Nghiên cứu chiết tách tanin của vỏ cây đước và ứng dụng làm chất ức chế ăn mòn kim loại - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ở nước ta, cây Đước phân bố từ Nam ra Bắc trên đất ngập mặn ven biển chịu

ảnh hưởng của thủy triều. Cây Đước vừa có tác dụng như một “ vệ sĩ bờ biển”, vừa
có giá trị kinh tế rất cao. Tuy nhiên, sau khi khai thác các bộ phận hữu dụng, còn lại
lượng rất lớn vỏ Đước bị bỏ phí, làm cho hiệu quả canh tác cây Đước vẫn còn thấp.
Vỏ Đước chứa nhiều tanin, có tới 24% dùng trong công nghệ thuộc da, công
nghiệp chế tạo thuốc nhuộm, công nghiệp làm giấy cao cấp, làm chất ức chế ăn mòn
kim loại, làm lớp lót cho màng sơn…
Ăn mòn kim loại là một lĩnh vực mà không một nước nào trên thế giới không
quan tâm, nhất là các quốc gia có nền kinh tế phát triển bởi vì theo đánh giá hàng
năm của cơ quan phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), ăn mòn kim loại làm tổn thất
khá lớn nền kinh tế quốc dân và chiếm tới 3% tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Có
nhiều phương pháp để chống ăn mòn kim loại, trong đó có phương pháp sử dụng
các chất ức chế như cromat, photphat, nitrit, …Tuy nhiên, các chất ức chế này
thường gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, hướng sử dụng các chất ức chế sạch, thân
thiện với môi trường đang được các nhà khoa học quan tâm.
Nếu khai thác được nguồn tanin từ lượng lớn vỏ Đước không sử dụng để làm
chất ức chế quá trình ăn mòn kim loại sẽ nâng cao đáng kể hiệu quả của các vùng
trồng Đước. Vì thế, chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu chiết tách tanin của vỏ cây
Đước và ứng dụng làm chất ức chế ăn mòn kim loại ".
2.

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

-

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

-

phương pháp chiết

-

phương pháp phổ hồng ngoại

-

phương pháp xác định dòng ăn mòn

-

phương pháp xử lí số liệu

5.

Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

5.1.

Ý nghĩa khoa học

-

Xác định các điều kiện tối ưu của quá trình tách chiết tanin từ vỏ cây đước


TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1.

ĐẠI CƯƠNG VỀ ĂN MÒN VÀ BẢO VỆ KIM LOẠI [4], [7], [11]

1.1.1. Định nghĩa
Ăn mòn kim loại là sự phá hủy kim loại hoặc hợp kim dưới tác dụng của môi
trường xung quanh, trong đó kim loại bị oxi hóa thành ion của nó.
1.1.2. Phân loại ăn mòn kim loại
1.1.2.1. Dựa vào cơ chế của quá trình ăn mòn kim loại, người ta chia ăn mòn
kim loại thành 3 loại như sau:
* Ăn mòn sinh học: Là sự ăn mòn kim loại gây ra do tác động một số vi sinh
vật có trong môi trường đất, nước...
* Ăn mòn hóa học: Là sự ăn mòn kim loại do quá trình tương tác của bề mặt
kim loại với môi trường xung quanh, xảy ra theo cơ chế của các phản ứng hóa học
dị thể nghĩa là phản ứng chuyển kim loại thành ion chỉ xảy ra ở cùng một giai đoạn.
Quá trình ăn mòn hóa học chỉ xảy ra trong môi trường không khí khô (SO 2, CO2,
H2S, O2…) ở nhiệt độ cao hoặc trong môi trường các chất không điện li dạng lỏng
(như sự ăn mòn thiết bị, nhiên liệu lỏng có lẫn các hợp chất lưu huỳnh).
* Ăn mòn điện hóa: Là sự ăn mòn kim loại do tương tác của bề mặt với môi
trường xung quanh, xảy ra theo cơ chế điện hóa, tuân theo các qui luật của động học
điện hóa, xảy ra theo 2 quá trình kèm theo sau đây:
- Quá trình anôt là quá trình chuyển kim loại vào dung dịch ở dạng các ion
hidrat hóa.
- Quá trình catôt là quá trình nhận electron từ kim loại của các chất khử cực.
Vùng anot
(-)
ne
Me
ne

bị phân cực thành anôt và catôt.
1.1.2.3. Dựa vào đặc trưng phá hủy kim loại, người ta chia kim loại thành 4 loại
như sau:
* Ăn mòn đều: xảy ra đồng đều trên toàn bộ bề mặt.
* Ăn mòn khu trú: Dạng ăn mòn này gắn liền với hình học của ranh giới kim
loại / dung dịch, đặc trưng khái quát của dạng ăn mòn này là sự tồn tại vô vàn các
pin ăn mòn khu trú, không khác mấy với dạng ăn mòn Galvani do sự ghép nối 2
kim loại bản chất khác nhau.
* Ăn mòn Galvani: xảy ra khi 2 kim loại khác nhau tiếp xúc nhau trong cùng
một môi trường xâm thực.
* Ăn mòn nứt: Dạng ăn mòn này thường gặp khi vật liệu bị tác động của áp
suất nội hoặc ngoại của môi trường xâm thực và kết quả là vật liệu bị gãy hay nứt.
1.1.3. Cơ sở nhiệt động của ăn mòn điện hóa học
Để nghiên cứu nhiệt động học của ăn mòn điện hóa, người ta xây dựng các
giản đồ Pourbaix (giản đồ mô tả mối tương quan giữa thế và pH của dung dịch).
E (V)
1,23

4OH- 4OH

O2 + 2H2O + 4e

0,00

(2)
2H + 2e H2
+

(1)
pH

Tương tự như trên, điều kiện để kim loại bị ăn mòn điện hóa kèm theo việc
giải phóng oxi ở 250C là:



Về yếu tố diện tích, tỉ số

tốc độ ăn mòn va/m =

càng lớn thì tốc độ ăn mòn càng lớn. Thực vậy,

.

va/m =

=

=

.

Bằng cách biến đổi thích hợp định luật Faraday, tốc độ ăn mòn còn được
biểu thị bằng theo phương trình sau:
va/m =

. ia/m

Trong đó: M là khối lượng mol của kim loại
Z là hóa trị của kim loại
D là khối lượng riêng của kim loại
F = 96500 C

ia/m tính bằng A/m2 .


φ

1

D

2

D + ne → ne

IC

Ia

M → Mn+ + ne

φM

0

-I

+I

Hình 1.3. Các đường cong phân cực anôt (1) và catôt (2)
Giản đồ Evans cũng được xây dựng trong hệ tọa độ φ = f (
φ=f(

)
φ

(2)

D + ne → Dne

φM
lgIa/m

O2

Hình 1.4. Giản đồ ăn mòn Evans về ăn mòn
(7)
O 0C
0,77
1.1.6. Giản đồ Pourbaix của sự ăn mòn sắt H
ở 225

d

Ăn

n

2+
a động Fe
Nhiệt
của
quá trình ăn mòn Fe trong nước ở 25 0C được biểu diễn như
Fe2O3
k
+


Hình 1.5. Giản đồ Pourbaix đối với Fe cho sự ăn mòn sắt ở 250C
Các phản ứng quan trọng và các phương trình cân bằng ở điều kiện:10-6 (mol/l)
= - 0,44 (V),

= 0,77 (V)


10

Bảng 1.1. Các phương trình phản ứng xảy ra trong hệ
Phản ứng
2H+ + 2e

H2
2H2O

O2 + 4H+ + 4e

Fe(OH)2+ +2H+

2Fe2+ +3H2O

Fe2O3+6H+ +2e

2Fe3+ +4H2O

Fe3O4+8H+ +2e

2Fe2+ +3H2O


3Fe2O3+2H+ +2e

Fe3+ + e

2+

lg [Fe ] = -0,617(V)

Phản ứng thủy phân

(2)

φ = 1,44 – 0,177pH

(V) (3)

φ = 6,65 – 0,5lg[Fe2+] = 9,65

(V) (4)

φ = -0,05 – 0,059pH

(V)

φ = 0,27 – 0,059pH

(V) (6)

φ = 0,77

lớn đến tốc độ ăn mòn. Đó là:
 Các tạp chất trong kim loại như cacbon, các kim loại kém hoạt động, các
oxit, các muối sunfua… là tăng sự ăn mòn. Các kim loại nguyên chất ít bị rỉ
hơn là các kim loại chứa tạp chất.
 Sự có mặt của các chất điện li đặc biệt là nước biển, môi trường có các khí
SO2, NO2 …
 Sự gia công kim loại, vì người ta đã biết rằng, trong thanh kim loại, nơi nào
chịu một sức căng (chẳng hạn chịu dập, uốn cong…) thì ở đấy các nguyên tử
kim loại “hoạt động” hơn và hình thành vùng anôt, ở đó kim loại bị ăn mòn
trước.
1.1.8. Ăn mòn thép trong nước sông và nước biển
1.1.8.1. Thành phần của nước sông và nước biển
Nước sông và nước biển là những dung dịch chất điện li. Trong nước biển có
tất nhiều loại muối hòa tan như trong bảng 1.2
Bảng 1.2. Thành phần các muối hòa tan trong nước biển
Muối
NaCl
MgCl2
MgSO4
CaSO4

Thành phần (%)
77,8
10,9
4,7
3,6

Muối
K2SO4
CaCO3

%
98,88
0,06
0,25
0,12
0,04
0,05
0,3
0,3
Thép CT3 ngoài thành phần chính là hợp kim sắt – cacbon còn chứa 1 lượng
nhỏ các nguyên tố như: Mn, P, Si, S, các nguyên tố này được coi là tạp chất thường,
trong đó Mn, Si làm tăng cơ tính của thép, P và S (≤ 0,13%) làm cho thép dòn và
khó hàn. Ngoài ra còn có 1 lượng nhỏ các nguyên tố Cr, Ni, Cu (≤ 0,02%) gọi là
hợp chất ngẫu nhiên nâng cao cơ tính của thép.
Độ bền và độ cứng của thép phụ thuộc vào thành phần C, thành phần C tăng
lên thì độ cứng tăng nhưng độ dẻo và độ dai giảm.
Thép CT3 có ưu điểm là: có cơ tính nhất định (như độ cứng sau khi tôi cử
thép không thua kém hợp kim có lượng C tương tự), có tính công nghệ tốt như dễ
đúc, hàn, cán, rèn, dập, kéo sợi, gia công, cắt, gọt.
1.1.8.3. Ăn mòn thép trong nước
Trong không khí ẩm cũng như trong môi trường nước luôn hòa tan khí O 2 và
khí CO2 trong khí quyển tạo thành một dung dịch chất điện li. Sắt và các tạp chất
(chủ yếu là C) cùng tiếp xúc với dung dịch đó tạo nên vô số pin rất nhỏ mà sắt là
anôt và cacbon là catôt.
Tại vùng catôt có các phản ứng xảy ra như sau:
2H2O + O2 + 2H2O

4OH-

=

Tại vùng anôt có phản ứng sau xảy ra:
Fe

Fe2+ + 2e

= - 0,44V

Vậy, thép dễ bị ăn mòn trong nước ở điều kiện thường.
Các cation Fe2+ di chuyển từ vùng anôt qua dung dịch điện li đến vùng catôt.
Ở đó, nó kết hợp với ion OH- để tạo thành sắt (II) hidroxit. Sắt (II) hidroxit lại tiếp
tục bị oxi hóa thành sắt (III) tạo rỉ sắt màu đỏ nâu.
4Fe(OH)2 + O2 → 2Fe2O3.H2O + 2H2O
Thật ra, rỉ sắt là hợp chất hidrat của sắt (III) oxit và hidroxit có thành phần
nước không xác định mà phụ thuộc vào môi trường tạo ra nó. Chẳng hạn, rỉ sắt ở
khu công nghiệp khác ở nông thôn.
Phản ứng tạo rỉ sắt có thể viết như sau:
2Fe(r) + 3/2 O2 + xH2O(l) → Fe2O3.xH2O(r)
rỉ sắt
Trong môi trường axit, tốc độ ăn mòn phụ thuộc vào những phản ứng ở
catôt:
2H2O + O2 + 2H2O

2H2O + 2e

4OH-

H2 + 2OH-

Ở pH thấp thì phản ứng (2) xảy ra nhanh nên tốc độ ăn mòn lớn.
Trong tự nhiên, nước sông và nước biển có tốc độ ăn mòn phụ thuộc vào

Cơ sở của phương pháp bảo vệ điện hóa
Thực chất của phương pháp bảo vệ điện hóa là làm cho thế kim loại cần

được bảo vệ thay đổi theo hướng đưa kim loại vào vùng được bảo vệ (phương pháp
bảo vệ catôt) hoặc vào vùng thụ động (phương pháp bảo vệ anôt).
Giản đồ thế - pH cho các vùng ăn mòn và bảo vệ kim loại được trình bày
E(V)

0

2

4

6

8

10

12

14

2.0
1.6

2.0
b



-0.8

-1.2

-1.2

-1.6

-1.6

pH

0

2

4

6

8

10

12

14

Hình 1.6. Giản đồ E - pH các vùng ăn mòn và bảo vệ kim loại

* Phương pháp bảo vệ catôt bằng dòng điện catôt
Nguồn cung cấp electron cho kim loại cần bảo vệ là nguồn điện một chiều từ
ngoài. Kim loại cần được bảo vệ được nối với cực âm của nguồn điện cực; cực
dương của nguồn được nối với kim loại bất kì cũng được đặt vào cùng môi trường
xâm thực.
c,

Phương pháp bảo vệ anôt
Trong phương pháp này kim loại cần được bảo vệ được phân cực bằng dòng

điện anot, khi đó thế của kim loại sẽ rơi vào trạng thái thụ động. Đường cong phân
cực trong sự thụ động hóa được thể hiện ở hình vẽ.
i

Vùng ăn mòn

Vùng thụ động

iam

itđ
φ


16

Hình 1.8. Đường cong phân cực trong phương pháp bảo vệ anôt
Kim loại
Au
Pt


K0: tốc độ ăn mòn của kim loại trong dung dịch khi chưa có chất ức chế (g/m 2.h).
K1: tốc độ ăn mòn của kim loại khi có chất ức chế (g/m2.h).
- Hiệu quả bảo vệ (kí hiệu γ)
γ=


17

1.1.10.2. Tác dụng của chất ức chế
Để làm giảm tính xâm thực của môi trường, người ta sử dụng chất ức chế ăn
mòn. Tác dụng của chất ức chế là do:





Hấp phụ phân tử chất hữu cơ lên bề mặt.
Thụ động hóa kim loại.
Tạo lớp kết tủa muối lên bề mặt, ngăn oxi có thể tiếp cận kim loại
Loại bỏ tác nhân ăn mòn (ví dụ như oxi hòa tan)

Tùy theo sự kìm hãm xảy ra ở catôt hoặc anôt mà chất ức chế ăn mòn được phân
loại thành chất ức chế catôt hay chất ức chế anôt.
1.1.10.3. Chất ức chế catôt
Các cation As3+, Bi3+ trong môi trường axit chúng sẽ phóng điện trên catôt
tạo thành As và Bi. Quá thế của H2 trên kim loại này cao hơn quá thế H2 trên thép.
Do đó, làm giảm dòng trao đổi của sự thoát hidro đối với sự khử phân cực hidro.
Hidrazin có thể được dùng để làm giảm lượng oxi hòa tan do đó làm giảm
dòng trao đổi đối với sự khử oxi.


φam

φ am

,

φ am

1
2
I,am

Iam

(a)

I

I,am

Iam

(b)

I


18


Công thức hóa học
n-CH3-(CH2)9-NH2

CH

H2C

Alylamin

Tên chất
n-Decylamin

NH2

Pyridin
H2C

N

NH2
O

Natri benzoat

Quinolin

C
ONa
N
R

O

(CH2)2
NH.HO

C

(CH2)2

NH.HNO2

H3C

O

CH2
NH

H2C

imidazolin
Benzyl

N
H2C

2-Octadexyl

CH


H2C

-m-nitrobenzoat

H3C

Đixyclo

C18H37

N

H2C

CH2

N

đisec-butylsulfit

Hexametyleneimin

H3C

Dietylamin

N

N
H

1.2.

TỔNG QUAN VỀ TANIN [1], [3], [9], [13], [15], [17]

1.2.1. Khái niệm
Từ “Tanin” được dùng đầu tiên vào năm 1976 để chỉ những chất có mặt
trong dịch chiết thực vật có khả năng kết hợp với protein của da sống động vật làm
cho da biến thành da thuộc không thối và bền. Do đó, tanin được định nghĩa là
những hợp chất polyphenol có trong thực vật, có vị chát được phát hiện với “thí
nghiệm thuộc da” và được định lượng dựa vào mức độ hấp phụ trên bột da sống
chuẩn. Định nghĩa này không bao gồm những phenol đơn giản hay gặp cùng với
Tanin như acid gallic, các chất catechin, acid chlorogenic... mặc dù những chất này
ở những điều kiện nhất định có thể cho kết tủa với gelatin và một phần nào bị giữ
trên bột da sống. Chúng được gọi là pseudotanin
Cơ chế thuộc da của Tanin được giải thích là do Tanin có nhiều nhóm –OH
phenol, tạo nhiều dây nối hydro với các mạch polipetid của protein. Nếu phân tử
tanin càng lớn thì sự kết hợp với protein càng chặt. Phân tử lượng tanin phần lớn
nằm trong khoảng 500 – 5.000 đvc
Khi đun chảy Tanin trong môi trường kiềm thường thu được những chất sau:
OH

OH

OH

OH

OH
OH


chích vào cây để đẻ trứng tạo nên “Ngũ bội tử”. Một số loại ngũ bội tử chứa đến
50% – 70% tanin.
1.2.2. Phân loại


20

Hóa học của Tanin rất phức tạp và không đồng nhất. Tanin có thể chia làm 2
loại chính: Tanin thủy phân được hay còn gọi Tanin pyrogallic và Tanin ngưng tụ
hay còn gọi là Tanin pyrocatechic.
1.2.2.1. Tanin pyrogallic
Tanin pyrogallic là những este của gluxit, thường là glucozơ với một hay
nhiều axit trihiđroxibenzencacboxylic.
Khi thủy phân bằng acid hoặc bằng enzym tanase thì giải phóng ra phần
đường thường là glucose, đôi khi gặp đường đặc biệt ví dụ đường hamamelose.
Phần không phải đường là các acid. Acid hay gặp là acid gallic. Các acid gallic nối
với nhau theo dây nối depsid để tạo thành acid digallic, trigallic. Ngoài acid gallic
người ta còn gặp các acid khác ví dụ acid ellagic, acid luteolic, dạng mở 2 vòng
lacton của acid elagic, acid chebulic.
Phần đường và phần không phải đường nối với nhau qua dây nối ester nên
người ta coi loại này là những pseudoglycosid.
Đặc điểm chính của loại Tanin này:





Khi cất khô ở 1800C – 2000C thì thu được pyrogallol là chủ yếu.
Cho kết tủa bông với chì axetat 10%.
Cho kết tủa màu xanh đen với muối sắt (III).


O

O
G

OH

O

OH

G

G là este của acid gallic

β– 1,2,2,3,6 – pentagaloyl – O – D - glucose

Hình 1.10. Một số loại polyphenol thuộc nhóm tanin pyrogallic.
1.2.2.2. Tanin pyrocatechic
Tanin nhóm này được tạo thành do sự ngưng tụ từ các đơn vị flavan-3-ol
hoặc flavan 3,4-diol. Dưới tác dụng của axit hoặc enzim thì không bị thủy phân mà
tạo thành chất đỏ Tanin hay phlobaphen. Phalobaphen ít tan trong nước là sản phẩm
của sự trùng hợp kèm theo oxi hóa, do đó Tanin pyrocatechic còn được gọi là
phlobatanin.
Đặc điểm chủ yếu của loại Tanin này là:





OH

Hình 1.11. Một số loạiOH
polyphenol thuộc nhóm tanin pyrocatechic.
1.2.3. Tính chất và định tính tanin
Tanin có vị chát, làm săn da, tan được trong nước, kiềm loãng, cồn, glyxerol
và axeton.
Thí nghiệm thuộc da của Tanin: Lấy một miếng da sống chế sẵn ngâm vào
dung dịch HCl 2% rồi rửa với nước cất, sau đó thả vào dung dịch tanin trong vòng 5
phút. Rửa lại với nước cất rồi nhúng vào dung dịch sắt (III) sunfat 1%. Miếng da sẽ
chuyển sang màu nâu hoặc nâu đen.
Kết tủa với gelatin: Dung dịch Tanin 0,5-1% khi thêm vào dung dịch gelatin
1% có chứa 10% NaCl thì sẽ có kết tủa.
Kết tủa với alkaloid: tanin tạo kết tủa với các alkaloid hoặc một số dẫn chất
hữu cơ có chứa nitơ khác như hexamethylen tetramin, dibazol…
Kết tủa với muối kim loại: tanin cho kết tủa với các muối kim loại nặng như
chì, thủy ngân, kẽm, sắt.
Phản ứng Stiasny (để phân biệt 2 loại Tanin): Lấy 50ml dung dịch Tanin,
thêm 10ml formol và 5ml HCl đun nóng trong vòng 10 phút. Tanin pyrogallic
không kết tủa còn Tanin pyrocatechic thì cho kết tủa đỏ gạch. Nếu trong dung dịch
có cả 2 loại Tanin thì sau khi lọc kết tủa, cho vào dịch lọc CH 3COONa rồi thêm
muối sắt (III), nếu có mặt Tanin pyrogallic thì sẽ có kết tủa xanh đen.


23

Tanin bị oxi hóa hoàn toàn dưới tác dụng của KMnO 4 hoặc hỗn hợp cromic
trong môi trường axit.
1.2.4. Công dụng của Tanin
Ở trong cây, Tanin tham gia vào quá trình trao đổi chất, các quá trình oxi hóa


Bác sĩ Weisburger). Do vậy, loại thực phẩm này được khuyến khích sử dụng như
một loại thuốc có thể phòng ngừa, bảo vệ cơ thể khỏi một số bệnh như: bệnh nhồi
máu cơ tim, bệnh loãng xương ở phụ nữ, ung thư, giúp xương thêm chắc, làm giảm
nguy cơ ung thư buồng trứng, làm giảm tác hại của thuốc lá.
Ngoài việc làm thuốc chữa bệnh và các chất phụ gia có giá trị cao trong công
nghiệp thực phẩm, tanin cũng cần được nghiên cứu để sử dụng có hiệu quả hơn
trong công nghiệp thuộc da và chống ăn mòn kim loại.
1.2.6. Những thực vật chứa nhiều tanin
Các loài keo (acacia) khác nhau có hàm lượng tanin khác nhau. Loài có hàm
lượng tanin lớn nhất là keo đen (acacia mearsi) có tới 40 – 43% tanin, loài acacia
cepebricta có hàm lượng tanin từ 15 – 20% nhưng có khả năng thích nghi với khí hậu
tốt.
Cây sồi chứa khoảng từ 7 đến 10% tanin, trong cây non có tới 8 – 12%, trong
lá xanh khoảng 8%. Bạch đàn: dung dịch chiết từ vỏ bạch đàn vùng Biển Đen chứa
khoảng 10 – 12%. Cây chè cũng có hàm lượng tanin khá lớn: trong lá chè chứa
khoảng 20% tanin.
Nhìn chung, tanin có nhiều trong thực vật 2 lá mầm như: Loài thông (Rubiaceae),
sến (Sapotaceae), cỏ roi ngựa (Verbennaceae), họ cúc, hoa mõm chó
(Scrophulariaceae), trúc đào (Apocynaceae), khoai lang (Convolvulaceae), hoa môi
(Labiatea), thầu dầu (Ecephorbiaceae), đậu (Leguminoseae), trôm (Sterculiaceae),
đào lộn hột (Anacardiaceae),chùm ớt (Bignoniaceae) và oro (Acanthaceae); dẻ
(Fagaceae), đước (Rhizophoraceae), , …
1.3.

TỔNG QUAN VỀ CÂY ĐƯỚC [14], [16]

1.3.1. Tên khoa học của cây đước
Tên khoa học: Rhizophora apiculata Blume.
Tên khác: Đước đôi, Đước xanh.

Mùa hoa tháng 4 - 5, đôi khi quanh năm, mùa quả chín tháng 11. Hạt nảy
mầm thành cây con trên cây mẹ, khi thành thục thì xuất hiện một vòng cổ dài 0,8 12cm giữa phần quả và trụ mầm. Cây con rụng vào các tháng 7 - 9.
Đước từ lúc ra hoa đến khi trái chín phải mất 6 tháng, trái đước nảy mầm từ
lúc còn treo lơ lửng trên cây, khi rụng xuống được sóng biển trôi dạt khắp nơi, gặp
nơi bùn lầy, trái đước trụ lại, rễ non bám vào phù sa, quá trình bén rễ cũng là quá
trình nâng trái đước đứng thẳng lên. Sau 20 đến 25 ngày bám rễ trong đất, mầm
đước đã có một búp non màu đỏ như lửa và xòe được hai lá xanh đầu tiên. Từ khi



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status