Bài giảng tuyến tụy nội tiết ths BS nguyễn phúc hậu - Pdf 35

TUYẾN TỤY NỘI TIẾT

Ths. Bs. Nguyễn Phúc Hậu
Phó Chủ Nhiệm BM Sinh lý học
ĐẠI HỌC Y DƯC TP HCM



GIẢI PHẪU SINH LÝ CỦA TUYẾN TỤY
Tuyến tụy gồm hai loại mô chính:
(1) mô acini tiết ra dòch tiêu hóa đổ vào tá tràng và
(2) đảo Langerhans là tuyến nội tiết, nó tiết ra các
hormon.
Tuyến tụy có từ 1 đến 2 triệu đảo Langerhans
Đảo chứa ba loại tế bào chính là các tế bào alpha,
beta, và delta



Tế bào beta chiếm khoảng 60 %, nằm giữa đảo và tiết
insulin
Tế bào alpha chiếm 25 %, tiết glucagon
Tế bào delta chiếm trên 10 %, tiết somatostatin.
Các tế bào liên quan chặt chẽ với nhau và ức chế lẫn
nhau
Thí dụ: insulin ức chế sự bài tiết glucagon, và
somatostatin ức chế sự bài tiết của cả insulin và
glucagon.


2.


Insulin gắn với các tiểu đơn vò alpha ở phía
ngoài màng
Phần tiểu đơn vò beta mà nó lồi vào trong tế
bào trở nên được phosporyl hóa tự động-> trở
thành một enzym được hoạt hóa,
Protein kinaz gây ra sự phosphoryl hóa hàng
loạt các enzym khác trong tế bào.


Các tác dụng cuối cùng của insulin là như sau:
1. Sau ít giây insulin gắn với receptor màng, màng tế
bào trở nên có tính thấm cao với glucoz
Đặc biệt là tế bào gan, tế bào cơ và tế bào của mô mỡ,
còn các neuron của não thì không.
Sự tăng tính thấm đối với glucoz cho phép glucoz
chuyển nhanh vào tế bào, trong tế bào glucoz được
phosphoryl hóa ngay, và trở thành cơ chất cho tất cả
các phản ứng chuyển hóa carbohydrat thông thường.


Cơ chế của sự tăng vận chuyển glucoz là như sau:
Có nhiều túi nhỏ ở trong bào tương được gắn với màng tế
bào
Những túi nhỏ này có các phân tử protein vận chuyển glucoz
ở trên màng của nó
Khi insulin hết tác dụng, những túi nhỏ này lại tách ra khỏi
màng tế bào trong khoảng từ 3 đến 5 phút, và chuyển trở về
bên trong tế bào, để rồi có thể được dùng lại nhiều lần.
Đó là cơ chế vận chuyển glucoz theo kiểu khuếch tán được

tụy bài tiết insulin
Nó làm tăng thu nhập, dự trữ và sử dụng glucoz bởi
toàn bộ các tế bào của cơ thể, đặc biệt là tế bào cơ,
mô mỡ và gan.


2.3.1. Tác dụng của insulin đẩy mạnh chuyển hóa
glucoz trong cơ
Lúc đói, đường huyết giảm, ức chế sự bài tiết insulin,
nên glucoz vào tế bào cơ rất ít, cơ thường sử dụng axít
béo để cho năng lượng.
Có hai điều kiện để cơ sử dụng glucoz với lượng lớn.
Trong lao động: cường độ từ vừa tới nặng, ngay
cả khi có rất ít insulin, vì trong lao động sợi cơ có tính
thấm cao với glucoz.


-Sau khi ăn, đường huyết tăng cao, kích thích tuyến
tụy bài tiết nhiều insulin
Nó có tác dụng trực tiếp trên màng tế bào cơ, làm tăng
mức độ vận chuyển glucoz qua màng vào trong tế bào
cơ, gấp 15 lần khi thiếu insulin.
Lúc đó cơ sử dụng glucoz thay vì axít béo, vì dòng axít
béo từ các mô mỡ bò ức chế bởi insulin.


Dự trữ glycogen trong cơ:
Sau khi ăn, lượng glucoz vận chuyển vào tế bào cơ
nhiều
Nếu cơ sử dụng không hết, số glucoz thừa sẽ dự trữ



3.

Insulin làm tăng hoạt tính của các men đẩy
mạnh việc tổng hợp glycogen, đặc biệt là men
glycogen synthetaz, nó đồng phân hóa các đơn
vò monosaccharit để tạo thành các phân tử
glycogen.
Lượng glycogen có thể tăng đến mức chiếm từ 5
– 6 % của khối gan, tương đương với 100g
glycogen trong gan.


2.3.2.2. Gan giải phóng glucoz vào máu

Lúc đói, glucoz máu giảm thấp, gan sẽ chuyển
glycogen dự trữ thành glucoz, và giải phóng glucoz
vào máu, qua các bước sau:
1.
Sự giảm glucoz máu, làm tụy giảm tiết insulin.
2.
Thiếu insulin, gan ngừng tổng hợp glycogen, và
ngừng thu nhận glucoz từ máu vào gan.
3.
Thiếu insulin làm hoạt hóa men phosphorylaz
gây cắt glycogen thành glucoz phosphat.


4.

Nó có thể thấm glucoz và sử dụng glucoz không cần
có trung gian là insulin
Tế bào não chỉ sử dụng glucoz cho năng lượng.
Mức đường huyết phải duy trì ở trên mức tiêu chuẩn,
khi giảm dưới 50mg/dL, có thể dẫn đến shock hạ
đường huyết, biểu hiện : co giật và hôn mê.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status