TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU ĐÔNG VỚI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------

ĐỀ TÀI KHOA HỌC
Tên đề tài: TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU ĐÔNG VỚI CUỘC
KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Giáo Viên Hướng Dẫn : Th.S Vũ Kiến Quốc
Nhóm Nghiên Cứ :

Mã SV:

1.Bùi Tuấn Anh

1451090875

2.Nguyễn Thị Hương

1451090669

3.Phạm Thùy Dung

1451090693

Hà nội,2016

1


Mục Lục

trào đấu tranh không chỉ ở Việt Nam mà cả các nước trên thế giới.Nó đã nêu cao
tinh thần tự lực tự cường của dân tộc chính vì thế nên nó có những tác động không
hề nhỏ không chỉ tại Việt Nam mà cả ở quân đội Pháp.Do đó nhóm chúng em chọn
đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA CHIẾN DỊCH VIỆT BẮC THU ĐÔNG VỚI CUỘC KHÁNG
CHIẾN CHỐNG PHÁP”.

2.Phương Pháp Nghiên Cứu Đề Tài.
Các phương pháp sử dụng:
+ Phương pháp tổng hợp.
+ Phương pháp thực nghiệm phân tích
+ Phương pháp liệt kê,
+ Phương pháp so sánh – đối chiếu,
+ Phương pháp thực nghiệm.

3.Ý Nghĩa Đề Tài.
Chiến dịch Việt Bắc-Đông 1947 là chiến dịch phản công lớn đầu tiên của quân
và dân ta trong kháng chiến chống Pháp,giành thắng lợi to lớn. Chiến dịch Việt Bắc
Thu Đông đã tác động đến nhiều mặt về kháng chiến chống Pháp của đảng ta.Chiến
dịch Việt Bắc Thu Đông đã đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của địch,giữ vững
căn cứ địa kháng chiến của cả nước.Đây là mốc khởi đầu sự thay đổi trong tương
quan lượng giữa ta và địch.Mặt khác,chiến thắng này còn làm phá sản hoàn toàn
chiến lược “đánh nhanh,giải quyết nhanh” của thức dân Pháp,buộc chúng ta phải
chuyển từ chính sách “đánh nhanh thắng nhanh” sang đánh lâu dài với chiến lược
“da vàng hóa chiến tranh”thành lập một chính phủ bù nhìn để dùng người Việt
đánh người Việt,lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”.Cuộc kháng chiến chiến dịch Việt
Bắc Thu Đông của nhân dân ta bước sang giai đoạn mới.
Những tác động của chiến dịch Việt Bắc Thu Đông đã gây thêm tinh thần nỗ lực
phấn khởi trong toàn dân,tăng thêm tin tưởng ở tiền đồ kháng chiến vẻ vang của
dân tộc.Nó chứng tỏ Việt Nam nước nhỏ,không có căn cứ địa chắc chắn,biên giới có


phẩm Kháng chiến nhất định thắng lợi của Trường Chinh (tháng 9/1947):
– Nội dung của đường lối kháng chiến:
+ Xác định mục đích kháng chiến là đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược, giành độc
lập tự do: “Thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”.
+ Kháng chiến toàn dân: xuất phát từ truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc,
từ tư tưởng “chiến tranh nhân dân” của Hồ Chí Minh, thực hiện toàn dân đánh giặc
và đánh gặc bằng mọi vũ khi có trong tay.… Có lực lượng toàn dân mới thực hiện
được kháng chiến toàn diện và tự lực cánh sinh;

4


+ Kháng chiến toàn diện: kháng chiến trên trên tất cả các mặt: quân sự, chính trị,
kinh tế, văn hoá, xã hội và ngoại giao, nhằm làm thất bại mọi thủ đoạn của thực
dân Pháp. Mặt khác phải xây dựng hậu phương kháng chiến toàn diện;
+ Kháng chiến lâu dài: vì so sánh lực lượng lúc đầu chưa có lợi cho cuộc kháng
chiến; cần có thời gian để vừa kháng chiến vừa kiến quốc; chống lại chiến lược
“đánh nhanh, thắng nhanh” của địch; từng bước làm thay đổi so sánh lực lượng,
tiến lên giành thắng lợi quyết định.
+ Tự lực cánh sinh: nhằm phát huy mọi nỗ lực chủ quan, tránh tư tưởng bị động
trông chờ vào sự giúp đỡ bên ngoài; mặt khác vẫn coi trọng sự ủng hộ quốc tế.
Đường lối kháng chiến của Đảng là đường lối chiến tranh nhân dân, là ngọn cờ cổ
vũ, dẫn dắt cả dân tộc Việt Nam đứng lên kháng chiến, là xuất phát điểm cho mọi
thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Bộ chỉ huy Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947 báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh kế
hoạch tác chiến, bố trí lực lượng chiến dịch. Ảnh tư liệu
2. Những thắng lợi trên mặt trận quân sự trước năm 1947
Cuộc chiến đấu ở ở Hà Nội và các đô thị phía Bắc vĩ tuyến 16.

nước đi vào cuộc kháng chiến lâu dài.
Cách mạng Tháng Tám là một trong những trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất
của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bằng thắng lợi của Cách mạng
Tháng Tám, nhân dân ta đã đập tan ách phát-xít Nhật, lật đổ ách thống trị của thực
dân Pháp gần 100 năm, xóa bỏ chế độ phong kiến hàng nghìn năm, đưa dân tộc
Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh của mình. Ðảng ta từ khi ra đời bị khủng bố dã man, đã trở
thành đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo xã hội.
Dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nhân dân ta đã tiến hành các cao trào cách mạng,
vượt qua bao hy sinh, tổn thất để giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám,
đem lại cuộc biến đổi xã hội chưa từng có và tạo ra bước ngoặt vĩ đại của lịch sử
dân tộc.
Cách mạng Tháng Tám đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm lịch sử quý
báu, mãi mãi soi sáng các chặng đường cách mạng Việt Nam. Ðó là bài học giương
cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội; xác định và kết hợp
đúng đắn các nhiệm vụ chiến lược
trong từng thời kỳ cách mạng; bài
học về phát động sức mạnh toàn
dân tộc, lấy sức mạnh của đội quân
chủ lực công - nông làm nòng cốt;
bài học thực hiện triệt để phương
châm "thêm bạn bớt thù"; bài học về
nghệ thuật khởi nghĩa, nghệ thuật
tạo thời cơ và nắm bắt thời cơ; bài
học về xây dựng một đảng Mác - Lê6


nin có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ sáng suốt, thường xuyên vững mạnh

hầu hết
ở Đông
Chiến
bắt đầu
tháng 10
1947 với
7


một binh đoàn quân dù gồm 800 lính đổ bộ lên Bắc Cạn dưới quyền chỉ huy của đại
tá Sauvagnac, chiếm đóng các công sở, nhà thương, kho bạc, nhà máy đèn...
Va-luy đã lầm lẫn lớn khi cho rằng thị xã Bắc Kạn là "Thủ đô mới" của Việt Minh.
Va-luy không hề biết rằng, trong suốt chiến tranh, không khi nào có cơ quan Trung
ương Việt Minh nào ở tại một thị xã, thị trấn, mà tất cả đã chia thành những bộ
phận nhỏ, thường xuyên di chuyển, được sự che chở của nhân dân, nếu 1 bộ phận bị
phá thì vẫn có những bộ phận khác thay thế.
Khi quân Pháp nhảy dù tập hậu, lực lượng Việt Minh ở thị xã Bắc Cạn chỉ có một
bộ phận của tiểu đoàn 49, Trường võ bị Trần Quốc Tuấn lúc này cũng chỉ có một
tiểu đoàn tân binh. Hai đơn vị nhỏ này chủ yếu nổ súng để bảo vệ cho nhân dân và
một số cơ quan đóng ở đây tản cư rút vào rừng núi an toàn. Pháp phá được xưởng
in tiền và công binh xưởng, một số kho tàng và thu được 10 triệu bạc Việt Nam của
Ty Ngân khố, nhưng còn quá xa so với mục tiêu "phá huỷ tiềm năng chiến tranh
của Việt Minh" mà Pháp đề ra.
Raoul Salan coi cuộc hành binh Lê-a ngày 7-10-1947 là một đòn quyết
định "đánh thẳng vào tim kẻ thù". Ông ta ngồi trên máy bay trực tiếp thị sát cuộc
nhảy dù xuống thị xã Bắc Cạn. Lúc 11 giờ 35 phút, Sauvagnac từ mặt đất báo cáo
qua vô tuyến điện: "Ông Hồ Chí Minh bị bắt đã yêu cầu chấm dứt chiến tranh".
Salan vội bay về Hà Nội báo tin mừng với Sài Gòn. Cao uỷ Bollaert và quyền tổng
chỉ huy Battet bay ngay ra Hà Nội. Nhưng ít giờ sau, Salan đã biết mình lầm, đành
phải xin lỗi. Hai quan chức trên quay về Sài Gòn sau khi đã trách mắng Salan nặng

Nhiệm vụ đánh quân thủy, bộ vận động, ngăn chặn tăng viện tiếp tế, tiến tới bẻ
gãy gọng kìm phía tây.

Mặt trận Bắc Cạn - Đường số 3 do Hoàng Văn Thái phụ trách. Nhiệm vụ tiêu
diệt địch cơ động trên đường Bắc Cạn - Cao Bằng và nống ra xung quanh thị xã
Bắc Cạn; bảo vệ cơ quan Trung ương.

Mặt trận đường số 4 do Võ Nguyên Giáp trực tiếp theo dõi, chỉ đạo.
Chiều ngày 14 – 10, Thường vụ Trung ương Đảng họp thông qua Chỉ thị: "Phải
phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc Pháp." Hội nghị nhận định: nếu biết lợi
dụng khai thác những chỗ yếu của Pháp thì nhất định cuộc tiến công sẽ thất bại.
Thường vụ nhất trí thực hiện ngay công thức "Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung",
nhất trí tổ chức ba mặt trận như báo cáo của Tổng chỉ huy Võ
Nguyên Giáp. Kết
thúc cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Tình hình cực kỳ rối ren về chính trị ở
Pháp và phong trào đấu tranh ở các nước thuộc địa đã dẫn Pháp đến chỗ muốn
sớm kết thúc chiến tranh Đông Dương. Chúng chỉ tiến công ồ ạt lúc đầu. Nếu ta
thực hiện được đánh địch khắp nơi, buộc chúng dàn mỏng lực lượng đối phó,
chúng sẽ thất bại. Ta giữ gìn được chủ lực qua mùa đông này là coi như thắng lợi.
Nếu chuyến này không thắng nhanh để kết thúc chiến tranh thì cục diện sẽ đổi mới
có lợi cho ta"
Trên khắp các mặt trận, quân Việt Minh chiến đấu anh dũng, ngăn chặn và đẩy
lui bước tiến của quân Pháp, đặc biệt là thủy binh [9]. Ngày 15 tháng 10, hai tiểu
đoàn chủ lực của Bộ có một khẩu đội pháo phối hợp, tiến công vào 200 quân Pháp
đóng tại Chợ Mới. Ngày 21, một tiểu đoàn của Trung đoàn Thủ đô tiến công một đại
đội Pháp đóng trong Chợ Đồn. Ngày 22, tự vệ thị xã Tuyên Quang dùng địa lôi đánh
phục kích ở ki-lô-mét số 7 trên quốc lộ 2, diệt và làm bị thương gần 100 tên địch.
Cùng với đó là 17 trận phục kích nhỏ trên đường Phủ Thông - Bắc Cạn, Chợ Mới Bắc Cạn, đã làm cho quân Pháp nhụt chí, không dám sục sạo rộng ra ngoài vị trí
đóng quân.
Nhận rõ chỗ yếu chí mạng của Pháp là vấn đề bảo đảm hậu cần, Bộ Tổng chỉ huy

Chợ Rã, Ngân Sơn, Bạch Thông (nay thuộc Bắc Kạn)... Quân Pháp buộc phải rút lui
cục bộ: ngày 28-10 rời bỏ Bản Thi, Yên Thịnh. Ngày 13-11 rút khỏi Chợ Đồn, ngày
16 rút khỏi Chợ Rã, Ngân Sơn. Kế hoạch Lê-a bị phá sản.

Giai đoạn 2.
Ngày 20-11, Pháp mở đợt tấn công mới Xanh-tuya. Từ ngày 19-11 đến ngày 1412-1947 quân Pháp hành quân càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái
Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nơi trú đóng của các cơ quan chính phủ Việt
minh, phá vỡ đài phát thanh, bắt được máy in giấy bạc, nhiều dụng cụ khí giới đủ
loại, súng cá nhân, súng tự động và đại bác, bắt giữ hơn 1.000 người Việt, giải
thoát các con tin người Pháp, chiếm lại được mỏ kẽm Tĩnh Túc (Cao bằng) và mỏ
chì (Tuyên Quang) và có tin đồn là họ đã suýt bắt được cơ quan đầu não của Việt
minh. Về sau có một giai thoại nói rằng: "Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp nấp sau
một bụi cây khi quân Pháp đi tới, Giáp tưởng sẽ bị bắt, nhưng rồi quân Pháp đi qua
không trông thấy nên hai người thoát được."

10


Quân Pháp thiệt hại khá nhiều, nhất là bộ binh của đại tá Beaufre. Qua cơn bất
ngờ lúc đầu, bộ đội Việt minh tổ chức các ổ phục kích trên đường thuộc địa số 4
(RC4) Lạng Sơn - Cao Bằng, đánh các đoàn công-voa và các đồn bót do Pháp đặt rải
rác để giữ trục giao thông đó. Trong Đợt 2, Quân Việt Minh đánh trên sông
Gâm đoạn từ Chiêm Hóa vềTuyên Quang, phủ Lạng Thương, Km 6 Đường Tuyên
Quang – Hà Giang. Pháp phải rút khỏi thị xã Tuyên Quang, Chợ Chu.
Nhiều chiến trường khác có những hoạt động chiến đấu phối hợp với chiến
trường Việt Bắc. Ở Hà Nội, biệt động hoạt động mạnh trong nội thành, diệt
trừ Trương Đình Tri, thủ hiến Bắc kì Việt Nam. Du kích quấy rối ở Chèm, Cầu
Giấy, Văn Điển, Vĩnh Tuy. Đại đội độc lập phối hợp với du kích tập kích ở Đan
Phượng, Hoài Đức và Cần Kiệm (Thạch Thất). Cuộc tổng phá tề ở ngoại thành Hà
Nội đã bắt giữ gần 300 tề. Ở nam phần Bắc Ninh, toàn bộ tề bị phá. Khu 14, bộ đội

Cách mạng tháng 8 năm 1945 đã lật đổ ách thống trị của chế độ thực dân
phong kiến, thiết lập nên nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một kỷ
nguyên mới trong lịch sử của dân của dân tộc Việt Nam: kỷ nguyên Độc lập – Tự do.
Nhưng ngay sau khi vừa mới ra đời, chính quyền cách mạng non trẻ Việt Nam đã
phải đối phó với một tình thế hết sức hiểm nghèo, hàng loạt nguy cơ, thách thức
tưởng chừng khó có thể vượt qua. Đó là nguy cơ của giặc đói, giặc dốt và đặc biệt
là giặc ngoại xâm. Chính sách áp bức bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật
những năm trước đó đã để lại những hậu quả rất nặng nề. Mọi ngành sản xuất đều
bị sa sút ngưng trệ, hàng hóa khan hiếm, thị trường đình đốn tiêu điều. Cuộc sống
của nhân dân đã rớt xuống mức cùng cực khôn tả.
Như vậy chỉ sau ba tuần sau cách mạng tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng
non trẻ của chúng ta đã phải lâm vào cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược
với tương quan lực lượng còn quá chênh lệch so với kẻ thù.
Trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp, thực dân Pháp kiểm soát các
thành phố lớn, nhiều thị xã, miền biển và biên giới, những đường giao thông chính
ở nội địa và với nước ngoài, một số vùng ở đồng bằng. Chúng lại hay lấn ra vùng tự
do để thu hẹp dần địa bàn của ta. Khi chưa giải phóng biên giới, vùng tự do hầu
như nằm trong vòng vây của địch.
Đất nước tạm thời chia làm 2
vùng: vùng tự do kháng chiến và
vùng tạm bị chiếm (ở Nam Bộ từ
23/9/1945).
Tình hình kinh tế lâm vào hoàn
cảnh khó khăn, sức sản xuất và
điều hòa cung cầu giữa các địa
phương bị ảnh hưởng.
Có thể nói tại thời điểm này
Việt Nam gặp muôn ngàn khó
khăn thử thách trên vai chính
quyền cách mạng non trẻ của Việt

dẫn đến việc nhân dân phản đối cuộc chiến tranh mà Pháp đang tiến hành tại Việt
Nam. Dẫn đến sự lục đục về đời sống xã hội trong nội bộ của Pháp.
Để giải quyết những khó khăn ở Đông Dương Pháp buộc phải tìm giải pháp mới để
nhanh chóng kết thúc chiến tranh tại Đông Dương. Chính vì thế quân Pháp đã mở
một cuộc hành quân với quy mô lớn vào vùng Việt Bắc, theo chiến lược “đánh
nhanh thắng nhanh”. Với mục đích phá cơ quan đầu não kháng chiến tiêu diệt chủ
lực của ta, chuẩn bị thành lập chính quyền bù nhìn bảo đại, khóa chặt biên giới Việt
– Trung ngăn chặn đường liên lạc của ta với quốc tế.
+.Tuy nhiên Pháp đã thất bại nặng nề:
- Sau toàn chiến dịch, Việt Minh đã tuyên bố loại khỏi vòng chiến đấu trên 6.000
tên lính Pháp và lính Việt phục vụ cho Pháp, bắt sống hơn 270 lính. 18 máy bay bị
bắn hạ, 16 tàu chiến-38 ca nô bị đáng chìm và 255 xe các loại bị phá hủy. Việt Minh
thu 2 pháo 105 mm, 7 pháo 75 mm, 16 khẩu pháo 20 mm, 337 súng các cỡ, 45
bazooka, 1600 súng trường.

13


- Tàu chiến của dịch bị bắn chìm trên sông Lô, ở Đoan Hùng, Phú Thọ, trong chiến
dịch Việt Bắc thu đông năm 1947.
3. Tác động của chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947.
Việt Minh đã hoàn thành nhiệm vụ đề ra: phá tan cuộc tấn công mùa đông của
Pháp năm 1947, bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến của ta, bảo toàn và nâng cao
sức chiến đấu của bộ đội chủ lực, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc an toàn.
Sau thất bại này, Pháp không thể tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta để kết thúc
sớm cuộc chiến tranh ở Đông Dương. Các đơn vị tinh nhuệ của Việt Nam đươc giữ
vững. Buộc Pháp phái chuyển từ chính sách “đánh nhanh thắng nhanh” sang đánh
lâu dài với chiến lược da vàng hóa chiến tranh - thành lập một chính phủ bù nhìn
để “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh để nuôi chiến tranh”. Trong
khi đó quân đội ta không những không bị tiêu diệt mà dã trưởng thành và được

rộng lớn, vững chắc về mọi mặt.
Được tiến hành trong liên minh chiến đấu của nhân dân 3 nước Đông Dương,
được sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dânchủ
nhân dân, của nhân dân Pháp và loài người tiến bộ.

15


Kết Luận
1.Ý nghĩa tác động đến Việt Nam
Sau thất bại chiến dịch việt bắc thu đông năm 1947 người pháp không thể tiêu
diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh để kết thúc sớm cuộc chiến ở Đông
DươngCác đơn vị tinh nhuệ của Việt Minh vẫn được giữ vững. Họ phải chuyển từ
chính sách đánh nhanh thắng nhanh sang đánh lâu dài với chiến lược Da vàng hóa
chiến tranh thành lập một chính phủ bù nhìn để "dùng người Việt đánh người Việt,
lấy chiến tranh nuôi chiến tranh". Trong khi đó lực lượng Việt Minh mạnh lên vì thu
giữ được một số lượng lớn trang bị của Pháp.
Chiến dịch Việt Bắc được xem là thắng lợi lớn đầu tiên của Việt Minh trong cuộc
chiến, đánh đổ kế hoạch "đánh nhanh thắng nhanh" của Pháp. Nhưng dù sao Pháp
đã thành công trong việc chiếm giữ Đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt-Trung.
Việt Minh sẽ phải đổ nhiều máu để chiếm giữ lại con đường này trong năm 1950.
Chiến dịch Việt Bắc Thu – Đông 1947, làm phá tan kế hoạch “tấn công chớp
nhoáng” để kết thúc chiến tranh của Pháp. Một lần nữa chứng minh đường lối và
sự chỉ đạo kháng chiến của Đảng là đúng đắn, đánh dấu bước trưởng thành mới
của quân đội ta, đưa kháng chiến dân tộc sang một giai đoạn mới, giai đoạn chiến
lược phòng ngự sang giai đoạn chiến lược cầm cự.

2. Ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Ý nghĩa thứ nhất là: Chiến dịch Việt Bắc thu đông năm 1947 có thể nói là chiến
thắng lớn nhất kể từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lần thứ hai xâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status