại Việt
Nam đã giúp nâng cao đời sống nhân dân. Dù đất nước còn nghèo nhưng nhu
cầu thiết yếu của dân chúng được đảm bảo, từ đó xuất hiện các nhu cầu về vui
chơi giải trí, khám phá những điều mới lạ và những chân trời mới.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam thì thị trường
khách du lịch nội địa tăng mạnh từ 1.000.000 lượt khách năm 1990 lên
6.500.000 lượt khách năm 1996 và 8.500.000 lượt khách năm 1997. Theo
“Báo cáo tổng kết công tác năm 2002 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2003
của ngành du lịch” (Sở Du lịch, ngày 31, tháng 12 năm 2002):
- Thị trường du lịch nội địa tăng trưởng ổn định, số lượng khách du lịch
nội địa ước khoảng 13.000.000 lượt người, đạt 107,4% kế hoạch năm,
tăng 11,6% so với năm 2001.
- Trên cơ sở mục tiêu phát triển du lịch trong 5 năm 2001-2005 và mục
tiêu chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010, mục tiêu cụ thể
của du lịch Việt Nam trong năm 2003 là phấn đấu đón tiếp và phục vụ
14 triệu lượt khách du lịch nội địa.
Như vậy, cùng với việc mức sống của người dân ngày càng được nâng
cao,thì sự quan tâm của Nhà nước để phát triển ngành du lịch cũng đã tác
động không nhỏ đến ý thức, tâm lí đi du lịch của người dân, nói một cách
khác thì nó tạo điều kiện kích thích người dân đi du lịch.
Mặt khác, Công ty cổ phần du lịch Thanh Hóa đã tạo dựng được tên
tuổi trên thương trường, doanh thu từ hoạt động lữ hành inbound chiếm
khoảng 70% tổng doanh thu của hoạt động kinh doanh lữ hành của Công ty.
Nhìn chung, mảng thị trường này của Công ty đã tương đối ổn định và hiện
nay Công ty đang có kế hoạch đẩy mạnh khai thác thị trường khách du lịch
nội địa, một thị trường tiềm năng rất hấp dẫn.
1
Vậy trên đây chính là hai lí do khách quan và chủ quan giải thích việc
lựa chọn đề tài “Thực trạng và một số giải pháp nhằm khai thác khách du
lịch nội địa tại chi nhánh Công ty cổ phần du lịch Thanh hóa tại Hà Nội”

bán sản phẩm tới tận tay người tiêu dùng với mục đích thu tiền hoa hồng
(Commission). Trong quá trình phát triển đến nay, hình thức các đại lí du lịch
vẫn liên tục được mở rộng và tiến triển.
Một cách định nghĩa phổ biến hơn là căn cứ vào hoạt động tổ chức
chương trình du lịch trọn gói của các công ty lữ hành. Khi đã phát triển ở
mức độ cao hơn so với việc làm trung gian thuần túy, các công ty lữ hành đã
tạo ra các sản phẩm của mình bằng cách tập hợp các sản phẩm riêng rẽ như
dịch vụ khách sạn, vé máy bay, ô tô, tàu thuỷ và các chuyến tham quan thành
một sản phẩm (chương trình du lịch) hoàn chỉnh và bán cho khách hàng du
lịch với một mức giá gộp. Ở đây công ty lữ hành không chỉ dừng lại ở người
bán mà trở thành người mua sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch.
3
Trong cuốn “Từ điển quản lí du lịch, khách sạn và nhà hàng”, công ty
lữ hành được định nghĩa rất đơn giản là các pháp nhân tổ chức và bán các
chương trình du lịch. Ở Việt Nam, doanh nghiệp lữ hành được định nghĩa:
“Doanh nghiệp lữ hành là đơn vị có tư cách pháp nhân, hạch toán độc lập,
được thành lập nhằm mục đích sinh lợi bằng việc giao dịch, kí kết các hợp
đồng du lịch và tổ chức thực hiện các chương trình du lịch đã bán cho khách
du lịch” (Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định 09/CP của Chính phủ về tổ
chức và quản lí các doanh nghiệp du lịch TCDL- Số 715/TCDL ngày
9/7/1994).
1.1.1.2. Phân loại công ty lữ hành
Có nhiều cách phân loại các công ty lữ hành. Mỗi quốc gia có một cách phân
loại phù hợp với điều kiện phù hợp với điều kiện thực tế của hoạt động du
lịch. Các tiêu thức thông thường dùng để phân loại bao gồm:
- Sản phẩm chủ yếu của công ty lữ hành: dịch vụ trung gian, du lịch trọn
gói...
- Phạm vi hoạt động của công ty lữ hành.
- Qui mô và phương thức hoạt động của công ty lữ hành
- Quan hệ của công ty lữ hành với khách du lịch.

Các đại
lý du
lịch bán
lẻ
Các
điểm
bán độc
lập
Các
công ty
lữ hành
tổng
hợp
Các
công ty
lữ hành
nhận
khách
Các
công ty
lữ hành
gửi
khách
Các công ty
lữ hành
quốc tế
Các công ty
lữ hành nội
địa
Các công ty lữ hành lớn, với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật phong phú

du lịch
- Khả năng về tài chính, nhân lực của công ty.
- Các yếu tố khác thuộc về môi trường kinh doanh, tiến bộ khoa học kĩ
thuật …
Các công ty lữ hành du lịch có quy mô trung bình phù hợp với điều
kiện Việt Nam có cơ cấu tổ chức được thể hiện trong sơ đồ 2.
Sơ đồ: CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA MỘT CÔNG TY LỮ HÀNH DU LỊCH
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận:
7
Hội đồng quản trị
Giám đốc
Các bộ
phận tổng
hợp
Các bộ
phận
nghiệp vụ
du lịch
Các bộ
phận hỗ
trợ và phát
triển
Tài
chính
kế
toán
Tổ
chức
hành
chính

- Phòng thị trường có những chức năng chủ yếu sau:
Tổ chức và tiến hành các hoạt động nghiên cứu thị trường du lịch trong
nước và quốc tế, tiến hành các hoạt động tuyên truyền quảng cáo, thu hút các
nguồn khách du lịch đến với công ty.
Phối hợp với phòng điều hành, tiến hành xây dựng các chương trình du
lịch từ nội dung đến mức giá, phù hợp với nhu cầu của khách, chủ động trong
việc đưa ra những ý đồ mới về sản phẩm của công ty lữ hành.
Kí kết hợp đồng với các hãng, các công ty du lịch nước ngoài, các tổ
chức cá nhân trong và ngoài nước để khai thác các nguồn khách quốc tế vào
Việt Nam, khách nước ngoài tại Việt Nam và khách du lịch Việt Nam.
Duy trì các mối quan hệ của công ty với các nguồn khách, đề xuất và
xây dựng phương án mở các chi nhánh, đại diện của công ty ở trong nước và
trên thế giới.
Đảm bảo hoạt động thông tin giữa công ty lữ hành với các nguồn
khách. Thông báo các bộ phận có liên quan trong công ty về kế hoạch đoàn
khách, nội dung hợp đồng cần thiết cho việc phục vụ khách. Phối hợp với các
bộ phận có liên quan theo dõi việc thanh toán và quá trình thực hiện hợp đồng
phục vụ khách.
Phòng “thị trường” phải thực sự trở thành chiếc cầu nối giữa thị trường
với doanh nghiệp. Trong điều kiện nhất định, phòng “thị trường” có trách
8
nhiệm thực hiện việc nghiên cứu và phát triển, là bộ phận chủ yếu trong xây
dựng các chiến lược, sách lược hoạt động hướng tới thị trường của công ty.
Phòng “thị trường” thường được tổ chức dựa trên những tiêu thức phân
đoạn thị trường và thị trường chủ yếu của công ty lữ hành. Nó có thể được
chia thành các nhóm theo khu vực địa lí (Châu Âu, Bắc Mĩ, Đông Nam Á…)
hoặc theo đối tượng khách (công vụ, quá cảnh, khách theo đoàn v.v…). Dù
được tổ chức theo tiêu thức nào thì phòng “thị trường” vẫn thực hiện các cộng
việc nói trên.
- Phòng điều hành được coi như bộ phận tổ chức sản xuất của công ty lữ

một cách có hiệu quả nhất. Hướng dẫn viên phải thực hiện đầy đủ chức năng,
nhiệm vụ theo đúng các quy định của công ty.
Là đại diện trực tiếp của công ty trong quá trình tiếp xúc với khách du
lịch và các bạn hàng, các nhà cung cấp. Tiến hành các hoạt động quảng cáo,
tiếp thị thông qua hướng dẫn viên.
Phòng “thị trường”, phòng điều hành, phòng hướng dẫn là ba bộ phận
có mối quan hệ khăng khít, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, cơ chế hoạt
động rõ ràng, hợp lí. Quy mô của phòng ban phụ thuộc vào quy mô và nội
dung tính chất các hoạt động của công ty. Tuy nhiên dù ở quy mô nào thì nội
dung và tính chất công việc của các phòng ban về cơ bản vẫn như đã nêu.
Khối các bộ phận tổng hợp thực hiện các chức năng như tại tất cả các
doanh nghiệp khác theo đúng tên gọi của chúng.
- Phòng “tài chính kế toán” có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
Tổ chức thực hiện các công viêch tài chính kế toán của công ty như
theo dõi ghi chép chi tiêu của doanh nghiệp theo đúng hệ thống tài khoản và
chế độ kế toán của nhà nước, theo dõi và phản ánh tình hình sử dụng vốn, tài
sản của doanh nghiệp…
Thực hiện chế độ báo cáo định kì, kịp thời phản ánh những thay đổi để
lãnh đạo có biện pháp xử lí kịp thời.
10
Theo dõi thị trường, thu thập thông tin, báo cáo và đề xuật kịp thời với
lãnh đạo của doanh nghiệp.
- Phòng “tổ chức hành chính” thực thi những công việc chủ yếu trong
việc xây dựng đội ngũ lao động của công ty. Thực hiện các quy chế,
nội quy, khen thưởng kỉ luật, chế độ tiền lương, thay đổi đội ngũ, đào
tạo v.v… Phòng này còn đảm bảo thực hiện những công việc văn
phòng của doanh nghiệp trong những điều kiện nhất định.
Các bộ phận hỗ trợ và phát triển được coi như là các phương hướng
phát triển của các doanh nghiệp lữ hành. Các bộ phận này, vừa thoả mãn nhu
cầu của công ty (về khách sạn, vận chuyển) vừa đảm bảo mở rộng phạm vi

. Môi giới cho thuê xe ô tô
. Môi giới và bán bảo hiểm.
. Đăng kí đặt chỗ và bán các chương trình du lịch.
. Đăng kí đặt chỗ trong khách sạn.
. Các dịch vụ môi giới trung gian khác.
1.1.4.2. Các chương trình du lịch trọn gói
Hoạt động du lịch trọn gói mang tính chất đặc trưng cho hoạt động lữ
hành du lịch. Các công ty lữ hành liên kết các sản phẩm của các nhà sản xuất
riêng lẻ thành một sản phẩm hoàn chỉnh và bán cho khách du lịch với một
mức giá gộp. Có nhiều tiêu thức để phân loại chương trình du lịch. Ví dụ như
các chương trình nội địa và quốc tế, các chương trình du lịch dài ngày và
ngắn ngày, các chương trình tham quan văn hoá và các chương trình vui chơi
giải trí. Khi tổ chức các chương trình du lịch trọn gói, các công ty lữ hành có
trách nhiệm đối với khách du lịch cũng như các nhà sản xuất ở một mức độ
cao hơn nhiều so với hoạt động trung gian.
12
1.1.4.3. Các hoạt động kinh doanh lữ hành tổng hợp
Trong quá trình phát triển, các công ty lữ hành có thể mở rộng phạm vi
hoạt động của mình, trở thành những người sản xuất trực tiếp ra các sản phẩm
du lịch. Vì lẽ đó các công ty lữ hành lớn trên thế giới hoạt động trong hầu hết
các lĩnh vực có liên quan đến du lịch.
. Kinh doanh khách sạn, nhà hàng.
. Kinh doanh các dịch vụ vui chơi giải trí.
. Kinh doanh vận chuyển du lịch: hàng không, đường thuỷ v.v…
. Các dịch vụ nhân hàng phục vụ khách du lịch.
Các dịch vụ này thường là kết quả của sự hợp tác, liên kết trong du lịch.
Trong tương lai, hoạt động lữ hành du lịch càng phát triển, hệ thống sản
phẩm của các công ty lữ hành sẽ càng phong phú.
1.1.5. Nội dung hoạt động kinh doanh lữ hành
Tổ chức xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch trọn gói là

quan và vui chơi giải trí”. (Theo tác giả Gagnon và Ociepka trong cuốn “Phát
triển nghề lữ hành”).
Chương trình du lịch là lịch trình được định trước của chuyến đi du lịch
do các doanh nghiệp lữ hành tổ chức, trong đó xác định thời gian của chuyến
đi, nơi đến du lịch, các điểm dừng chân, dịch vụ lưu trú, vận chuyển, các dịch
vụ khách và giá bán chương trình”. (Theo nghị định số 27/2001/NĐ-CP về
kinh doanh lữ hành và hướng dẫn du lịch ở Việt Nam ban hành ngày 5 tháng
6 năm 2001).
Các chương trình du lịch trọn gói là những nguyên mẫu để căn cứ vào
đó, người ta tổ chức các chuyến du lịch với mức giá đã được xác định trước.
Nội dung của chương trình du lịch thể hiện lịch trình thực hiện chi tiết các
hoạt động từ vận chuyển, lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí tới tham quan v.v…
mức giá của chuyến bao gồm giá của hầu hết các dịch vụ và hàng hoá phát
sinh trong quá trình thực hiện du lịch”. (Theo nhóm tác giả bộ môn du lịch,
Đại học Kinh tế quốc dân, giáo trình “Quản trị kinh doanh lữ hành”).
14
Từ những định nghĩa nêu trên có thể rút ra một số nhận xét như sau:
- Chương trình du lịch như là một văn bản hướng dẫn việc thực hiện các
dịch vụ làm thoả mãn nhu cầu của con người khi đi du lịch.
- Trong chương trình du lịch có ít nhất hai dịch vụ chính và được sắp
xếp theo một trình tự nhất định theo thời gian và không gian, làm gia
tăng giá trị của chúng.
- Giá cả đưa ra phải là giá tổng hợp của các dịch vụ chính có trong
chương trình khi chuyến du lịch được thực hiện và phải chỉ rõ là không
bao gồm những loại dịch vụ nào.
- Chương trình du lịch phải được bán trước và khách du lịch phải thanh
toán trước chuyến du lịch được thực hiện.
Một chương trình du lịch có thể sử dụng để tổ chức nhiều chuyến du lịch
vào các thời điểm kế tiếp nhau nhưng cũng có những chương trình du lịch chỉ
sử dụng một hoặc vài bachuyến với khoảng thời gian xa nhau. Do đó cần có

- Tổ chức bán các chương trình du lịch trọn gói
Để hoạt động các chương trình du lịch trọn gói có hiệu quả, trước tiên
cần phải xác định được nguồn khách. Khi xây dựng các chương trình du lịch,
các công ty lữ hành thường đã xác định các thị trường mục tiêu chủ yếu cho
sản phẩm của mình. Theo cách đánh giá và kết quả nghiên cứu sơ bộ thì các
nguồn khách quan trọng nhất tại thị trường du lịch trọn gói Việt nam được sắp
xếp như sau:
*Khách quốc tế:
- Các công ty lữ hành gửi khách trong nước và quốc tế
- Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam
- Các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc quan hệ kinh doanh đối với
nước ngoài.
- Các mối quan hệ cá nhân
- Các đối tượng khách đi lẻ, khách tự đến…
16
- Khách quá cảnh (độc quyền của hàng không).
*Khách du lịch nội địa:
- Các công ty lữ hành trong nước.
- Các công ty, xí nghiệp, trường học v.v…
- Các tổ chức xã hội đoàn thể.
- Các đối tượng khách trực tiếp đến công ty.
- Các mối quan hệ khác.
Sau khi xác định nguồn khách, phải xác định mối quan hệ của công ty
lữ hành với các công ty lữ hành khác và với khách du lịch.
Hợp tác giữa các công ty du lịch lữ hành bao giờ cũng đóng vai trò đặc
biệt quan trọng. Đối với các công ty lữ hành Việt Nam, khi điều kiện tiếp xúc
và khai thác trực tiếp các nguồn khách quốc tế tại nơi cư trú của họ là vô cùng
hạn chế thì việc nhận khách thông qua các công ty lữ hành gửi khách gần như
là một tất yếu. Giữa các công ty lữ hành gửi khách và nhận khách thường có
một bản hợp đồng với những nội dung theo thoả thuận giữa hai bên.

du lịch được thoả thuận về mọi phương diện giữa các bên tham gia. trong bất
kì tình huống nào, công ty lữ hành cũng phải thông báo cho khách hoặc công
ty gửi khách khả năng đáp ứng của mình. Thông thường ở các công ty lữ
hành, bộ phận Marketing trực tiếp tiến hành và có quyền quyết định các thoả
thuận với khách hoặc công ty gửi khách.
Giai đoạn 2: Chuẩn bị thực hiện do bộ phận điều hành thực hiện, bao
gồm các công việc:
- Xây dựng chương trình chi tiết
- Chuẩn bị các dịch vụ
- Chuẩn bị hối phiếu
- Kiểm tra khả năng thực thi. Nếu có những vấn đề bất thường cần lập
tức thông báo cho bộ phận Marketing và lãnh đạo công ty.
- Chuẩn bị các dịch vụ gồm có đặt phòng và báo ăn cho khách tại các
khách sạn.
18
Ngoài ra, phòng điều hành cần tiến hành những chuẩn bị sau đây:
. Đặt mua vé máy bay cho khách (nếu có).
. Mua vé tàu (đường sắt) cho khách.
. Điều động hoặc thuê xe ô tô.
. Mua vé tham quan (thông thường do hướng dẫn viên trực tiếp thực
hiện)
. Đặt thuê bao các chương trình biểu diễn văn nghệ.
. Điều động và giao nhiệm vụ cho hướng dẫn viên. Cùng bộ phận hướng
dẫn viên điều động hướng dẫn viên theo đúng yêu cầu của chương trình.
Giai đoạn 3: Thực hiện các chương trình du lịch.
Trong giai đoạn này công việc chủ yếu là của hướng dẫn viên du lịch
và các nhà cung cấp dịch vụ. Hoạt động của hướng dẫn viên rất đa dạng,
phong phú, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nội dung, tính chất của chương
trình, điều kiện thực hiện cũng như khả năng của các hướng dẫn viên. Một
cách khái quát, quy trình hoạt động của hướng dẫn viên khi thực hiện các

3. Có cơ sở vật chất, trang thiết bị cần thiết phù hợp với ngành nghề và quy
mô kinh doanh du lịch.
4. Có địa điểm kinh doanh phù hợp với nghành nghề kinh doanh du lịch.
5. Có chương trình du lịch cho khách du lịch nội đại.
6. Đóng tiền kí quỹ theo quy định của Chính phủ.
Cũng theo điều 30 Pháp lệnh du lịch, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành
nội địa không được kinh doanh lữ hành quốc tế.
1.2.3. Đặc điểm hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa ở Việt Nam
1.2.3.1. Giai đoạn từ 1960 – 1975
20
Ngày 09/07/1960 theo quyết định của Thủ tướng, công ty Du lịch Việt
Nam được thành lập, trực thuộc Bộ Ngoại thương, đã đánh dấu sự ra đời của
nghành du lịch Việt Nam.
Cơ sở vật chất ban đầu có một vài khách sạn cũ với 20 giường phục vụ
khách quốc tế, phương tiện vận chuyển gồm một xe Zill và một Simca cũ.
Đặc điểm chung nhất của giai đoạn này là nghành du lịch không có
điều kiện để phát triển vì đất nước ddang trong tình trạng chiến tranh. Nhiệm
vụ chủ yếu của nghành du lịch Việt Nam (miền Bắc) trong giai đoạn này là
phục vụ các đoàn khách quốcc tế, chủ yếu là khách của các nươc xã hội chủ
nghĩa và phục vụ khách du lịch nội địa. Khách du lịch nội địa là những công
đan có thành tích trong chiến đấu, lao động, học tập đi nghỉ mát, điều dưỡng.
Với ý nghĩa đó khái niệm kinh doanh du lịch chưa xuất hiện và chưa được
biết đến ở thời kì này. Trên thực tế hoạt động du lịch lữ hành thời kì này
chính là hoạt động đưa khách đến các cơ sở du lịch và điều dưỡng hàng năm.
1.2.3.2. Giai đoạn từ 1976 – 1989
Sau cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước toàn thắng vào mùa xuân
năm 1975, đất nước Việt Nam chuyển sang một kỉ nguyên mới. Đây chính là
một điều kiện à cơ hội thuận lợi cho nghành du lịch Việt Nam. Ngày
27/06/1978, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị định số 282/NQ-
QHK6, thành lập Tổng cục Du lịch trên cơ sở một vụ của Bộ nội vụ. Sự kiện

trò chủ lực là chiếc cầu nối giữa khách với các nhà cung cấp sản phẩm du lịch
Việt Nam, là nơi thực hiện thoả mãn các nhu cầu đặc trưng trong chuyến đi
du lịch. Có 254 doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh lữ hành nội địa (thành
phố Hồ Chí Minh có 114 doanh nghiệp, Hà Nội có 113 doanh nghiệp được
cấp giấy phép kinh doanh lữ hành nội địa).
Như vậy, hoạt động kinh doanh lữ hành nội địa đang ngày càng phát
triển. Đó là dấu hiệu đáng mừng. Song cũng cần lưu ý tới những nhân tố ảnh
hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh du lịch nói chung và kinh doanh du
lịch lữ hành nội địa nói riêng như chiến tranh, dịch bệnh
22
1.2.4. Chương trình du lịch cho khách nội địa
1.2.4.1 Độ dài thời gian cho chuyến du lịch
Độ dài thời gian cho chuyến du lịch được xác định dựa trên cơ sở quỹ
thời gian rỗi của khách du lịch. Mặt khác tuỳ vào đối tượng khách mà chương
trình có đọ dài thời gian tương ứng. Ví dụ có sự khác biệt lớn về quỹ thời gian
giữa khách du lịch công vụ thường xuyên bận rộn với khách du lịch nghỉ ngơi
tận hưởng sự bình yên an nhàn thú vị …
1.2.4.2. Thời điểm tổ chức
Thời điểm tổ chức du lịch phải phù hợp với thời điểm nghỉ ngơi của
khách du lịch.
1.2.4.3. Mức giá
Để xác định mức giá cho một chương trình du lịch thì phải dựa vào khả
năng thanh toán nói chung và khả năng trong chi tiêu du lịch của du khách.
1.2.4.4.Phương tiện lưu trú, ăn uống
Để xác định được phương tiện lưu trú, ăn uống phải dựa vào thói quen
sử dụng và yêu cầu về chất lượng của các phương tiện vận chuyển, lưu trú.
Điều này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội và tập quán tiêu dùng của du
khách. Ví dụ người Mĩ rất thích đi máy bay trong khi đó người Pháp thường
xuyên lưu trú tại nhà bạn bè khi đi du lịch.
1.2.4.5. Tuyến điểm du lịch

du lịch như sau: Chất lượng chương trình du lịch là tổng hợp những yếu tố
đặc trưng của chương trình thể hiện mức độ thoả mãn các nhu cầu của khách
du lịch trong những điều kiện tiêu dùng được xác định.
24
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
LỮ HÀNH NỘI ĐỊA TẠI CHI NHÁNH
CÔNG TY CỔ PHẦN DU LỊCH THANH HÓA
2.1. Khái quát chung về chi nhánh công ty cổ phần du lịch Thanh Hóa
2.1.1, Quá trình hình thành và phát triển của chi nhánh
Công ty du lịch Thanh Hóa mà tiền thân của nó là Công ty tiếp vận tỉnh
Thanh Hóa là một doanh nghiệp Nhà nước ra đời năm 1982, trực thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa được đổi tên theo quyết định thành lập số 1235/
TC - UBTH ngày 28/ 9/ 1992, có trụ sở chính tại số 23A phường Ngọc Trạo,
thành phố Thanh Hóa.
25

Trích đoạn Kết quả kinh doanh của chi nhỏnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status