1
I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
PHM TH L
Tờn ti:
Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trởng của cây Bơng lông
(Dendrocalamus giganteus) tại xã Mờng Phăng
huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
khóa luận tốt nghiệp đại học
H o to
Chuyờn ngnh
Lp
Khoa
Khoỏ hc
Ging viờn hng dn
: Chớnh quy
: Lõm nghip
: K42 - Lõm nghip
: Lõm nghip
: 2010-2014
: ThS. Lờ S Hng
Thỏi Nguyờn, nm 2014
3
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tổng hợp diện tích các loại đất trên địa bàn xã Mường Phăng ....................15
Bảng 2.2: Tổng hợp hiện trạng dân số của xã phân theo thành phần dân tộc ...............17
Bảng 2.3: Tổng hợp dân số, lao động xã Mường Phăng ....................................18
Bảng 2.4: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn xã Mường Phăng.........................20
Bảng 2.5: Hiện trạng đất lâm nghiệp phân theo 3 loại rừng .................................23
Bảng 2.6: Cơ cấu thu nhập bình quân năm 2010 trên địa bàn xã .........................25
Bảng 4.1: Phân bố số cây Bương lông tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên ..............................................................................................39
Bảng 4.2: Sinh trưởng cây Bương lông tại xã Mường Phăng, huyện Điện Biên,
tỉnh Điện Biên ..............................................................................................41
Bảng 4.3: Mô tả đặc điểm đất sinh trưởng của cây Bương lông tại xã Mường
Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. ....................................................43
Bảng 4.4: Giá trị sử dụng cây Bương lông ...........................................................45
Bảng 4.5: Kỹ thuật chọn tuổi gốc làm giống ........................................................45
Bảng 4.6: Kinh nghiệm của các hộ gia đình trong việc xác định thời vụ trồng
Bương lông ...................................................................................................46
Bảng 4.7: Kinh nghiệm của các hộ gia đình trong việc xác định mật độ trồng .48
Bảng 4.8: Kích thước hố trồng qua điều tra các hộ gia đình ................................49
Bảng 4.9: Tổng hợp kết quả điều tra số lần chăm sóc Bương lông ......................50
4
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ................................................4
2.1. Đặc điểm sinh vật học, đặc điểm sinh trưởng của tre trúc ...........................4
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước ..................................................5
2.2.1. Trên thế giới ..............................................................................................5
2.2.2. Ở Việt Nam ..............................................................................................6
2.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu ..................................................................11
2.3.1. Điều kiện tự nhiên ...................................................................................11
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội ..........................................................................16
2.3.3. Kết cấu hạ tầng xã hội .............................................................................26
2.3.4. Hiện trạng cơ sở hạ tầng kĩ thuật ............................................................29
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI , ĐIẠ ĐIỂM , NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................................31
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu..............................................................31
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................31
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................31
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành .................................................................31
3.3. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................31
3.3.1.Điều tra tình hình phân bố và đặc điểm hình thái cây Bương lông tại xã
Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên .............................................31
3.3.2. Nghiên cứu đặc sinh trưởng về chiều cao và đường kính của cây Bương
lông, số cây/khóm theo tuổi .............................................................................31
3.3.3. Nghiên cứu tổng kết kiến thức bản địa của người dân địa phương về kỹ
thuật trồng, giá trị sử dụng, thị trường ..............................................................31
6
3.4. Phương pháp nghiên cứu............................................................................32
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu ..................................................................32
3.4.2. Phương pháp điều tra phỏng vấn ..........................................................33
1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Tre - Trúc thuộc họ Hồ Thảo (Poacae Barnh), lớp cây một lá mầm. Trên
thế giới hiện nay có khoảng 1300 loài thuộc 70 chi, nước nhiều Tre nhất là
Trung Quốc với khoảng 50 chi với 500 loài, ở Việt nam có 29 chi 150 loài.
Tre - Trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, có thể nói từ
thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng
rãi đó là thân khí sinh. Do thân khí sinh của Tre - Trúc có nhiều đặc tính tốt
nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, đúng đồ gia dụng, làm bố mảng, cầu
phao. Hiện nay công nghiệp phát triển, Tre - Trúc là nguồn nguyên liệu quí
giá cho sản xuất giấy cao cấp, cho ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu
trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, có thể nói Tre - Trúc thay thế
được gỗ trong nhiều lĩnh vực. Với công nghệ chế biến cao, những sản
phẩm sản xuất từ Tre - Trúc không những đẹp mà còn có độ bền cao, khả
năng chịu nén, chịu lực tốt. Thân Tre - Trúc có tỷ trọng cao, nhiều lỗ hổng
và nhiều chất khoáng, thân Tre được Cacbon hoá có nhiều ứng dụng như
làm chất khử mùi, điều hồ độ ẩm, chặn súng hồng ngoại, ngăn cản điện từ,
than được sử dụng nhiều trong cuộc sống như nấu ăn. Nhiệt lượng 1 kg
than hoạt tính có thể đạt 7703 kcal/kg cao hơn so với than hoạt tính gỗ,
than có khả năng lọc nước tốt...v.v. Gốc, thân Tre - Trúc có thể tạc tượng,
thân ngầm và cành đều có thể sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ. Lá một số
loài có thể xuất khẩu, lá dựng chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh
như cảm, cúm…Việt Nam có 10 loài Tre - Trúc cho măng ăn ngon (Mai
ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…). Tuy nhiên, các
loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc
Xuất phát từ những lý do nêu trên, được sự cho phép của Ban Giám
Hiệu Trường Đại Hộc Nông Lâm Thái Nguyên và sự giao phó của ban chủ
nhiêm Khoa Lâm Nghiệp cùng với sự giúp đỡ của UBND xã Mường Phăng
tôi xin thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của
cây Bương lông (Dendrocalamus giganteus) tại xã Mường Phăng, huyện
Điện Biên, tỉnh Điện Biên”.
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.2.1. Về lý luận
- Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng của cây Bương lông.
- Điều tra tình hình phân bố của cây Bương lông tại xã Mường
Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
1.2.2. Về thực tiễn
- Tìm các biện pháp kĩ thuật thích hợp để nhân giống cây Bương
lông phục vụ nhu cầu của người dân và làm nguyên liệu chế biến tỉnh.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1. Về lý luận
- Xác định được đặc điểm phân bố và sinh trưởng cây Bương lông tại
xã Mường Phăng, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
- Tổng kết kiến thức bản địa của người dân địa phương về kỹ thuật
trồng, giá trị sử dụng, thị trường.
1.3.2. Về thực tiễn
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật chăm sóc và phát triển cây Bương
lông nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguyên liệu chế biến cho tỉnh Điện
Biên và các tỉnh lân cận.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa lý luận
trúc hàng năm đều sinh ra măng mọc thành tre, cho nên bụi tre, rừng tre
luôn là rừng khác tuổi.
Tre trúc sinh trưởng rất nhanh vì thân, cành, thân ngầm của tre trúc
đều sinh đốt, mỗi đốt đều có tổ chức phân sinh, đều sinh trưởng nên tre trúc
sinh trưởng rất nhanh. Hầu hết các loài tre trúc chỉ cần trên dưới 3 tháng
(khoảng 100 ngày) đã hoàn thành sinh trưởng chiều cao và đường kính.
Thời gian về sau chỉ là hoàn thiện, cây cứng ra, tích luỹ Cellulose v. v…
mà không tăng thêm về đường kính chiều cao nữa. Đường kính thân tre, số
đốt tre (lóng tre) được quyết định trong giai đoạn măng.
Mặc dù sinh trưởng mạnh mẽ, nhu cầu về các chất dinh dưỡng, nước,
muối khoáng cao song tre trúc vẫn là bạn của môi trường do có khả năng
bảo vệ đất, chống xói mòn nhờ bộ rễ và thân ngầm ăn rộng, chằng chịt, lá
rụng nhiều và không ảnh hưởng xấu đến môi trường.
5
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Trên thế giới
Các nghiêu cứu về tre trúc trên thế giới đã bắt đầu từ khá lâu và rất
đa dạng. Đầu tiên phải kể tới ấn phẩm Nghiên cứu về tre trúc của Munro
(1868). Sau đó có nghiên cứu về cácloài tre trúc Ấn Độ (Gamble 1896)
trong đó tác giả mô tả hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và
một số nước láng giềng như Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia
và Indonesia. Tác giả cũng cho rằng các loài tre trúc là loài chỉ thị rất tốt về
các đặc điểm và độ phì của đất. Haig và cộng sự (1959) cũng bình luận
rằng sự phân bố tự nhiên của tre trúc ở Myanma cũng chỉ thị rất tốt các
điều kiện đất đai ở đó. Ở Trung Quốc cũng có rất nhiều các nghiên cứu về
phân loại, các kỹ thuật tạo giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác,
chế biên và cả về thị trường tre trúc và các sản phẩm sản xuất từ tre trúc
nên tre, luồng đã được sử dụng làm vật liệu xây dựng nhà cửa của người
dân. Thân các cây lớn dùng làm cột nhà, xà nhà, đòn tay, rui mè. Các loài
có thân to hay vừa có thân mỏng hơn được dùng làm sàn nhà như trong nhà
sàn của đồng bào dân tộc, đôi khi làm vách và làm mái nhà. Hiện nay,
tre luồng chủ yếu được dùng nhiều ở nông thôn và miền núi, song nhiều
nơi ở thành phố vẫn sử dụng tre để gia cố móng nhà thay cho cọc bê tông,
vừa rẻ lại bền. Một số công trình xây dựng nhỏ còn dùng tre luồng làm cột
chống côppha, có nới các phên nứa và cót ép được dùng để lót đổ bê tông
trần nhà. Tre trúc cũng là nguồn nguyên liệu lý tưởng để sản xuất giấy.
Thân tre trúc có chứa lượng sợi cao (40-60%) và chiều dài sợi khoảng 1,52,5 mm (tối đa là 5mm), là nguyên liệu tốt cho sản xuất giấy (Nguyễn
Hoàng Nghĩa 2005)[8], [15].
Tre trúc đã được sử dụng rất nhiều vào mục tiêu văn hoá. Từ hàng
nghìn năm trước, người Trung Hoa cổ đại đã biết dụng thân một số loài tre
trúc để làm giấy viết. Ngày nay, rất nhiều các loại tre trúc vẫn được sử
dụng làm giấy viết. Ngoài ra, nhiều loài tre trúc được sử dụng làm cây
cảnh, cây trang trí cho các công viên, công sở, gia đình như Tre bụng phật,
Tre vàng sọc, Tre đùi gà, Trúc hoá long, Trúc đen và Trúc quân tử. Một số
7
nhạc cụ nổi tiếng của đồng bào các dân tộc thiểu số như đàn Tơ rưng, khèn,
và các nhạc cụ đơn giản khác như sáo đều được làm bằng một số loài nứa
và trúc. Cần dùng để uống rượu cần cũng được làm bằng thân cây trúc.
Làm cơm lam nổi tiếng của ngưới Thái vùng Tây Bắc cũng được nấu bằng
thân cây cơm lam, một loài tre độc đáo chỉ được dành cho mục tiêu này mà
thôi (Nguyễn Hoàng Nghĩa 2005)[8].
Tre trúc còn có rất nhiều công dụng khác. Tre trúc dùng để đóng
thuyền thúng, thuyền nan, bè mảng tre luồng, sào chống thuyền trên sông suối,
ống dẫn nước từ suối về nhà, cột điện, dụng cụ bắt cá. Với công nghệ mới hiện
Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam (chuyên gia chi Dendrocalamus)
và GS. Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục cộng tác nghiên cứu
với các nhà nghiên cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên cứu định danh các
loài tre nứa hiện có của Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh sách gồm 194
loài của 26 chi tre trúc Việt Nam. Phần lớn trong số đó là chưa có tên. Một
số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới 31 loài
chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa định
tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu đắng
(Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum)
có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên[7], [8], [12].
Bên cạnh đó, các nhà khoa học Việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài
mới cho nước nhà. Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã công bố 7
loài nứa mới thuộc chi Nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná (Cà Ná, Ninh
Thuận), Nứa Núi Dinh (Bà Rịa - Vũng Tàu), Nứa đèo Lò Xo (Đắc Glei, Kon
Tum), Nứa lá to Saloong (Ngọc Hồi, Kon Tum), Nứa không tai Côn Sơn (Chí
Linh, Hải Dương), Nứa có tai Côn Sơn (Chí Linh, Hải Dương), Nứa Bảo Lộc
(Bảo Lộc, Lâm Đồng – mô tả để so sánh). Các tác giả đã mô tả chi tiết về đặc
điểm hình thái, sinh thái của từng loài cụ thể[8].
9
Đồng thời nhóm nghiên cứu phát hiện ra 6 loài tre quả thịt dựa trên
cơ sở cấu tạo hình thái và giải phẫu hoa quả, sáu loài tre quả thịt đã được
mô tả và định danh để tạo nên một chi tre mới cho Việt Nam, đó là chi Tre
quả thịt (Melocalamus). Các loài đã được nhận biết là Dẹ Yên Bái
(Melocalamus yenbaiensis), Tre quả thịt Cúc Phương (M. cucphuongensis),
Tre quả thịt Kon Hà Nừng (M. kbangensis), Tre quả thịt Lộc Bắc (M.
blaoensis), Tre quả thịt Pà Cò (M. pacoensis) và Tre quả thịt Trường Sơn
(M. truongsonensis). Cũng trong đợt khảo sát này, Nguyễn Hoàng Nghĩa
(Melocalamus) với 10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có 1 loài. Một
số loài mới được phát hiện là Tre lông Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc
điểm ngoại hình giống loài cùng chi ở Malaixia (Wong, 1995) trúc dây
Bidoup (Ampelocalamus) có ngoại hình giống như trúc dây Ba Bể nhiều
loài nứa (Schizostachyum), le (Gigantochloa) và lồ ô (Bambusa). Một số
chi có nhiều loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng
(Dendrocalamus) có 21 loài, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa
(Schizostachyum) có 14 loài và chi Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài.
Qua một số năm điều tra khảo sát (2001 – 2005), Nguyễn Hoàng Nghĩa
đã xác định được phân tông tre (Bambussinae) ở Việt Nam hiện nay có 8 chi; chi
Tre (Bambusa), chi Le Bắc Bộ (Bonia), chi Luồng (Dendrocalamus), chi Le
(Gigantochloa), chi Tre lông (Kinabaluchloa), chi Giang (Maclurochloa), chi
Tre quả thịt (Melocalamus), chi Tầm vông (Thyrsostachys) mà các chi này có
các loài mới hoặc mới ghi nhận ở Việt Nam. Dựa trên một số đặc điểm hình thái
hoa của 37 loài thuộc 5 chi cũng như các cơ quan dinh dưỡng nhằm giới thiệu
một số đặc điểm dễ nhận biết và xây dựng khoá phân loại các chi thuộc phân
tông tre (Bambusinae) ở Việt Nam [7], [8].
Nhu cầu về tre ở nước ta ngày càng tăng, trong khi đó diện tích tre nứa
tự nhiên đang suy giảm nhanh chóng, do vậy trong Chương trình trồng mới 5
triệu ha rừng tre nứa cũng được chọn để trồng rừng để tạo vùng nguyên liệu
11
cho chế biến phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Đỗ Văn Bản (2006) đã giới thiệu
một số loài Tre thông dụng cho trồng rừng như: Dendrocalamus aff
giganteurs Munro (Mạy púa mơi), Dendrocalamus aff latifflorus Munro (Mai
xanh), Dendrocalamus aff pachuystachys Hsueh et D. Z. Li, Dendrocalamus
(Bương hoa lớn), Dendrocalamus longivaginus sp.nov, Bambusa sinospinosa
McClure (Tre là Ngà), Dendrocalamus minor (McClure) chia et Fung ( Tre
hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng dần từ Tây sang Đông
(Mường Phăng kéo xuống Tuần Giáo). Địa hình rừng và đất lâm nghiệp
chia cắt mạnh bởi núi cao, sườn dốc, khe sâu. Độ dốc thấp nhất 150, độ
dốc cao nhất 600 ảnh hưởng lớn đến công tác trồng rừng, chăm sóc và
bảo vệ rừng trên địa bàn xã. Xen lẫn núi cao là các thung lũng, sông suối
nhỏ hẹp và dốc phân bố khắp nơi trên địa bàn xã. Có những cánh đồng,
bãi bồi nhỏ hẹp phục vụ mục đích canh tác lúa nước.
Nhìn chung địa hình xã Mường Phăng hiểm trở, ngoài khu vực
trung tâm xã có địa hình tương đối bằng phẳng, còn lại hầu hết là địa
hình đồi núi dốc hiểm trở chia cắt nên gặp rất nhiều khó khăn trong việc
phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là giao thông và tổ chức
dân cư xã hội.
Có 2 kiểu địa hình chính sau:
+ Kiểu địa hình núi trung bình: Đây là kiểu địa hình đặc trưng của xã
gồm toàn bộ hệ thống núi đất có độ cao từ 880m đến 1.635m.
+ Kiểu địa hình thung lũng: Nằm xen với các dãy núi thuộc khu
vực hồ Pá Khoang, tuy nhiên kiểu địa hình này diện tích không lớn.
Địa thế: Gồm những dãy núi cao tiếp giáp với huyện Điện Biên
Đông, huyện Mường Ẳng và thành phố Điện Biên Phủ có độ dốc từ 300 350. Những dãy núi này đã làm cho Mường Phăng thành thung lũng hẹp,
thấp dần về phía Đông Bắc.
13
2.3.1.3. Khí hậu
Xã Mường Phăng là khu vực nhỏ thuộc Tây Bắc, nên về khí tượng thuỷ
văn đều mang nét chung của khu vực miền núi Tây Bắc, có 4 mùa rõ rệt. Khí
hậu thuộc loại nhiệt đới gió mùa núi cao, mùa Đông lạnh và ít mưa, mùa Hạ
nóng và mưa nhiều với đặc tính diễn biến thẩt thường, phân hóa đa dạng, ít chịu
ảnh hưởng của bão mà chịu ảnh hưởng của gió Tây khô và nóng.
những hiện tượng thời tiết đặc biệt có tần suất tương đối lớn, gây ảnh
hưởng đáng kể đến sản xuất, đời sống và sức khoẻ của con người.
Với đặc điểm khí hậu như vậy cần bố trí tập đoàn cây trồng, cơ cấu
thời vụ thích hợp, tránh các yếu tố bất lợi, tăng cường bảo vệ đất kết hợp sử
dụng nhiều biện pháp tổng hợp để nâng cao độ phì cho đất, cũng như lựa
chọn vật nuôi phù hợp với đặc tính khí hậu.
2.3.1.4. Thuỷ văn.
Toàn xã bị chia cắt bởi 2 con suối chảy qua địa bàn xã gồm Nậm
Liếng và Nậm Phăng là 2 con suối chính chảy qua địa bàn xã. Ngoài ra
trên địa bàn xã còn có nhiều khe suối khác như: Khe Tạc Điêng, khe Lọng
Nghịu, khe Phiêng Ma Lông... cung cấp nguồn nước cho hồ Pá Khoang để
điều tiết nguồn nước phục vụ sản xuất trên cánh đồng Mường Thanh và sinh
hoạt sản xuất người dân trong xã đồng thời còn là nguồn cung cấp nước cho
các công trình thủy điện, tạo cảnh quan để phát triển du lịch sinh thái. Tuy
nhiên lượng nước phân bố không đồng đều giữa các bản, vào mùa mưa thì
thường xảy ra ngập lụt còn vào mùa khô lại có tình trạng thiếu nước.
2.3.1.5. Đặc điểm đất đai
Đất đai khu vực xã Mường Phăng được hình thành và phát triển trên
2 nhóm đá mẹ chính:
15
+ Nhóm đá mẹ macma axit
+ Nhóm đá mẹ biến chất
Theo số liệu thống kê của UBND xã Mường Phăng tính đến tháng 12
năm 2013 thì tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 9.158,56 ha bao gồm các
nhóm đất chính đó là:
- Nhóm đất Feralit mùn vàng đỏ trên núi trung bình: Phân bố ở độ cao
từ 950m đến 1.600m so với mặt nước biển, độ dốc bình quân > 250. Đá mẹ
sét Feralit vàng đỏ trên đá macma axit
Đất
Ha
Fs
Hq
Hs
7.114
36,6
13,1
262,9
77,7
0,4
0,1
2,9
Fa
D
893,5
238,4
600
9,8
2,6
6,5
9.158,5
phù hợp cho sản xuất nông nghiệp.
- Ngoài ra còn một số loại đất như: Đất đỏ vàng phát triển trên đá
phiến sét (Fs), đất mùn vàng nhạt phát triển trên đá cát (Hq), đất mùn đỏ
vàng trên đá sét. Tuy nhiên những loại đất này chiếm tỷ lệ không lớn và
phân bố chủ yếu ở những đỉnh núi cao thuộc khu vực giáp ranh với huyện
Điện Biên Đông và thành phố Điện Biên Phủ.
2.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội
2.3.2.1.Hiện trạng dân số, dân tộc, lao động và phân bố dân cư
a) Dân số
Mường Phăng là xã có tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên cao hơn các xã
khác trong huyện, nhưng nhờ làm tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình
trong những năm qua nên tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên đã giảm nhanh.
Từ 4,48% năm 2004 giảm xuống còn 2,33% năm 2005 với tổng dân
số là: 1.461 hộ, 7.940 nhân khẩu, trung bình 5,43 người/hộ. Đến tháng 11
năm 2010 dân số xã là: 1.803 hộ với 8.852 nhân khẩu, trung bình 4,9
người/hộ đã giảm được bình quân 0,53 người/hộ so với năm 2005.
- Phân theo giới tính:
+ Nữ giới là 4.575 người
17
+ Nam giới 4.277 người
- Một số chỉ tiêu dân số:
+ Mật độ dân số trung bình 96,7 người/km2
+ Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên trung bình 1,8%
b) Dân tộc
Xã Mường Phăng có 4 dân tộc anh em đang cùng nhau sinh sống:
+ Dân tộc Thái: 1.296 hộ với 6.137 nhân khẩu chiếm 69,3% dân số.
+ Dân tộc Mông: 154 hộ 1.016 khẩu, chiếm 11,5% dân số.
1.803
8.852
100
777
100
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên)
c) Lao động
Tổng số lao động trong độ tuổi là: 5.236 người chiếm 59,2% tổng dân số.
+ Lao động nữ 2.758 người
+ Lao động nam 2.478 người
Lực lượng lao động phần lớn làm trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm
nghiệp và thủy sản. Chất lượng lao động thấp chủ yếu lao động phổ thông,
có trình độ văn hóa tốt nghiệp tiểu học và không qua đào tạo.
Tổng số lao động không có việc làm, việc làm không ổn định là: 583
lao động.
STT
1
2
3
4
18
Bảng 2.3: Tổng hợp dân số, lao động xã Mường Phăng
TT
Hạng mục
Người
4.277
-
Tỷ lệ tăng tự nhiên
%
1,8
-
Mật độ phân bố dân cư
Người/km2
96,7
2.
Lao động
-
Tổng số lao động trong độ tuổi
Lao động
Lao động
31
-
Lao động có việc làm không ổn định
Lao động
169
-
Tỷ lệ lao động nông nghiệp
%
95
(Nguồn: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Điện Biên)
d) Phân bố dân cư
Dân cư xã phân bố rải rác trên địa bàn 47 bản, hình thành 7 cụm dân
cư tập trung; cụm dân lớn nhất 359 hộ với 1.664 khẩu, cụm dân cư nhỏ
nhất 148 hộ với 994 khẩu. Đặc điểm chung của các cụm dân cư thường là
nơi chung sống tập trung với số lượng đông của một cộng đồng dân tộc, có
chung phong tục, tập quán tạo nên những nét đặc trưng trong đời sống văn
hóa và sản xuất.
+ Dân tộc Thái tập trung nhiều ở cụm dân cư số 4, thường cư trú nơi