ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN VIỆT PHƢƠNG
THỰC TRẠNG ĐẢNG VIÊN VI PHẠM KỶ LUẬT ĐẢNG
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: xã hội học
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
====================
NGUYỄN VIỆT PHƢƠNG
THỰC TRẠNG ĐẢNG VIÊN VI PHẠM KỶ LUẬT
ĐẢNG TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Hoàng Bá Thịnh
Hà Nội - 2014
2.3. Nội dung vi phạm của đảng viên ....................................................... 42
2.4. Chức vụ và lĩnh vực làm việc ............................................................. 46
2.5. Địa bàn công tác .................................................................................. 50
2.6. Hình thức kỷ luật đảng viên vi phạm ............................................... 53
CHƢƠNG 3: NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐẢNG VIÊN VI PHẠM
KỶ LUẬT ....................................................................................................... 61
4.1. Nguyên nhân khách quan .................................................................. 62
4.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội ............................................................... 62
4.1.2. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ............................................ 65
4.1.3. Sự quản lý của Đảng và Nhà nước ................................................ 70
4.2. Nguyên nhân chủ quan....................................................................... 72
4.2.1. Đảng viên suy thoái đạo đức, lối sống ........................................... 72
4.2.2. Đảng viên tham ô, tham nhũng, lãng phí ....................................... 79
4.2.3. Đảng viên lợi dụng chức vụ, quyền hạn ......................................... 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ............................................................... 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 89
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 90
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu tổng số đảng viên vi phạm kỷ luật của 4 năm: ................... 38
Bảng 2.2: So sánh giữa lĩnh vực nghề nghiệp và nội dung vi phạm của đảng
viên năm 2013 (Đv: số người) ........................................................................ 48
Bảng 2.3: Địa bàn công tác của các đảng viên vi phạm kỷ luật đảng theo các
tháng 3, 6, 9 năm 2014 (Đv: số người) ........................................................... 51
Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ làm công tác kiểm tra về địa bàn công tác của
các đảng viên có vi phạm năm 2014 ............................................................... 52
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đến nay luôn khẳng định được
vị trí, vai trò là lực lượng lãnh đạo đất nước và nhân dân ta, khẳng định được
tính chất của một Đảng cầm quyền. Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng
lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng tháng Tám thành
công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam), đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự
nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới,
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc.
Điều này đã luôn luôn được khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng và
các bản Hiến pháp qua các thời kỳ. Mới đây nhất, ngày 28 tháng 11, Quốc hội
đã thông qua Hiến pháp mới (có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2014), trong đó
tại Điều 4 đã nhấn mạnh vai trò của Đảng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội
tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân
lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp
công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin
và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà
nước và xã hội; Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân
,
phục vụ Nhân dân , chịu sự giám sát của Nhân dân , chịu trách nhiệm trước
Nhân dân về những quyết đinh
̣ của mình ; Các tổ chức của Đảng và đảng viên
Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, theo Nghị quyết số 12-NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI): Một số vấn đề cấp bách về
xây dựng Đảng hiện nay là: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong
đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao
hình vi phạm của đảng viên và vấn đề thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm, tác
6
giả chọn đề tài“Thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng trên địa bàn
thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn tốt nghiệp chương trình Cao học.
2. Ý nghĩa nghiên cứu
2.1. Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu đề tài là quá trình vận dụng những tri thức, những phương
pháp nghiên cứu, hệ thống lý thuyết và một số khái niệm xã hội học nhằm tìm
hiểu thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, lấy đó là cơ sở thực nghiệm
và kiểm chứng lý thuyết. Từ đó, tác giả kiến giải những nguyên nhân đảng
viên vi phạm kỷ luật đảng giúp đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế những tiêu
cực trên để xây dựng Đảng bộ Thành phố Hà Nội ngày càng trong sạch, vững
mạnh hơn.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Việc nghiên cứu thực trạng đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng phục vụ
trực tiếp công việc chuyên môn hàng ngày của tôi tại cơ quan, giúp tôi có thể
tổng hợp được các số liệu liên quan, tạo thành một tài liệu tham khảo về
nghiệp vụ kiểm tra.
- Nghiên cứu đề tài này cũng góp phần làm mọi người hiểu hơn về
ngành nghề và công việc kiểm tra Đảng, từ đó nâng cao nhận thức của mọi
người về vấn đề xây dựng Đảng ta hiện nay.
- Qua việc chỉ ra những dấu hiệu vi phạm của một bộ phận đảng viên
hiện nay, góp phần giúp các đảng viên có ý thức phấn đấu, giữ gìn phẩm chất,
tư tưởng lập trường kiên định, không mắc phải các điều đảng viên không
được làm.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
cấu mẫu như sau:
8
Khách thể
Cấp huyện
Cấp xã
Cán bộ UBKT
80
80
Đảng viên và quần chúng
80
80
- Mẫu định tính: 22 mẫu
+ Đối với Uỷ ban Kiểm tra quận uỷ/huyện uỷ: 05 mẫu
+ Đối với Uỷ ban Kiểm tra đảng uỷ phường/xã: 05 mẫu
+ Đối với đảng viên: 05 mẫu;
+ Đối với người dân: 07 mẫu
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
thức bị kỷ luật khi vi phạm và những nguyên nhân dẫn đến thực trạng này.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu cá nhân
Tiến hành phỏng vấn sâu một số cán bộ làm công tác kiểm tra tại nhiều
cấp và địa bàn khác nhau để lắng nghe ý kiến đánh giá của họ về thực trạng
đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng hiện nay, qua đó hiểu và phân tích chính xác
hơn về các kết quả định lượng thu được.
Đồng thời phỏng vấn sâu một số đảng viên và người dân trên địa bàn
Hà Nội để có cách đánh giá khách quan về thực trạng đảng viên vi phạm kỷ
luật Đảng.
6. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
6.1. Câu hỏi nghiên cứu
- Những đảng viên nào thường vi phạm kỷ luật Đảng? Họ hay vi phạm
ở những nội dung, lĩnh vực nào?
- Những nguyên nhân nào khiến đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng?
6.2. Giả thuyết nghiên cứu
- Đảng viên vi phạm kỷ luật đa số là nam giới, giữ các chức vụ lãnh
đạo, quản lý trong cơ quan. Họ thường vi phạm nhiều trong lĩnh vực quản lý
đất đai, nhà ở, tài nguyên môi trường, đầu tư xây dựng.
10
- Hành vi vi phạm kỷ luật Đảng của đảng viên chủ yếu là do nhiều đảng
viên suy thoái về đạo đức, lối sống, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện
hành vi sai trái.
7. Khung lý thuyết
Đảng viên vi
phạm kỷ luật
Quy mô đảng viên vi phạm
Khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm đảng viên
Theo Điều lệ Đảng của Đảng cộng sản Việt Nam (được Đại hội đại
biểu toàn quốc khóa XI thông qua ngày 19 tháng 1 năm 2011), có định nghĩa
đảng viên như sau:
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội
tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam,
suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc,
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp
hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của
Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục
tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện :
thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên,
hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú,
được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng (Điều 1).
Đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng là việc đảng viên không tuân theo
hoặc Iàm trái Cương lĩnh Chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quyết
định, quy định, quy chế, kết luận của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước, điều lệ, quy định của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã
hội mà đảng viên là thành viên.
1.1.2. Khái niệm kỷ luật Đảng
Kỷ luật là hình thức phạt đối với người hoặc tổ chức vi phạm kỷ luật.
Trong một tổ chức, khi có đối tượng vi phạm những điều đã quy định thì tổ
chức có thẩm quyền áp dụng hình thức kỷ luật đối với đối tượng đó.
12
- Ủy ban kiểm tra của cấp ủy trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy: Số lượng từ
7 đến 9 ủy viên (do cấp ủy quyết định): trong đó đồng chí Chủ nhiệm là ủy
viên Ban Thường vụ cấp ủy, từ 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm (Phó Chủ nhiệm
Thường trực là cấp ủy viên) và một số ủy viên chuyên trách; 2 ủy viên kiêm
chức gồm Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban Tổ chức là cấp ủy viên và Chánh
Thanh tra cùng cấp (nơi không có Chánh Thanh tra cùng cấp là đồng chí Phó
Bí thư của cấp ủy trực thuộc).
- Ủy ban Kiểm tra đảng cấp ủy cấp trên cơ sở: Số lượng từ 5 đến 7 ủy
viên (do cấp ủy cấp trên cơ sở quyết định), trong đó, đồng chí Chủ nhiệm là
ủy viên Ban Thường vụ cấp ủy, có từ 1 đến 2 Phó Chủ nhiệm (Phó Chủ nhiệm
Thường trực là chuyên trách) và một số ủy viên chuyên trách. Ủy viên kiêm
chức gồm đồng chí Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban Tổ chức là cấp ủy viên
và Phó Chánh Thanh tra cùng cấp (nơi không có Chánh Thanh tra cùng cấp là
đồng chí Phó Bí thư hoặc Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra đảng ủy trực thuộc).
- Ủy ban Kiểm tra đảng ủy cơ sở: Số lượng từ 3 đến 5 ủy viên (do đảng
ủy cơ sở quyết định), trong đó đồng chí Phó Bí thư hoặc ủy viên Ban Thường
vụ, Thường trực cấp ủy làm Chủ nhiệm. Trường hợp không có Ban Thường
vụ cấp ủy thì đồng chí Phó Bí thư làm Chủ nhiệm; Phó Chủ nhiệm là cấp ủy
viên hoặc đảng viên. Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên
phụ trách công tác đoàn thể, Bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân. Ủy ban Kiểm
tra của đảng ủy cơ sở xã, phường, thị trấn; những tổ chức cơ sở đảng trong cơ
quan và doanh nghiệp có từ 300 đảng viên trở lên thì bố trí 1 ủy viên chuyên
trách làm Phó Chủ nhiệm.
1.2.
Lý thuyết áp dụng
1.2.1. Lý thuyết Hành động xã hội
sẵn sàng chết với con tàu của mình khi nó bị đắm. Người thuyền trưởng này
tự nguyện chết chung với con tàu của mình không phải vì tiếc con tàu đó mà
15
là giữ gìn danh dự của mình. Như vậy hành động của người thuyền trưởng
này nằm ở bản thân hoạt động đó chứ không phải vì thứ khác.
- Hành động duy cảm: là hành động do các trạng thái cảm xúc hoặc tình
cảm bột phát gây ra mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ
giữa công cụ phương tiện và mục đích hành động.
Ví dụ: hành động của đám đông quá khích hay hành động do tức giận
gây ra. Khi bị kích động bị người khác làm cho tức giận chúng ta thậm chí có
đánh nhau, thậm chí còn giết người.
- Hành động duy lý truyền thống là hành động tuân thủ những thói
quen, nghi lễ, phong tục, tập quán, đã được truyền lại từ đời này qua đời khác.
Ví dụ: Các lễ hội, lễ tục trong cưới xin, ăn hỏi…tất cả những cái đó đều
là những thói quen quan niệm của người xưa cố nhân, và chúng ta phải tuân
theo từ đời này qua đời khác.
Xã hội học nghiên cứu hành động xã hội thực chất là tập trung vào
nghiên cứu hành động duy lý công cụ.
M. Weber phân tích sự thay đổi về vai trò và xu hướng của hành động xã
hội để chỉ ra điều kiện tiến trình phát triển lịch sử xã hội hiện đại phương Tây.
Thành tố đầu tiên là động cơ và mục đích của hành động. Nhu cầu của
chủ thể tạo ra động cơ thúc đẩy để thỏa mãn nó. Động cơ này sẽ tạo ra tích
cực của chủ thể tham gia định hướng hành động, và quy định mục đích của
hành động. Các động cơ này cũng hướng các hành động xã hội đến việc đạt
được những mục đích nhất định hay đến điều kiện sống và làm việc, điều kiện
hoạt động nói chung.
Yếu tố thứ hai là chủ thể hành động. Chủ thể có thể là cá nhân, nhóm
hội vẫn diễn ra trên phạm vi rộng hơn và ngày càng tinh vi hơn.
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội đựơc nhiều ngành khoa học quan
tâm nghiên cứu như xã hội học, tội phạm học, tâm lí học, giáo dục học, đạo
đức học và có sự thống nhất tương đối khi đưa ra định nghĩa về hành vi sai
17
lệch chuẩn mực xã hội. Theo họ, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội chính là
những hành vi lệch chuẩn, hành vi không đựơc xã hội chấp nhận. Như vậy, có
thể hiểu hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là bất kỳ hành vi nào không phù
hợp với sự mong đợi của nmột nhóm hoặc của xã hội. Nói cách khác, hành vi
sai lệch chuẩn mực xã hội hay còn gọi là hành vi lệch chuẩn là hành vi chệch
khỏi các quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội.
Để xác định một hành vi có phải là lệch chuẩn hay không, trước hết
phải xác định đựơc các quy tắc văn hoá của xã hội (nhóm) mà chủ thể hành vi
đang sống. Trên cơ sở đó xác định mức độ phù hợp giữa hành vi của cá nhân
(nhóm) với quy tắc đó. Một hành vi cá nhân (nhóm) bao giờ cũng là một hành
vi xã hội. Nó có thể là bình thường hay lệch chuẩn tuỳ thuộc vào giá trị của
nó đối với xã hội.
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có tính tương đối về văn hoá và lịch
sử. Có những hành vi có thể được thừa nhận là đúng đắn trong nền văn hoá
của xã hội này, nhưng lại bị coi là lệch chuẩn nếu so với nền văn hoá khác.
Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội không thể quy vào một hành động mà là
“một hệ thống những hành động: hoạt động, cách ứng xử của con người, lối
sống”. Khái niệm chuẩn mực xã hội bao trùm lên mọi hoạt động của con
người trong đời sống xã hội nên khái niệm hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội
cũng rất rộng. Nó lớn hơn khái niệm vi phạm pháp vì pháp luật chỉ là một loại
chuẩn mực xã hội phù hợp mà thôi.
Có nhiều cách phân chia các loại hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội dựa
cá nhân và hành vi xã hội của trẻ em, một số nhà nghiên cứu (Võ Quang
Phúc, Lê Như Hoa, Nguyễn Đức Mạnh…) đã đưa ra những khái niệm: trẻ
chưa ngoan, trẻ hư và trẻ phạm pháp ( trẻ làm trái pháp luật). Dựa vào phạm
vi ảnh hưởng đến xã hội, một số nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực tâm lí
học, xã hội học, xã hội học truyền thống đã chỉ ra một số dạng tiêu biểu của
hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội. Đó là những sai lệch trong việc dùng ma
19
tuý, dùng rượu, sai lệch trong hành vi tình dục, hành vi phạm pháp, tự tử. Với
phạm vi ảnh hưởng sâu rộng hơn, một số dạng hành vi sai lệch chuẩn mực xã
hội được xác định là tệ nạn xã hội,cần có phương hướng ngăn ngừa và khắc
phục. Trong Sổ tay công tác phòng ngừa tệ nạn xã hội thì tệ nạn xã hội được
coi là “những hiện tượng xã hội bao gồm những hành vi sai lệch chuẩn mực
xã hội (chuẩn mực về truyền thống văn hoá, lối sống đạo đức của dân tộc…và
những chuẩn mực đã trở thành qui định của pháp luật) mang tính phổ biến, có
xu hướng phát triển trong xã hội, gây ảnh hưởng xấu về đạo đức và những
hậu quả nghiêm trọng trong đời sống kinh tế - văn hoá xã hội của nhân dân”.
Có thể kể ở đây một số hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội như mại dâm, ma
tuý, cờ bạc, buôn lậu, tham nhũng, hối lộ…
Tóm lại, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là hành vi chệch khỏi các
quy tắc, chuẩn mực của nhóm hay của xã hội.
Áp dụng vào đề tài này, có thể nhận thấy các hành vi vi phạm kỷ luật
Đảng của một bộ phận đảng viên là hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, mà cụ
thể là vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, vi phạm nhiệm vụ
đảng viên, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Từ hành vi đó, đã
gây ra những hệ lụy nghiêm trọng cho xã hội: làm giảm lòng tin của nhân dân
đối với Đảng, làm phức tạp môi trường sinh sống của dân cư, gây mất đoàn
kết trong Đảng và trong quần chúng.
Việc kiểm tra các vấn đề chung về chấp hành đường lối, chính sách và
các nghị quyết của Đảng để đôn đốc, uốn nắn việc chấp hành phải do cấp uỷ
và các ban theo chức năng và phạm vi công tác của mình bảo đảm.
Công tác kiểm tra các vụ đảng viên vi phạm Điều lệ Đảng nhằm vào các
vụ vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, vi phạm kỷ luật đảng, kiểm
tra tài chính của Đảng … theo quy định của Điều lệ Đảng, phải do Uỷ ban
Kiểm tra Trung ương và các cấp thực hiện.
Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo".
Bước vào thực hiện đường lối đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo,
một số đảng viên vẫn còn dao động, thiếu tin tưởng, nhất là đã xuất hiện
21
nhiều tiêu cực trên mọi lĩnh vực. Trong bối cảnh đó, Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) tiếp tục khẳng định các quan điểm về
kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng mà Đại hội V đã chỉ ra, đồng thời nhấn
mạnh :"Kiểm tra là một chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu
quan trọng của tổ chức thực hiện. Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc
phục bệnh quan liêu. Mọi tổ chức, từ cơ quan đảng, nhà nước đến đoàn thể
quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an
ninh, đối ngoại, không có ngoại lệ, đều phải đặt dưới sự kiểm tra của tổ chức
đảng có thẩm quyền. Trung ương Đảng và các cấp uỷ đảng phải nắm chắc
công tác kiểm tra, sử dụng kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các
nghị quyết. Mỗi cấp uỷ, trong từng thời gian, đều phải có chương trình kiểm
tra, tập trung vào những công tác chủ yếu, những đơn vị trọng điểm, sử dụng
và phát huy vai trò của uỷ ban kiểm tra và các ban của Đảng, kết hợp chặt chẽ
kiểm tra của Đảng với thanh tra của Nhà nước và kiểm tra của quần chúng;
kiểm tra phải đi tới kết luận rõ ràng và xử lý đúng đắn"; về việc thành lập uỷ
ban kiểm tra: Điều lệ Đảng Đại hội VI quy định :"Hội nghị toàn thể Ban