Đánh giá khả năng chịu hạn của tập đoàn giống lúa cạn thu thập tại các tỉnh miền núi phía bắc - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––

LÊ YẾN ANH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỊU HẠN
CỦA TẬP ĐOÀN GIỐNG LÚA CẠN THU THẬP
TẠI CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC
Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Mã số: 60.62.01.10

LUÂN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: 1.TS. Trần Minh Quân
2.TS. Nguyễn Đức Thạnh

Thái Nguyên - 2013


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn

Lê Yến Anh


MỞ ĐẦU ............................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................................. 1
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài ................................................................................. 3
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài................................................................ 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 4
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ....................................................................................... 4
1.1.1.Một số khái niệm về lúa cạn và lúa chịu hạn .................................................. 5
1.1.2. Nguồn gốc lúa cạn................................................................................................. 7
1.1.3. Khái niệm về hạn và phân loại hạn ................................................................... 8
1.1.4. Khái niệm của tính chống, né (trốn), tránh, chịu hạn và khả năng
phục hồi sau hạn ................................................................................................................ 9
1.1.5. Đặc tính chống chịu hạn ở cây lúa................................................................... 10
1.1.6. Ảnh hưởng của hạn đến sản xuất nông nghiệp và sinh trưởng của
cây lúa ............................................................................................................................... 11
1.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu lúa cạn trong nước và thế giới .................. 12
1.2.1. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn trên thế giới ............................. 12
1.2.2. Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa cạn ở Việt Nam.................................... 19
1.3. Tương lai của cây lúa cạn và lúa chịu hạn ........................................................ 25
1.4. Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ mùa năm 2012 tại Thái Nguyên .................. 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................ 28
2.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................................ 28


iv

2.2. Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu .................................................... 28
2.2.1. Địa điểm tiến hành nghiên cứu ........................................................................ 28
2.2.2. Thời gian tiến hành nghiên cứu ....................................................................... 28
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu .............................................................. 28


: Trung tâm nghiên cứu lúa

CIAT

: Trung tâm Nông nghiệp nhiệt đới Quốc tế

CH

: Chịu hạn

LC

: Lúa cạn

TGST

: Thời gian sinh trưởng

FAO

: Tổ chức nông lương thế giới

IAC

: Viện nghiên cứu nông nghiệp Saopaulo – Brazil

IRRI

: Viện nghiên cứu lúa Quốc tế

Bảng 3.3. Phân loại giống theo khả năng đẻ nhánh và đường kính lóng gốc ....... 41
Bảng 3.4. Đánh giá tập đoàn theo mức nhiễm bệnh hại ................................. 42
Bảng 3.5. Đánh giá tập đoàn theo mức độ hại của sâu ................................... 44
Bảng 3.6. Phân loại giống theo số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt ..... 45
Bảng 3.7. Phân loại giống theo số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc ........................ 46
Bảng 3.8. Phân loại giống theo số bông/khóm và chiều dài bông .................. 47
Bảng 3.10. Đặc điểm hình thái các giống lúa nếp tham gia thí nghiệm ......... 51
Bảng 3.11. Đặc điểm hình thái các giống lúa tẻ tham gia thí nghiệm ............ 52
Bảng 3.12. Khả năng chịu hạn và phục hồi của các giống lúa ....................... 53
Bảng 3.13. Khả năng chịu hạn của các giống lúa nếp ở một số giai đoạn
gặp hạn ............................................................................................ 55
Bảng 3.14. Khả năng chịu hạn của các giống lúa tẻ ở một số giai đoạn
gặp hạn ............................................................................................ 56
Bảng 3.15. Khả năng chịu hạn của các giống tham gia thí nghiệm ................ 59
Bảng 3.16. Khả năng chịu hạn ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của
các giông lúa nếp ............................................................................ 61
Bảng 3.17. Khả năng chịu hạn ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của
các giông lúa tẻ ............................................................................... 62
Bảng 3.18. Một số chỉ tiêu sinh lý liên quan đến khả năng chịu hạn của các
giống lúa nếp ................................................................................... 64
Bảng 3.19. Một số chỉ tiêu sinh lý liên quan đến khả năng chịu hạn của các
giống lúa tẻ ...................................................................................... 65
Bảng 3.20. Chiều dài bộ rễ, số lượng rễ chính và khối lượng bộ rễ các
giống lúa nếp trong thí nghiệm hộp rễ (60 ngày sau mọc) ............. 68
Bảng 3.21. Chiều dài bộ rễ, số lượng rễ chính và khối lượng bộ rễ các
giống lúa tẻ trong thí nghiệm hộp rễ (60 ngày sau mọc) ................ 69


vii


lúa hàng năm có khoảng 7,3-7,5 triệu ha, thì có tới 1,5-1,8 triệu ha thường bị
thiếu nước và có từ 1,5-2,0 triệu ha cần phải có sự đầu tư để chống úng khi gặp
mưa to và tập trung. Trong điều kiện ít mưa, thiếu nước tưới sẽ kéo theo sự bốc
mặn và phèn ở những vùng ven biển (Nguyễn Tấn Hinh và cs, 2004) [3], (Trần
Nguyên Tháp, 2001) [15]. Trong những năm gần đây, nguồn nước cung cấp cho


2

canh tác lúa đang ngày càng khan hiếm, đặc biệt là ở Châu Á, nơi mà cây lúa
được trồng trên khoảng 30% diện tích chủ động nước và tiêu thụ 50% lượng
nước tưới cho cây trồng. Bên cạnh đó trên đồng ruộng nhu cầu về nước cho cây
lúa cao gấp 2 đến 3 lần so với các cây trồng khác. Chính vì vậy, thiếu nước tưới
trong sản xuất nông nghiệp là vấn đề đang được dự báo cấp thiết trên qui mô
toàn cầu. Với tầm quan trọng như vậy, người ta đã hoạch định một thứ tự ưu tiên
cho đầu tư nghiên cứu tính chống chịu khô hạn, chịu mặn và chịu ngập úng trong
lĩnh vực cải tiến giống cây trồng trên toàn thế giới (Bùi Chí Bửu và cs, 2003) [1].
Cây lúa cạn năng suất thấp nhưng lại thể hiện tính ưu việt về khả năng
chống chịu hạn tốt, thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn, có chất
lượng gạo tốt, thơm, dẻo, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng và có tiềm năng
phát triển để phục vụ cho xuất khẩu. Hiện nay các giống lúa được canh tác phân
tán, tự phát, chưa có khoanh vùng và định hướng phát triển làm cho nhiều giống
lúa cạn có chất lượng bị mất dần, diện tích trồng lúa bị thu hẹp. Việc đẩy mạnh
năng suất lúa ở các vùng thâm canh và vùng khó khăn luôn là phương hướng
chiến lược và mục tiêu cụ thể cho công tác chọn tạo và phát triển giống lúa. Đặc
biệt trong thời gian tới, những dự báo biến đổi khí hậu, nguồn nước tưới trong
nông nghiệp có thể giảm đi, diện tích đất cạn hoặc thiếu nước có thể tăng lên. Do
vậy, việc nghiên cứu và phát triển các giống lúa cho vùng khô hạn, thiếu nước là
hết sức quan trọng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực và xoá đói giảm nghèo
cho người nông dân ở những vùng có điều kiện khó khăn.

* Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Đánh giá nhanh được tập đoàn giống đã thu thập được trên cơ sở xác
định khả năng chống chịu hạn.
- Chọn lọc được những giống lúa có khả năng chịu hạn tốt.


4

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
Nước là một trong những nguồn tài nguyên quý giá nhất và giống như tất
cả các sinh vật sống khác lúa cũng rất cần nước để hoàn thành chu kỳ sống của
mình. Lúa không chỉ cần nước cho sinh trưởng và phát triển của nó mà nó còn
có thể tạo ra năng suất cao, sản lượng tốt. Khô hạn được coi là một hạn chế lớn
đối với sản xuất lúa ở các vùng đất cao, bao gồm gần 30% tổng diện tích lúa của
thế giới, đe dọa đời sống của nhiều nông dân nghèo cùng với gia đình của họ.
Vấn đề cải tiến giống và kỹ thuật canh tác đã và đang được đặt ra, việc sử
dụng giống lúa có khả năng thích nghi và chống chịu cao là một biện pháp tiết
kiệm chi phí hữu hiệu nhất. Chính vì vậy, để nâng cao và ổn định sản lượng lúa
trong điều kiện phụ thuộc nước trời, nhằm làm giảm thiệt hại do hạn hán gây ra thì
việc xác định, chọn tạo ra các giống lúa cải tiến có khả năng chống chịu và cho
năng suất ổn định đã trở thành một trong những vấn đề cấp thiết hiện nay. Mặt
khác, tạo ra những giống lúa mang gen chịu hạn cũng là việc làm cần thiết cho cả
những vùng trồng lúa không có đủ điều kiện thủy lợi bởi vì tình trạng thiếu nước
có thể xảy ra ở hầu hết các vùng trồng lúa, theo thống kê có tới 90% diện tích
trồng lúa trên thế giới chịu ảnh hưởng của khô hạn trong vài giai đoạn sinh trưởng.
Ở nước ta lúa cạn đã tồn tại từ lâu đời cung cấp một lượng lớn lương
thực cho nhân dân vùng cao. Đây là nguồn gen quí trong lai tạo và chọn
giống lúa do lúa cạn có những đặc tính nông học đặc biệt, khác với những

lúa cạn (upland rice) và định nghĩa: “Lúa cạn được trồng trong những thửa ruộng
được chuẩn bị đất và gieo hạt dưới điều kiện khô, cây lúa sống phụ thuộc hoàn
toàn vào nước trời”
Theo Khush G.S. (1984) và Trần Văn Đạt (1986) [2], (Nguyễn Thị Lẫm,
1992) [7]: “Lúa cạn được trồng trong mùa mưa, trên chân đất cao, đất thoát nước
tự nhiên trên những chân ruộng không có bờ hoặc được đắp bờ và không có


6

nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt. Lúa cạn được hình thành và phát triển từ
lúa nước để thích nghi với những vùng trồng lúa thường gặp hạn”.
Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [11] lại chia lúa cạn làm 2 dạng:
- Lúa cạn thực sự hay còn gọi là lúa nương (rẫy) là loại lúa trồng trên
dốc của đồi núi, không có bờ ngăn nước, luôn không có nước ở chân, cây lúa
sống nhờ nước trời.
- Lúa cạn không hoàn toàn hay còn được gọi là lúa nước trời là loại lúa
được trồng ở triền thấp không có hệ thống tưới tiêu chủ động, cây sống hoàn
toàn bằng lượng nước mưa tại chỗ, có thể có nước dự trữ trên bề mặt ruộng và
cung cấp nước cho cây lúa vào một thời điểm nào đó.
Các nhà chọn giống Việt Nam cũng quan niệm về lúa cạn tương tự như
trên. Tác giả Bùi Huy Đáp (1978) định nghĩa: “Lúa cạn là loại lúa gieo trồng trên
đất cao, như là các loại hoa màu trồng cạn khác, không tích nước trong ruộng và
hầu như không bao giờ được tưới thêm. Nước cho lúa chủ yếu do nước mưa
cung cấp và được giữ lại trong đất” (Vũ Thị Bích Hạnh, 2004) [2].
Theo Vũ Tuyên Hoàng và Trương Văn Kính (1995) [5], (Trần Nguyên
Tháp, 2001) [15] định nghĩa và phân vùng cây lúa cạn và chịu hạn theo loại
hình đất trồng ở nước ta như sau:
- Đất rẫy (trồng lúa rẫy, Upland rice hay Dry rice): nằm ở các vùng trung
du, miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và một phần của Đông Nam Bộ.

những vết tích giống nhau, giải phẫu thân, bẹ lá của cây lúa cạn thấy có nhiều
tổ chức không khí (giống ở lúa nước) nhưng không phát triển. Những giống lúa
cạn trồng ở đất cạn vẫn sinh trưởng bình thường trên ruộng có nước, đây là đặc
tính nông học đặc biệt của cây lúa cạn, khác với các cây trồng khác giúp lúa
cạn được phân bố rộng hơn. Qua nhiều nghiên cứu về lúa cạn cho thấy lúa cạn
được hình thành từ lúa Indica, phát triển theo hướng chín sớm, có khả năng
chống chịu tốt với hạn, nhất là hạn cuối mùa vụ, chống chịu sâu bệnh và chịu


8

đất nghèo dinh dưỡng thích nghi cao với điều kiện sinh thái khó khăn. Đây là
nguồn gen quý trong nông nghiệp nhằm lai tạo và chọn lọc giống lúa.
1.1.3. Khái niệm về hạn và phân loại hạn
1.1.3.1. Khái niệm về hạn
Từ “hạn”, tiếng Anh là “drought”, xuất phát từ ngôn ngữ Anglo-Saxon
có nghĩa là “đất khô” (dryland).
Hiện nay chưa có một định nghĩa tổng hợp hoàn chỉnh về hạn, song tuỳ
góc độ nghiên cứu mà có những khái niệm khác nhau.
Dere C.Hsiao (1980) (Trần Nguyên Tháp, 2011) [15] định nghĩa: “Hạn
là sự mất cân bằng nước của thực vật thể hiện trong sự liên quan hữu cơ giữa
đất-thực vật-khí quyển”.
Theo Gibbs (1975), hạn hay đúng hơn là sự thiếu hụt nước ở cây trồng là
sự mất cân bằng giữa việc cung cấp nước và nhu cầu nước. Còn Mather (1986),
hiện tượng hạn trong sản xuất nông nghiệp thực chất là do thiếu sự cung cấp độ
ẩm cho sự sinh trưởng tối đa của cây trồng từ lượng mưa hoặc từ lượng nước dự
trữ trong đất (Trần Nguyên Tháp, 2011) [15].
1.1.3.2. Phân loại hạn
Khi nghiên cứu về nguyên nhân gây nên hạn, các tác giả đều cho rằng
việc thiếu nước mưa thường xuyên là nguyên nhân chính gây nên hạn hán. Vấn

cũng có độ ẩm không khí thấp ở các vùng khác diễn ra trong thời gian ngắn
(Trần Nguyên Th áp, 2011) [15].
1.1.4. Khái niệm của tính chống, né (trốn), tránh, chịu hạn và khả năng phục hồi
sau hạn
Theo Gupta (1986), phần lớn các nhà chọn giống sử dụng năm thuật ngữ
sau đây khi nói đến khả năng chống chịu hạn (Anraudeau, M.A, 1989) [17]:
- Chống hạn: là khả năng sống sót, sinh trưởng và vẫn cho năng suất
mong muốn của một loài thực vật trong điều kiện bị giới hạn về nhu cầu nước
hay bị thiếu hụt nước ở từng giai đoạn nào đó.


10

- Tránh hạn: là khả năng “chín sớm” của một loài thực vật trước khi vấn
đề khủng hoảng nước trở thành một nhân tố hạn chế năng suất nghiêm trọng.
- Thoát hạn: là khả năng duy trì trạng thái trương nước cao của một loài
thực vật trong suốt thời kỳ hạn.
- Chịu hạn: là khả năng chịu đựng sự thiếu hụt nước của một loài thực
vật khi được đo bằng mức độ và khoảng cách thời gian của sự giảm tiềm năng
nước ở thực vật.
- Phục hồi: là khả năng phục hồi lại sự sinh trưởng và cho năng suất
của một loài thực vật sau khi xảy ra khủng hoảng nước, những thiệt hại do sự
thiếu nước gây ra là không đáng kể.
Khả năng chống hạn ở thực vật có thể là một trong bốn khả năng: thoát
hạn, tránh hạn, chịu hạn và phục hồi hoặc là sự kết hợp của cả bốn khả năng trên.
1.1.5. Đặc tính chống chịu hạn ở cây lúa
Sự thể hiện tính chống chịu khô hạn được quan sát thông qua những tính
trạng cụ thể như hình thái rễ, lá, chồi thân, phản ứng co nguyên sinh, bao phấn,
quá trình trỗ bông, v.v… Những tính trạng như vậy gọi là tính trạng thành
phần. Khả năng chống chịu hạn thể hiện ở tất cả các đặc tính về khả năng hút

hạn hán nặng đã làm ảnh hưởng đến vụ đông xuân các năm 1959, 1961, 1970,
1984, 1986, 1993, ảnh hưởng tới vụ mùa các năm 1960, 1961, 1963, 1964,
1983, 1987, 1988, 1990, 1992, 1993. Tuy nhiên, năm được đánh giá hạn nặng
nhất trong vòng 45 năm qua là năm 1998 làm thiệt hại trên 5.000 tỉ đồng.
Nguyên nhân hạn chủ yếu do mùa mưa kết thúc sớm hơn mọi năm khoảng
một tháng nên lượng mưa chỉ đạt 50-70% so với trung bình nhiều năm.
Cùng với việc thiếu hụt lượng nước mưa, nhiệt độ các tháng đầu năm
cũng cao hơn trung bình nhiều năm từ 1-3 0 C. Tình trạng này đã khiến
898.962 ha lúa (chiếm 12% diện tích cả nước) bị hạn, trong đó có 122.081
ha bị mất trắng.


12

Đối với cây lúa, hạn vào lúc cây đang sinh trưởng mạnh (đẻ nhánh) thì chỉ
ảnh hưởng đến sinh trưởng. Nhưng nếu hạn vào giai đoạn làm đòng đến trỗ thì
rất có hại vì ngăn trở sự phát triển của các bộ phận hoa, gây ảnh hưởng rõ rệt đến
năng suất và phẩm chất lúa. Theo Sasato (1968) và nhiều tác giả khác, các giai
đoạn sinh trưởng khác nhau, cây lúa cạn chịu tác động của sự thiếu hụt nước
trong đất rất khác nhau ( Sasato, 1968) [12]:
- Nếu hạn vào thời kì cây lúa hồi xanh thì làm chậm quá trình hồi xanh
hoặc chết cây do sức chống hạn yếu. Thời kì đẻ nhánh, cây lúa chịu hạn khá
hơn nhưng cũng bị giảm khả năng đẻ nhánh, chiều cao cây và diện tích lá. Thời
kì ngậm đòng mà gặp hạn thì rất có hại, nhất là giai đoạn tế bào sinh sản phân
bào giảm nhiễm, làm thoái hoá hoa, cản trở quá trình hình thành gié và hạt.
- Thời gian 11 ngày đến 3 ngày trước trỗ, chỉ cần hạn 3 ngày đã làm
giảm năng suất rất nghiêm trọng, gây nghẹt đòng, các bộ phận hoa bị tổn
thương mạnh, mầm hoa bị chết, dẫn đến sự bất thụ hoặc quá trình phơi màu thụ
tinh khó khăn và hình thành nhiều hạt lép.
- Khi hạt lép, cây không có cách nào để bù năng suất nữa. Hạn vào

tiến rất khó khăn do môi trường không đồng nhất và biến động. Một phần bởi vì
có rất ít giống lúa chịu hạn (Fischer. S.K và cs, 2003) [20].
Về đất đai, lúa cạn thường được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới,
nơi mà độ màu mỡ của đất đã bị giảm rất nhanh do canh tác trên độ dốc cao
lại vào mùa mưa dễ bị xói mòn rửa trôi.
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa cạn trên thế giới
Châu lục trên thế giới Diện tích (nghìn ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Châu Á

12.000

11.793

Châu Mỹ Latinh

6.725

8.820

Châu Phi

2.000

1.023

Thế giới


thống canh tác hợp lý và giống thích hợp.
Do yêu cầu về lương thực, năm 1983 Ban điều hành các trung tâm
nghiên cứu lúa cạn được thành lập (UREDCO), từ đó các chương trình nghiên
cứu về lúa cạn ở các nước được tổ chức mở rộng trong một chương trình
chung và đã thu được một số kết quả.


15

Chương trình cải tiến giống lúa cạn được tiến hành rộng khắp các châu lục
như: Châu Phi, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ La Tinh với sự hợp tác của các Trung
tâm và Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới như: IRAT, IITA …
Tại Châu Phi, chương trình cải tiến giống lúa được thực hiện qua các
chương trình của quốc gia cũng như các tổ chức quốc tế: IRAT, IITA. Các
chương trình cải tiến giống lúa cạn được tiến hành tại Nigeria, Ghana và Siera
Leone từ trước khi viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế IARCs (The
International Agriculture Research Centres) được thành lập.
Lúa cạn cũng được nghiên cứu tại Viện nghiên cứu lương thực ở
Kumasi, Ghana và trạm nghiên cứu nông nghiệp Kpong, Ghana.
Tại Nigeria viện nghiên cứu cây ngũ cốc ở Ibadan đã đi tiên phong
trong việc lai tạo giống lúa cạn. Năm 1958 giống lúa thuần chủng FARO3
được chọn lọc từ giống địa phương Agbede 16/56 đã được thử nghiệm tại
miền Trung Nigeria. Đó là giống lúa cạn có năng suất cao trung bình và có
khả năng chống chịu bệnh đạo ôn tương đối khá.
Năm 1979 Viện nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (IITA) bắt đầu
chương trình cải tiến giống lúa cạn trong đó nhấn mạnh các giống lúa cạn có
tiềm năng năng suất cao, kiểu cây cải tiến, khả năng chống chịu với điều kiện
bất thuận tốt như: chịu hạn, kháng bệnh đạo ôn, khô vằn, ngoài ra còn thích
ứng tốt với các điều kiện môi trường khác nhau (Gupa S.K và cs, 1980) [21].
Chương trình này được triển khai với mục đích để tăng cường khả năng sản

Trong những năm 70, các chương trình nghiên cứu của một quốc gia
Trung Mỹ đã dùng những vật liệu lai tạo có triển vọng từ CIAT và IRRI.
Năm 1978 các chương trình Quốc gia này đã bắt đầu cung cấp những
dòng bố mẹ tốt cho phát triển giống lúa cạn. Chúng là những giống có tiềm
năng năng suất cao và kháng bệnh đạo ôn trong điều kiện môi trường canh tác
thuận lợi, tuy nhiên chúng lại mẫn cảm với môi trường canh tác khó khăn.


17

Tại Châu Á các chương trình Quốc gia và Viện lúa quốc gia và Viện lúa
quốc tế (IRRI) đã có những dự án cải tiến giống lúa cạn cho vùng phía Nam và
Đông Nam Châu Á. Về mặt cải tạo giống, chủ yếu đã tiến hành chọn lọc từ
những vật liệu sẵn có trong vùng do thu thập được trong các cuộc điều tra và mặt
khác là những giống được thu thập từ các vùng khác đến. Các chương trình
Quốc gia về lai tạo giống lúa cạn được thực hiện tại Bangladesh, Ấn Độ,
Indonesia, Thái Lan và Philippines. Chương trình này được bắt đầu từ Ấn Độ
vào năm 1946 khi Trung tâm nghiên cứu lúa được thành lập (CRRI).
Năm 1982 CRRI hợp tác với IRRI đánh giá một số giống lúa cạn gồm:
IR 5931- 10-1, IR 6023-10-1-1, Seratus Malan, UPLRi-5, tại 10 điểm thí
nghiệm trong đó giống BR 203-26-2 đạt năng suất cao nhất là 1,8 tấn/ha.
Tại Philippines trong những năm 1970 trường Đại học tổng hợp Losbanos
đã phát triển một số giống như: UPL RI-3, UPL RI-5 và UPL RI-7 là những
giống cao cây, khả năng đẻ nhánh trung bình, chất lượng gạo tốt. Một vài giống
mẫn cảm với bệnh đạo ôn nhưng có khả năng phục hồi sau hạn tốt và có hệ
thống rễ phát triển tốt, cho năng suất tới 4 tấn/ha (Gupa S.K và cs, 1980) [21].
Tại Thái Lan, từ đầu những năm 1950 đã thu thập, tinh lọc và làm
thuần các giống địa phương và đã đưa ra hai giống lúa tẻ là Muang Huang
và Dowk Payom và được trồng phổ biến ở miền Nam. Các giống này có
khả năng cho năng suất đạt 2 tấn/ha và giống lúa nếp Sew Meajan trồng ở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status