LỜI MỞ ĐẦU
Sự phát triển của nền kinh tế ngày nay đã kéo theo sự thay đổi của hàng
loạt các mặt của đời sống xã hội. Cuộc sống tinh thần của người dân cũng có
rất nhiều sự thay đổi trong đó du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu
trong cuộc sống tinh thần của người dân. Mức sống của người dân ngày càng
được nâng cao dẫn đến những đòi hỏi để được thoả mãn ngày càng đa dạng
hơn, phong phú hơn và ở mức độ cao hơn.
Lợi nhuận trong kinh doanh các vấn đề liên quan dến ngành du lịch là
rất cao, nó có sức hấp dẫn và thu hút rất nhiều nhà kinh doanh đầu tư vào các
lĩnh vực này. Đặc biệt là việc đầu tư vào các nhà hàng, khách sạn để thoả mãn
nhu cầu ăn, nghỉ, giải trí.. của khách hàng. Kết quả là ngày nay hàng loạt các
nhà hàng, khách sạn đã xuất hiện để có thể thu được nhiều lợi nhuận các nhà
hàng, khách sạn này đã phải cạnh tranh gay gắt với nhau bằng rất nhiều các
biện pháp chính sách, để có thể thu hút được nhiều khách về với mình hơn.
Chính vì điều đó, qua thời gian thực tập tại công ty khách sạn du lịch
Kim Liên em đã chọn đề tài “Các biện pháp nhằm thu hút và khai thác
khách tại Công ty khách sạn du lịch Kim Liên”.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: chuyên đề thực tập tập trung vào việc nghiên
cứu thực trạng nguồn khách và các biện pháp nhằm thu hút và khai thác khách
tại khách sạn Kim Liên.
- Phạm vi nghiên cứu: chuyên đề tập trung nghiên cứu khách lưu trú
giới hạn trong công ty khách sạn Kim Liên dựa trên số liệu báo cáo tổng kết
giai đoạn 2004 - 2007.
1
• Mục tiêu nghiên cứu.
Xác định ra thực trạng nguồn khách của khách sạn các đặc điểm liên quan
đến nguồn khách và tìm các biện pháp để thu hút và khai thác khách.
• Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp tổng hợp phân tích.
(nguồn: Giáo trình quản trị kinh doanh khách sạn, Đồng chủ biên,
Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương, NXB Lao động - Xã hội Hà Nội.)
Còn lại ở Pháp lại định nghĩa:
3
"Khách sạn là một cơ sở lưu trú được xếp hạng, có các buồng và căn hộ
với các trang thiết bị tiện nghi nhằm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi của khách
trong một khoảng thời gian dài (có thể là hàng tuần hoặc hàng tháng nhưng
không lấy đó làm nơi cư trú thường xuyên), có thể có nhà hàng. Khách sạn có
thể hoạt động quanh năm hoặc theo mùa."
Ở Việt Nam, qua quá trình nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành đã
đưa ra khái niệm:
"Khách sạn (Hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có
quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật trang thiết
bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch"
(nguồn: Thông tư số 01/2002/TT-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục
Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ-Cp về cơ sở lưu
trú)
Khoa du lịch Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đưa ra khái niệm:
"Khách sạn là cơ sở cung cấp các dịch vụ lưu trú (với đầy đủ tiện nghi),
dịch vụ ăn uống dịch vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ cần thiết khác cho
khách lưu lại qua đêm và thường được xây dựng tại các điểm du lịch".
(nguồn: Trong cuốn sách "Giải thích thuật ngữ du lịch và khách sạn" -
Trường ĐH Kinh tế quốc dân)
Như vậy, qua các khái niệm trên ta thấy cùng với sự phát triển kinh tế
và đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì hoạt động du lịch và
trong đó có hoạt động kinh doanh khách sạn cũng không ngừng phát triển cả
về chiều sâu và chiều rộng.Các khái niệm về khách sạn cũng ngày càng được
hoàn thiện và phản ánh trình độ và mức độ phát triển của nó.
1.1.2. Khái niệm về kinh doanh khách sạn
Theo những quan điểm đơn sơ nhất về kinh doanh khách sạn thì kinh
lưu trú không tạo ra sản phẩm mới mà cũng không tạo ra giá trị mới. Hoạt
động của các cơ sở lưu trú thông qua việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của
khách sạn kết hợp với sự hoạt động phục vụ của các nhân viên đã giúp chuyển
dần giá trị từ dạng vật chất sang dạng tiền tệ dưới hình thức khấu hao.
Từ đó ta có thể hiểu định nghĩa về kinh doanh lưu trú như sau: "Kinh
doanh lưu trú là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung
cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách
hàng thời gian lại tạm thời tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi".
(nguồn: giáo trình "Quản trị kinh doanh khách sạn", Đồng chủ biên:
Nguyễn Văn Mạnh, Hoàng Thị Lan Hương)
1.1.3.2. Hoạt động kinh doanh ăn uống
Kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm ba hoạt động cơ bản sau:
- Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là hoạt động chế biến thức ăn cho
khách.
- Hoạt động lưu thông: Đây là hoạt động thực hiện việc bán các sản
phẩm chế biến và sản phẩm của các ngành khác.
- Hoạt động tổ chức phục vụ: là hoạt động nhằm mục đích tạo điều kiện
để khách hàng tiêu thụ thức ăn tại chỗ và cung cấp các điều kiện tiêu thụ thức
ăn tại chỗ và cung cấp các điều kiện phục vụ cho việc nghỉ ngơi, thư giãn của
khách.
Ăn uống trong khách sạn đòi hỏi phải có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện
đại, tiện nghi cao và đội ngũ nhân viên phục vụ cũng đòi hỏi phải có trình độ
chuyên môn, nghiệp vụ, có thái độ phục vụ tốt để có thể đáp ứng tốt các nhu
cầu về ăn uống của khách.
Ta có thể hiểu định nghĩa về kinh doanh ăn uống như sau:
6
"Kinh doanh ăn uống trong khách sạn bao gồm các hoạt động chế biến
thức ăn, bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống là cung cấp
các dịch vụ khác nhằm thoả mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí tại các
khách sạn cho khách nhằm mục đích có lãi".
Có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại khách của khách sạn, ta có
thể phân loại dựa vào các căn cứ phổ biến sau:
1.2.2.1. Căn cứ vào tính chất tiêu dùng và nguồn gốc của khách theo tiêu thức
này. Khách của khách sạn bao gồm 2 loại.
- Khách là người địa phương: Đây là những người sinh sống và cư trú
thường xuyên gần khách sạn, trong địa phương nơi mà có khách sạn tại đó.
Họ rất ít sử dụng dịch vụ lưu trú tại khách sạn,nếu có thì chủ yếu là mua lẻ
với thời gian lưu chú rất ít.Loại khách này tiêu dùng các sản phẩm ăn uống và
các dịch vụ bổ sung (hội họp, giải trí) là chính.
- Khách không phải là người địa phương: Đây là những người khách từ
các nơi khác nhau đến với khách sạn họ có nơi sinh sống cư trú thường xuyên
ngoài địa phương nơi có khách sạn. Họ có thể đến từ các địa phương khác
nhau trong cùng một quốc gia hoặc đến từ các quốc gia khác. Họ thường tiêu
dùng hầu hết các sản phẩm của khách sạn, đó là các dịch vụ lưu trú, dịch vụ
ăn uống, dịch vụ bổ sung, giải trí.
1.2.2.2. Căn cứ vào mục đích (động cơ)của chuyến đi
Khách của khách sạn bao gồm
- Khách du lịch thuần tuý: Họ là những người thực hiện chuyến đi với
mục đích chính là để nghỉ ngơi, thư giãn.
8
- Khách là người thực hiện chuyến đi với mục đích thăm thân, đi vì các
mối quan hệ của gia đình và xã hội.
- Khách thực hiện chuyến đi với mục đích chính là công vụ: đi dự hội
thảo, hội nghị, đi hợp tác, làm ăn kinh tế, ký kết các hợp đồng.
- Khách là người thực hiện chuyến đi với các mục đích khác nhau như
tham dự vào các sự kiện thể thao, học tập, nghiên cứu…
1.2.2.3. Căn cứ vào hình thức tổ chức tiêu dùng của khách theo tiêu thức này,
khách của khách sạn bao gồm hai loại:
- Khách tiêu dùng sản phẩm của khách sạn thông qua sự giúp đỡ của
các tổ chức trung gian, thông qua đại lý lữ hành, công ty lữ hành. Những
hàng? Kênh thông tin, kênh phân phối hiện tại đã hiệu quả
chưa?
Việc phân loại khách của khách sạn là cơ sở rất tốt cho công tác dự báo
về số lượng buồng cho thuê trong thời gian tiếp theo của khách sạn của
bộ phận marketing.
1.3. Các biện pháp thu hút khách của khách sạn ba sao
1.3.1. Nghiên cứu thị trường khách mục tiêu
Đây là công việc rất quan trọng đối với khách sạn, nó tác động và chi
phối cả đến các chiến lược, chính sách kinh doanh về sau của công ty. Việc
nghiên cứu chính là việc tìm ra các đặc điểm chính của thị trường như quy
mô, cơ cấu, xu hướng phát triển, khả năng thanh toán, thói quen tiêu dùng…
10
Để từ đó doanh nghiệp xác định ra được khả năng của mình đề ra các chiến
lược chính sách trong hiện tại và tương lai để phù hợp với thị trường, đem lại
hiệu quả cao trong kinh doanh
1.3.2. Chính sách giao tiếp, khuyếch trương:
Đây là công việc quảng bá các sản phẩm, dịch vụ của khách sạn đến
với khách hàng.Trong quá trình thực hiện, công ty phải cho khách hàng thấy
được các đặc điểm, đặc tính, ưu thế, tính nổi trội của sản phẩm, dịch vụ của
công ty cho khách hàng thấy được.
Đây là công việc rất quan trọng, nó đóng vai trò là chiếc cầu nối để
truyền đạt thông tin giữa doanh nghiệp với khách hàng. Cho dù doanh nghiệp
có sản xuất hay cung cấp, các sản phẩm dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp
lý đến đâu nhưng khách hàng không biết được thông tin về các sản phẩm
dịch vụ ấy thì doanh nghiệp cũng không thể tiêu thụ được và sẽ dẫn đến thất
bại trong kinh doanh.
Đặc biệt đối với trong kinh doanh khách sạn, sản phẩm, dịch vụ có tính
chất cố định cao nên việc tuyên truyền cho khách hàng thấy được sản phẩm
của khách sạn là vô cùng quan trọng.
Hơn nữa, việc tuyên truyền quảng cáo còn đánh thức nhu cầu tiềm ẩn
Đối với các lĩnh vực kinh doanh khác nói chung và đối với kinh doanh
khách sạn nói riêng việc tạo ra được chính sách giá mềm dẻo, linh hoạt
thường đem lại hiệu quả kinh doanh cao cho doanh nghiệp. Để đảm bảo vừa
bù đắp các khoản chi phí, vừa đem lại lợi nhuận cho công ty, thì khách sạn
phải tính toán thật kỹ, chính xác các khoản chi phí đã bỏ ra, xác định được
12
mức giá tại điểm hoà vốn đồng thời nghiên cứu và xác định ra mối quan hệ
của cung và cầu trên thị trường, xác định được giá của đối thủ cạnh tranh, giá
quy định của luật pháp để từ đó đưa ra được một chính sách giá phù hợp và
hợp lý đem lại hiệu quả kinh doanh cho khách sạn.
Trong kinh doanh khách sạn việc thực hiện chính sách giá đa dạng,
phong phú hợp lý với nhiều mức giá khác nhau sẽ tạo ra cho khách hàng
nhiều cơ hội lựa chọn, đáp ứng được nhiều đối tượng khách có khả năng
thanh toán khác nhau. Điều đó sẽ làm tăng khả năng thu hút khách của khách
sạn.
1.3.6. Chính sách phân phối
Đối với khách sạn để đạt hiệu quả cao trong tiêu thụ hàng hoá của mình
thì khách sạn phải tạo lập và xây dựng được một hệ thống phân phối, đa dạng.
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đưa khách tiếp cận nhanh
chóng và dễ dàng với sản phẩm của doanh nghiệp.
Đối với khách sạn phải tạo lập, duy trì và phát triển tốt các mối quan hệ
với các tổ chức trung gian, hiệp hội du lịch, các cơ quan chức năng, chính
quyền địa phương. Vì đây là các đơn vị tổ chức thường đem lại nguồn khách
ổn định, lâu dài tới khách sạn
Thêm vào đó, mối quan hệ với các đối thủ cạnh tranh khác trên địa bàn
cũng rất quan trọng.Trong nhiều hoàn cảnh khó khăn việc cùng hợp tác, liên
kết với nhau với phương châm cùng có lợi là rất cần thiết.
Tóm lại, trong hoạt động kinh doanh hiện nay, để có thể thành công và
đững vững trên thị trường thì ngoài những điều kiện sẵn có của mình thì
khách sạn cần phả nỗ lực hết mình, phải xác định sao cho phù hợp mới có khả
Năm 1993, cục chuyên gia sát nhập vào tổng cục du lịch, khách sạn được
đổi tên là công ty du lịch Bông Sen Vàng (QĐ 276 - TCDL).
Ngày 25/11/1994 TCDL quyết định đổi tên công ty du lịch Bông Sen
Vàng thành công ty khách sạn Bông Sen Vàng (QĐ số 309/QĐ-TCDL).
Ngày 16/10/1996 công ty khách sạn Bông Sen Vàng được đổi tên thành
công ty khách sạn du lịch Kim Liên (QĐ số 454/ QĐ-TCDL).
Năm 2001 kỷ niệm 40 năm truyền thống của khách sạn Kim Liên, toàn
công ty tập chung phát huy sức mạnh nội lực, đông thời triệt để khai thác yếu
tố ngoại lực để phát triển sản xuất kinh doanh. Lãnh đạo công ty đã kêu gọi
phát huy “trí tuệ, đoàn kết, dân chủ, trách nhiệm cao”.
Các năm 2002-2003 công ty tiếp tục thực hiện định hướng đã đề ra, có
bổ sung những giải pháp và khẩu hiệu hành động mới. Công ty đã xây dựng
mới hàng loạt quy chế và đinh mức, đưa công tác quản lý lên một trình độ
mới nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ. Việc thành lập Trung tâm Lữ
hành quốc tế năm 2002 là một chủ trương đúng đắn của Đảng uỷ và lãnh đạo
công ty, là một quyết định mang tính chiến lược lâu dài để doanh nghiệp phát
triển bền vững, và năm 2002 công ty cũng có chi nhánh Bắc Kinh và Quảng
Châu là một thành quả không dễ gì doanh nghiệp nào cũng có được.
Công ty khách sạn du lịch Kim Liên đã vượt qua giai đoạn đầu tạo dựng
nên một thương hiệu – Kim Liên trong lòng du lịch Việt Nam để có thể sánh
15
vai với các công ty du lịch hàng đầu trong cả nước. Một tin vui làm tăng thêm
lòng tin yêu đối với bạn bè, du khách gần xa, tô thăm thêm thương hiệu “ Kim
Liên - Bông Sen Vàng” và truyền thống Kim Liên đó là công ty khách sạn
Kim Liên được nhà nước trao tặng danh hiệu “Đơn vị Anh hùng Lao động
thời kì đổi mới” tháng 4 năm 2006. Vinh quang này là sự hy sinh phấn đấu
bền bỉ không mệt mỏi của các thế hệ CBCNV trong suốt 45 năm qua.
Năm 2007 Công ty khách sạn du lịch Kim Liên tiến hành cổ phần hoá.
2.1.2. Cơ cấu tổ chức
2.1.2.1. Mô hình tổ chức quản lý công ty khách sạn du lịch Kim Liên
Giám đốc điều hành
KSKLI
Giám đốc điều hành
KSKLII
Tổ
lễ tân
Tổ
phòng
Tổ
lễ tân
Tổ
phòng
NH số
1
NH số
2
NH số
3
NH số
4
NH số
9
Bar
Mô hình tổ chức của công ty được chia làm hai bộ phận chính: Bộ phận
điều hành và bộ phận sản xuất kinh doanh.
• Bộ phận điều hành: Bộ phận này chịu trách nhiệm quản lý chung mọi
hoạt động của công ty, trực tiếp chỉ đạo các bộ phận: phòng kế toán, phòng kế
hoạch, phòng tổ chức hành chính, khách sạn Kim Liên 1, khách sạn Kim Liên
2, trung tâm du lịch. Việc điều hành hoạt động của tổ lễ tân và tổ phòng do
khách sạn Kim Liên 1 và khách sạn Kim Liên 2 chịu trách nhiệm quản lý.
xuất kinh doanh toàn đơn vị qua các biểu mẫu, báo cáo. Đồng thời tham mưu
cho ban giám đốc về công tác tài chính, cung cấp các thông tin, dữ liệu về tài
chính cho công việc phân tích hoạt động kinh doanh.
• Phòng thị trường: tham mưu cho ban giám đốc về thị trường du lịch,
các biện pháp thu hút khách, thực hiện các chính sách khuyến khích kinh
doanh, ký kết các hợp đồng du lịch, tổ chức các chương trình du lịch.
• Bộ phận lễ tân: đây là bộ phận tiếp xúc ban đầu và trực tiếp với khách
có vai trò quan trọng trong việc định hướng tiêu dùng cho khách, giới thiệu
quảng cáo về sản phẩm, dịch vụ. Tham mưu cho giám đốc, cung cấp thông tin
về khách cho các bộ phận chức năng để đáp ứng nhu cầu của khách.
2.1.2.3. Tình hình nhân lực tại công ty khách sạn du lịch Kim Liên
Hiện nay Công ty khách sạn du lịch Kim Liên có 700 CBCNV. Trong
đó lực lượng nữ chiếm 56.57% và nam là 43.42%. Tỷ lệ lao động nữ là lớn,
chủ yếu tập trung ở các bộ phận như nhà hàng, các nhà phòng, 2 lễ tân, thu
18
ngân ( thuộc phòng kế toán) và khu dịch vụ bổ sung… còn lao động nam
thường tập trung ở các bộ phận như: bảo vệ, tu sửa, bể bơi v.v…
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động theo bộ phận và giới tính
( Đơn vị : Người )
TT Bộ Phận Nam Nữ Tổng số
1. Ban Giám đốc 2 1 3
2. Phòng Tổ chức hành chính 6 6 12
3. Phòng kế toán tài vụ 5 18 27
4. Phòng kế hoạch 4 7 14
5. Trung tâm Du lịch 5 9 14
6. Trung tâm CNTT 5 9 14
7. Trung tâm Thương mại 1 2 3
8. Đội tu sửa 30 5 35
9. Đội giặt là 11 19 34
10. Đội bảo vệ 27 7 34
Kim Liên năm 2007
Trình độ Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Tiến sĩ, Thạc sĩ 4 0.60
Đại học 130 18.60
Trung cấp 250 35.70
Sơ cấp 256 36.50
Tổng 700 100
(Nguồn: Công ty khách sạn du lịch Kim Liên )
Phần lớn cán bộ công nhân viên của công ty đều đã trải qua các trường
lớp đào tạo, đã được học tập và thực tế về các nghiệp vụ du lịch, khách sạn.
Có số người có trình độ Đại học và trên đại học chiếm 19.2% tổng nguồn
nhân lực của công ty. Đây là những cán bộ công nhân viên có trình độ cao,
tầm hiểu biết rộng. Số người biết ngoại ngữ chiếm 70% chủ yếu là Tiếng anh,
Hàn Quốc, Nga… Nhưng khả năng giao tiếp với người nước ngoài còn nhiều
hạn chế, điều này làm giảm chất lượng phục vụ đối với khách quốc tế. Số
lượng cán bộ công nhân viên có tay nghề tương đối cao. Tổ buồng có hơn
95% lao động bậc 5,6, tô bếp có 85% lao động bậc 6,7.
Cơ cấu lao động theo độ tuổi : So với các doanh nghiệp cùng hoạt động
trong lĩnh vực du lịch thì độ tuổi trung bình của lao động trong toàn Công ty
Khách sạn Du lịch Kim Liên là tương đối cao 35,5 tuổi. Hiện nay Công ty
đang có xu hướng trẻ hoá đội ngũ lao động cho phù hợp với đòi hỏi của
ngành.
2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty
20
2.1.3.1. Cơ sở vật chất kỹ thuật bộ phận kinh doanh lưu trú
Cơ sở vật chất kỹ thuật bộ phận kinh doanh lưu trú của Công ty tập
trung chủ yếu ở Khách sạn : Khách sạn Kim Liên 1, Khách sạn Kim Liên 2,
Khách sạn Kim Liên 3.
- Khách sạn Kim liên 1 : Gồm các nhà khu 4A, 4B, 5, 9 với 183 phòng
đạt tiêu chuẩn 3 sao chủ yếu đón và phục vụ các đối tượng khách là người
+ Thiết bị báo cháy
+ Tivi bắt 8 kênh quốc tế
+ Tủ lạnh mini, lọ hoa tươi
+ Dụng cụ thể dục thể thao
+ Bảng hướng dẫn sử dụng các thiết bị trong phòng
2.1.3.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật của bộ phận kinh doanh ăn uống
Khách sạn Kim Liên 1 bao gồm: nhà hàng số 1 với 510 chỗ, nhà hàng
số 2 với 345 chỗ, nhà hàng số 9 với 270 chỗ với trang thiết bị đầy đủ và hiện
đại đạt tiêu chuẩn 3 sao, tiêu biểu là hệ thống điều hòa nhiệt độ hai chiều, giàn
âm thanh hiện đại…, nhà ăn được bố trí rất khoa học và hợp lý.
Khách sạn Kim Liên 2 bao gồm: Các nhà hàng số 3, 4 nằm gần cổng
chính có thể phục vụ đồng thời khách ăn tại khách sạn và khách ăn ngoài
khách sạn.
2.1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật của bộ phận kinh doanh dịch vụ bổ sung
Dịch vụ bổ sung của Khách sạn Kim Liên khá phong phú và đa dạng
như: Sauna - Massage Thai, bể bơi, phòng Karaoke, các phương tiện vận
chuyển, sân tennis, dịch vụ giặt là có khu vực riêng… Vị trí của các dịch vụ
này được bố trí tương đối hợp lý, thuận tiện cho việc tiêu dùng của khách
22
trong và ngoài khách sạn. Tuy nhiên chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật dịch
vụ bổ sung chưa cao, chưa thu hút được nhiều khách.
Đặc biệt, công ty còn có hệ thống các phòng hội thảo, họp tương đối
hiện đại gồm 1 phòng họp đạt tiêu chuẩn 3 sao. Tại nhà 4, phòng hội thảo
chưa 650 khách với hệ thống máy chiếu, microphone hiện đại đã thu hút được
nhiều khách hàng.
2.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty trong những năm gần đây
Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đi vào hoạt động kinh doanh thì đều
phấn đấu vì mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận. Có thể nhìn vào bảng báo cáo
kết quả kinh doanh thì có thể đánh giá chính xác thực trạng kinh doanh của
Công ty.
37.362.463
127,7
51.285.301
137,3
61.712.693
120,3
4. Doanh thu khác
Tốc độ tăng liên hoàn (%)
42.417.578
-
47.616.334
112,3
46.975.612
98,7
53.902.261
114,7
5. Nộp ngân sách
6.125.134 7.526.162 7.902.470 7.983.470
6. Lợi nhuận
3.450.000 3.680.000 3.977.000 4.058.000
23
7. Thu nhập bình quân
2.100 2.250 2.257 2.370
8. CSSDPtb (%)
88,03 89,96 91 92,05
(Nguồn: Công ty Khách sạn Kim Liên)
Qua bảng trên ta thấy trong một vài năm gần đây Công ty khách sạn du
lịch Kim Liên luôn đạt được những kết quả hết sức khả quan và đáng khích lệ
trong hoạt động kinh doanh của mình, các chỉ tiêu luôn hoàn thành và vượt
mức kế hoạch đề ra.
của công ty vào các dịch vụ bổ sung cũng như hiệu quả trong việc áp dụng
các chính sách kinh doanh của công ty khách sạn du lịch kim liên, khi mà đất
nước đang bước vào thời kì hội nhập với nền kinh tế thế giới, khi mà việt
Nam mới gia nhập WTO.
2.2. Thực trạng nguồn khách và các biện pháp thu hút và khai thác
khách tại công ty khách sạn du lịch Kim Liên
2.2.1. Đặc điểm của nguồn khách đến với công ty
Giai đoạn những năm 90 trở về trước, lượng khách đến công ty khách
sạn du lịch Kim Liên chủ yếu là khách chuyên gia do trên đưa xuống. Số
khách vãng lai, khách du lịch tìm đến khách sạn là rất hạn chế, do đó phương
thức kinh doanh của khách sạn còn đơn điệu.
Sau khi nhà nước chuyển dịch cơ cấu kinh tế, hoạt động kinh doanh của
công ty bắt đầu gặp khó khăn. Để đáp ứng và phát triển, công ty đã có những
thay đổi trong chính sách kinh doanh, chú ý đến việc thiết lập và phát triển
mối quan hệ với những tổ chức, một số hãng lữ hành.Bởi vậy lượng khách
đến với khách sạn ngày càng tăng mạnh
25