Chuyên đề tốt nghiệp 1
LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của nền kinh tế ngày nay đã kéo theo sự thay đổi của hàng
loạt các mặt của đời sống xã hội. Cuộc sống tinh thần của người dân cũng có
rất nhiều sự thay đổi trong đó du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu
trong cuộc sống tinh thần của người dân. Mức sống của người dân ngày càng
được nâng cao dẫn đến những đòi hỏi để được thoả mãn ngày càng đa dạng
hơn, phong phú hơn và ở mức độ cao hơn.
Lợi nhuận trong kinh doanh các vấn đề liên quan dến ngành du lịch là
rất cao, nó có sức hấp dẫn và thu hút rất nhiều nhà kinh doanh đầu tư vào các
lĩnh vực này. Đặc biệt là việc đầu tư vào các nhà hàng, khách sạn để thoả mãn
nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí.. của khách hàng. Kết quả là ngày nay hàng loạt các
nhà hàng, khách sạn đã xuất hiện để có thể thu được nhiều lợi nhuận các nhà
hàng, khách sạn này đã phải cạnh tranh gay gắt với nhau bằng rất nhiều các
biện pháp chính sách, để có thể thu hút được nhiều khách về với mình hơn.
Chính vì điều đó, qua thời gian thực tập tại công ty khách sạn du lịch
Kim Liên em đã chọn đề tài “Các biện pháp nhằm thu hút và khai thác
khách tại Công ty khách sạn du lịch Kim Liên”.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: chuyên đề thực tập tập trung vào việc nghiên
cứu thực trạng nguồn khách và các biện pháp nhằm thu hút và khai thác
khách tại khách sạn Kim Liên.
- Phạm vi nghiên cứu: chuyên đề tập trung nghiên cứu khách lưu trú
giới hạn trong công ty khách sạn Kim Liên dựa trên số liệu báo cáo tổng kết
giai đoạn 2004 - 2007.
• Mục tiêu nghiên cứu.
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 2
Xác định ra thực trạng nguồn khách của khách sạn các đặc điểm liên quan
đến nguồn khách và tìm các biện pháp để thu hút và khai thác khách.
• Phương pháp nghiên cứu.
Ở vương quốc Bỉ đã định nghĩa:
"Khách sạn phải có ít nhất từ 10 đến 15 buồng và các tiện nghi tối thiểu
như phòng vệ sinh, máy điện thoại…
(nguồn: Giáo trình quản trị kinh doanh khách sạn, Đồng chủ biên,
Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương, NXB Lao động - Xã hội Hà Nội.)
Còn lại ở Pháp lại định nghĩa:
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 4
"Khách sạn là một cơ sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ
với các trang thiết bị tiện nghi nhằm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách
trong một khoảng thời gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng
không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên), có thể có nhà hàng. Khách sạn có
thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa."
Ở Việt Nam, qua quá trình nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành đã
đưa ra khái niệm:
"Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có
quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật trang thiết
bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch"
(nguồn: Thông tư số 01/2002/TT-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục
Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ-Cp về cơ sở lưu
trú)
Khoa du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra khái niệm:
"Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi),
dịch vụ ăn uống dịch vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho
khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch".
(nguồn: Trong cuốn sách "Giải thích thuật ngữ du lịch và khách sạn" -
Trường ĐH Kinh tế quốc dân)
Như vậy, qua các khái niệm trên ta thấy cùng với sự phát triển kinh tế
và đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì hoạt động du lịch và
trong đó có hoạt động kinh doanh khách sạn cũng không ngừng phát triển cả
1.1.3.1. Hoạt động kinh doanh lưu trú
Các hoạt động trong kinh doanh lưu trú, không tồn tại ở dạng vật chất.
Chúng chỉ là các dịch vụ đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi của lưu trú tạm thời của
khách. Trong quá trình sản xuất và bán các dịch vụ này, các cơ sở kinh doanh
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 6
lưu trú không tạo ra sản phẩm mới mà cũng không tạo ra giá trị mới. Hoạt
động của các cơ sở lưu trú thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của
khách sạn kết hợp với sự hoạt động phục vụ của các nhân viên đã giúp chuyển
dần giá trị từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ dưới hình thức khấu hao.
Từ đó ta có thể hiểu định nghĩa về kinh doanh lưu trú như sau: "Kinh
doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung
cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách
hàng thời gian lại tạm thời tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi".
(nguồn: giáo trình "Quản trị kinh doanh khách sạn", Đồng chủ biên:
Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương)
1.1.3.2. Hoạt động kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm ba hoạt động cơ bản sau:
- Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động chế biến thức ăn cho
khách.
- Hoạt động lưu thông: Đây là hoạt động thực hiện việc bán các sản
phẩm chế biến và sản phẩm của các ngành khác.
- Hoạt động tổ chức phục vụ: là hoạt động nhằm mục đích tạo điều kiện
để khách hàng tiêu thụ thức ăn tại chỗ và cung cấp các điều kiện tiêu thụ thức
ăn tại chỗ và cung cấp các điều kiện phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của
khách.
Ăn uống trong khách sạn đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, tiện nghi cao và đội ngũ nhân viên phục vụ cũng đòi hỏi phải có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, có thái độ phục vụ tốt để có thể đáp ứng tốt các nhu
cầu về ăn uống của khách.
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 8
người tiêu dùng sản phẩm của khách sạn không giới hạn bởi mục đích, thời
gian và không gian tiêu dùng. Khách du lịch là thị trường khách chính của
khách sạn.
(nguồn: Giáo trình quản trị kinh doanh khách sạn, đồng chủ biên,
Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương).
1.2.2 Phân loại khách của khách sạn
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại khách của khách sạn, ta có
thể phân loại dựa vào các căn cứ phổ biến sau:
1.2.2.1. Căn cứ vào tính chất tiêu dùng và nguồn gốc của khách theo
tiêu thức này. Khách của khách sạn bao gồm 2 loại.
- Khách là người địa phương: Đây là những người sinh sống và cư trú
thường xuyên gần khách sạn, trong địa phương nơi mà có khách sạn tại đó.
Họ rất ít sử dụng dịch vụ lưu trú tại khách sạn,nếu có thì chủ yếu là mua lẻ
với thời gian lưu chú rất ít.Loại khách này tiêu dùng các sản phẩm ăn uống và
các dịch vụ bổ sung (hội họp, giải trí) là chính.
- Khách không phải là người địa phương: Đây là những người khách từ
các nơi khác nhau đến với khách sạn họ có nơi sinh sống cư trú thường xuyên
ngoài địa phương nơi có khách sạn. Họ có thể đến từ các địa phương khác
nhau trong cùng một quốc gia hoặc đến từ các quốc gia khác. Họ thường tiêu
dùng hầu hết các sản phẩm của khách sạn, đó là các dịch vụ lưu trú, dịch vụ
ăn uống, dịch vụ bổ sung, giải trí.
1.2.2.2. Căn cứ vào mục đích (động cơ)của chuyến đi
Khách của khách sạn bao gồm
- Khách du lịch thuần tuý: Họ là những người thực hiện chuyến đi với mục
đích chính là để nghỉ ngơi, thư giãn.
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 9
- Khách là người thực hiện chuyến đi với mục đích thăm thân, đi vì các
lại tính bình quân cho một lượt khách lưu trú tại khách sạn (thường
tính trong một tháng, một quý, một năm hoặc một chu kì kinh
doanh).
Đồng thời, thông qua nghiên cứư khách của khách sạn sẽ giúp cho
doanh nghiệp khách sạn trả lời được câu hỏi :
• Ai là khách hàng mục tiêu của khách sạn ?
• Đặc điểm trong hành vi tiêu dùng của họ là gì ?
• Động cơ tiêu dùng sản phẩm của khách sạn của họ là gì ?
• Sản phẩm của khách sạn đã đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của
khách một cách tốt chưa ? (Hay về giá cả?, chất lượng?)
• Đâu là kênh thông tin, kênh phân phối tốt nhất của khách
hàng? Kênh thông tin, kênh phân phối hiện tại đã hiệu quả
chưa?
Việc phân loại khách của khách sạn là cơ sở rất tốt cho công tác dự báo
về số lượng buồng cho thuê trong thời gian tiếp theo của khách sạn của
bộ phận marketing.
1.3. Các biện pháp thu hút khách của khách sạn ba sao
1.3.1. Nghiên cứu thị trường khách mục tiêu
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 11
Đây là công việc rất quan trọng đối với khách sạn, nó tác động và chi
phối cả đến các chiến lược, chính sách kinh doanh về sau của công ty. Việc
nghiên cứu chính là việc tìm ra các đặc điểm chính của thị trường như quy
mô, cơ cấu, xu hướng phát triển, khả năng thanh toán, thói quen tiêu dùng…
Để từ đó doanh nghiệp xác định ra được khả năng của mình đề ra các chiến
lược chính sách trong hiện tại và tương lai để phù hợp với thị trường, đem lại
hiệu quả cao trong kinh doanh
1.3.2. Chính sách giao tiếp, khuyếch trương:
Đây là công việc quảng bá các sản phẩm, dịch vụ của khách sạn đến
với khách hàng.Trong quá trình thực hiện, công ty phải cho khách hàng thấy
lòng, có ấn tượng tốt đẹp với doanh nghiệp và lần sau họ sẽ quay lại và có thể
là cùng với gia đình, bạn bè và đồng nghiệp của họ nữa.
1.3.4. Chính sách sản phẩm
Chính sách sản phẩm dịch vụ trong khách sạn có vai trò rất quan trọng.
Khách đến với khách sạn thuộc nhiều đối tượng khách khách nhau, có nhu
cầu sở thích tiêu dùng khác nhau do đó để đáp ứng được điều này khách sạn
phải xây dựng được một hệ thống sản phẩm đa dạng, phong phú với nhiều
chủng loại tạo ra nhiều cơ hội lựa chọn thúc đẩy việc tiêu dùng nhiều hàng
hoá của khách sạn hơn. Đặc biệt trong kinh doanh khách sạn để tạo ra được
lợi thế cạnh tranh, thu hút đựơc khách thì việc tạo ra các sản phẩm, dịch vụ
độc đáo, mang tính dị biệt cao sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh lớn cho doanh
nghiệp
1.3.5. Chính sách về giá
Đối với các lĩnh vực kinh doanh khác nói chung và đối với kinh doanh
khách sạn nói riêng việc tạo ra được chính sách giá mềm dẻo, linh hoạt
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 13
thường đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho doanh nghiệp. Để đảm bảo vừa
bù đắp các khoản chi phí, vừa đem lại lợi nhuận cho công ty, thì khách sạn
phải tính toán thật kỹ, chính xác các khoản chi phí đã bỏ ra, xác định được
mức giá tại điểm hoà vốn đồng thời nghiên cứu và xác định ra mối quan hệ
của cung và cầu trên thị trường, xác định được giá của đối thủ cạnh tranh, giá
quy định của luật pháp để từ đó đưa ra được một chính sách giá phù hợp và
hợp lý đem lại hiệu quả kinh doanh cho khách sạn.
Trong kinh doanh khách sạn việc thực hiện chính sách giá đa dạng,
phong phú hợp lý với nhiều mức giá khác nhau sẽ tạo ra cho khách hàng
nhiều cơ hội lựa chọn, đáp ứng được nhiều đối tượng khách có khả năng
thanh toán khác nhau. Điều đó sẽ làm tăng khả năng thu hút khách của khách
sạn.
1.3.6. Chính sách phân phối
2
.
Ban đầu khách sạn có tên là khách sạn Bạch Mai, trên cơ sở hợp nhất hai
khách sạn Bạch Đằng và Bạch Mai theo quyết định số 49TC-CCV vào ngày
12/05/1961.
Năm 1965 khách sạn mới hoàn thành 8 nhà từ nhà số 1 đến nhà số 8 và
nhà ăn. Trong thời gian này khách sạn vinh dự hai lần được đón Bác Hồ tới
thăm. Lần thứ nhất Bác thăm công trường do chuyên gia Triều Tiên xây dựng
giúp ta. Vào ngày 5/6/1960. Lần thứ 2 vào ngày 17/3/1963, Bác đã căn dặn
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 16
cán bộ công nhân viên: "Kim Liên là hoa sen vàng phải làm sao ngày càng có
nhiều người khen và ít tiếng chê, phải cố gắng góp phần vào đảm bảo sức
khỏe của công nhân cán bộ".
Năm 1971 khách sạn được cấp trên cho phép đổi tên thành khách sạn
chuyên gia Kim Liên. Đó là khách sạn nằm trên địa phận làng Kim Liên, Kim
Liên cũng là quê hương Bác Hồ.
Năm 1992 cục chuyên gia chính thức giao vốn cho khách sạn đánh dấu
thời kỳ mới. Thời kỳ hoạt động theo cơ chế thị trường
Năm 1993, cục chuyên gia sát nhập vào tổng cục du lịch, khách sạn được
đổi tên là công ty du lịch Bông Sen Vàng (QĐ 276 - TCDL).
Ngày 25/11/1994 TCDL quyết định đổi tên công ty du lịch Bông Sen
Vàng thành công ty khách sạn Bông Sen Vàng (QĐ số 309/QĐ-TCDL).
Ngày 16/10/1996 công ty khách sạn Bông Sen Vàng được đổi tên thành
công ty khách sạn du lịch Kim Liên (QĐ số 454/ QĐ-TCDL).
Năm 2001 kỷ niệm 40 năm truyền thống của khách sạn Kim Liên, toàn
công ty tập chung phát huy sức mạnh nội lực, đông thời triệt để khai thác yếu
tố ngoại lực để phát triển sản xuất kinh doanh. Lãnh đạo công ty đã kêu gọi
phát huy “trí tuệ, đoàn kết, dân chủ, trách nhiệm cao”.
Các năm 2002-2003 công ty tiếp tục thực hiện định hướng đã đề ra, có
du
lịch
Trung
tâm công
nghệ
thông tin
Trung
tâm
thương
mại
Đội
bảo
vệ
Đội
tu
sửa
Đội
giặt
là
Hệ
thống
nhà
hàng
Giám đốc điều hành
KSKLI
Giám đốc điều hành
KSKLII
Tổ
lễ tân
Tổ
đưa ra được các quyết định phù hợp, kịp thời và chính xác.
Trong nền kinh tế thị trường ngày nay thì công ty cần coi trọng công
tác thị trường hơn nữa, khách sạn Kim Liên là một công ty lớn, vai trò của
phòng thị trường chưa được mở rộng, còn nhỏ bé.
2.1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận
• Giám đốc là người trực tiếp quản lý điều hành các bộ phận, phòng
ban khách sạn, chịu trách nhiệm chính về các hoạt động kinh doanh của khách
sạn.
• Phó giám đốc: là người tham mưu giúp giám đốc quản lý các đơn vị
cấp dưới, thường xuyên theo dõi, giám sát các hoạt động diễn ra tại khách
sạn, báo cáo kịp thời mọi vấn đề cho Giám đốc. Phó giám đốc có thể là người
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 19
thay mặt cho giám đốc quản lý điều hành các bộ phận, các phòng ban trong
khách sạn khi giám đốc vắng mặt.
• Phòng tổ chức hành chính: chịu trách nhiệm về quản lý nhân sự, lao
động, tiền lương, đánh giá khen thưởng, kỷ luật, tiến hành các hoạt động
tuyển dụng lao động theo yêu cầu của các phòng ban. Tham mưu cho giám
đốc về các vấn đề liên quan đến công tác nhân sự.
• Phòng kế hoạch: chịu trách nhiệm xây dựng kế hoạch kinh doanh
hàng năm, xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch, doanh thu, chi phí, giá cả, định
mức… đồng thời tham mưu cho giám đốc các vấn đề liên quan đến công tác
kế hoạch của công ty.
• Phòng kế toán: chịu trách nhiệm về các vấn đề về công tác tài chính
của công ty, theo dõi cập nhật hàng hóa xuất, nhập, tính toán các khoản thu
chi. Báo cáo với ban giám đốc và các bộ phận có liên quan về tình hình sản
xuất kinh doanh toàn đơn vị qua các biểu mẫu, báo cáo. Đồng thời tham mưu
cho ban giám đốc về công tác tài chính, cung cấp các thông tin, dữ liệu về tài
chính cho công việc phân tích hoạt động kinh doanh.
• Phòng thị trường: tham mưu cho ban giám đốc về thị trường du lịch,
Khách sạn Kim Liên I:
+ Phòng lễ tân
+ Đội phòng
+ Bể bơi
10
20
11
13
70
2
23
90
13
14.
Khách sạn Kim Liên II:
+ Phòng lễ tân
+ Đội phòng
9
17
15
44
24
82
15. Khách sạn Kim Liên III: 5 0 5
Tổng số: 304 396 700
Bảng 2.3: Trình độ học vấn của CBCNV công ty khách sạn du lịch
Kim Liên năm 2007
Trình độ Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Tiến sĩ, Thạc sĩ 4 0.60
Đại học 130 18.60
Kim Liên I đựoc chia làm 4 loại : Suite. Deluxe, Superion và Standard với
diện tích từ 24 - 50m2 cùng các trang thiết bị nội thất trong phòng được bố trí
hài hoà đẹp mắt, thuận tiện khi sử dụng.
- Khách sạn Kim Liên 2 : Gồm các khu nhà 1, 2, 3, 6 với tổng số 256
phòng, trong đó trong đó có 144 phòng được Tổng cục Du lịch Việt Nam
công nhận đạt tiêu chuẩn 3 sao.
- Khách sạn Kim Liên 3 : Gồm 2 khu biệt thự riêng biệt mang phong
cách kiến trúc Pháp, chủ yếu cho người nước người nước ngoài có nhu cầu
lưu trú dài hạn thuê hoặc đặt văn phòng đại diện.
Đối tượng chính là khách công vụ nội địa, khách có khả năng thanh toán
trung bình và thấp. So với Khách sạn Kim Liên 1, trang thiết bị của Khách
sạn Kim Liên 2 còn chưa đồng đều và kém hiện đại, chưa thể hiện được
tính khoa học và thẩm mỹ cao trong cách sắp xếp đồ đạc trong phòng
Trong mỗi phòng của khách sạn, các trang thiết bị tối thiểu có:
+ Một máy điều hoà
+ Một bình nóng lạnh
+ Một Tivi màu
+ Một máy sấy tóc
+ Một bộ bàn ghế salon
+ Ga, gối, đệm, mút, các trang thiết bị vệ sinh.
Ở những phòng cao cấp hơn còn được trang bị thêm:
+ Bộ bàn ghế ngồi làm việc
+ Đèn bàn, đèn ngủ
+ Thảm trải nền
+ Điện thoại
Những phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế 3 sao có thêm:
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A
Chuyên đề tốt nghiệp 23
+ Tấm phủ giường, ri đô che cửa 2 lớp
+ Điện thoại gọi trực tiếp ra nước ngoài
Công ty.
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của khách sạn du lịch Kim Liên
từ 2004 - 2007
Đơn vị: 1000VNĐ
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007
1. Tổng doanh thu
Tốc độ tăng liên hoàn (%)
97.563.462
-
118.235.642
121,2
143.656.305
121,5
171.281.413
119,2
2. Doanh thu buồng
Tốc độ tăng liên hoàn (%)
25.896.358
-
33.256.846
128,4
45.395.392
136,5
55.666.459
122,6
3. Doanh thu ăn uống
Tốc độ tăng liên hoàn (%)
29.249.526
trong hoạt động kinh doanh của mình, các chỉ tiêu luôn hoàn thành và vượt
mức kế hoạch đề ra.
Năm 2005, tổng doanh thu đạt 118.235.642.000 VNĐ vượt so với năm
2004 là 21,2%.Tất cả các doanh thu từ các dịch vụ (lưu trú,buồng,dịch vụ
khác) trong năm 2005 đều tăng mạnh so với năm 2004, doanh thu buồng tăng
28,4% ( doanh thu đạt: 33.256.846.000 VNĐ),doanh thu ăn uống tăng 27,7%
(doanh thu đạt: 37.362.463.000 VNĐ).Nguyên nhân tăng là do khách sạn đầu
tư chiều sâu hoàn thiện và nâng cao tiện nghi của khách sạn, hệ thống nhà
hàng được xây mới,mở rộng,được đầu tư nâng cấp và chính sách giá mềm
dẻo. Những năm gần đây hoạt động kinh doanh ăn uống của khách sạn tăng
mạnh mẽ nhất là mảng kinh doanh phục vụ tiệc cưới, hội nghị, hội thảo. Đây
được coi là hướng phát triển mới,một thế mạnh cạnh tranh của khách san Kim
Liên. Năm 2004, doanh thu ăn uống đạt 29.249.526.000 VNĐ, chiếm 30%
tổng doanh thu, năm 2005 tăng 27,7%, năm 2006 đạt 51.285.361.000 VNĐ
tăng mạnh 37,3% so với năm 2005 và năm 2007 doanh thu ăn uống đạt
61.712.693.000 VNĐ tăng 20,3 so với năm 2006. Đến năm 2006 các chỉ tiêu
về doanh thu vẫn tăng đều. Tổng doanh thu năm 2006 là
143.656.305.000VNĐ vượt so với năm 2005 là 21,5%. Đặc biệt là tốc độ tăng
liên hoàn của doanh thu buồng rất cao. Doanh thu buồng đạt
45.395.392.000VNĐ tăng 36,5% so với năm 2005, chiếm 31,6% tổng doanh
thu. Nhưng doanh thu khác lại giảm 1,3% so năm 2005, doanh thu khác năm
2006 đạt 46.975.612.000VNĐ.
Xu hướng các chỉ tiêu vẫn tiếp tục tăng trong năm 2007, tổng doanh
thu năm 2007 đạt 171.281.413.000VNĐ, tốc độ tăng liên hoàn so với năm
trước đạt 19,2%. Nộp ngân sách nhà nước 7.983.470.000 VNĐ, lợi nhuận thu
được đạt 4.058.000.000 VNĐ,thu nhập bình quân đầu người đạt 2.370.000
VNĐ.Năm 2007 công suất sử dụng phòng trung bình đạt hiệu suất cao
Nguyễn Trường Giang Lớp Du lịch 46A