tiểu luận triết, hình thái kinh tế xã hội - Pdf 35

Lời nói đầu
Từ khi chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, chế độ xã hội
chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, các thế lực đối nghịch của chủ
nghĩa Mác Lênin, của chủ nghĩa xã hội cũng có dịp vu cáo, xuyên tạc
hòng bác bỏ chủ nghĩa Mác Lênin. Trong đó lý luận hình thái kinh tế xã
hội là một điều lý luận bị công kích từ nhiều phía. Những con ngời cách
mạng luôn phải đấu tranh với các quan điểm thù địch nhằm bảo vệ sự
đúng đắn của chủ nghĩa Mác Lênin nói chung và lý luận Mác về hình
thái kinh tế xã hội nói riêng.
Việt Nam là một trong bốn nớc còn tồn tại của hệ thống chủ nghĩa xã
hội trớc kia nhng Việt Nam luôn đi theo con đờng mà mình đã lựa chọn,
luôn xây dựng và bảo vệ những gì mà mình đã lựa chọn, luôn xây dựng
và bảo vệ những gì mà mình đã có dới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nớc
đi theo con đờng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Vấn đề là một nớc
nghèo nàn, lạc hậu, nền kinh tế thấp kém, lại còn bị bọn thực dân rồi đế
quốc đàn áp bóc lột, nớc ta đã và đang dần dần từng bớc đi lên và phát
triển kinh tế dới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam. Nớc
ta thuộc vào nhóm đang phát triển, là một trong những n ớc nghèo nhất
thế giới, nông nghiệp lạc hậu còn cha phát triển xã hội truyền thống đổi
sang xã hội văn minh công nghiệp. Do đó khách quan phải tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nội dung, phơng thức là con đờng phát
triển nhanh có hiệu quả. Đối với nớc ta quá trình công nghiệp hoá còn
gắn chặt với hiện đại hoá, nó làm cho xã hội chuyển từ xã hội truyền
thống sang xã hội hiện đại làm biến đổi cơ bản bộ mặt của xã hội trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị công nghiệp hoá, hiện đại hoá
là con đờng củng cố độc lập dân tộc, khắc phục lạc hậu, đói nghèo là quy
luật khách quan trong tiến trình phát triển của đất n ớc tạo ra một cơ sở
vật chất kỹ thuật hiện đại, bảo đảm cho sự tăng tr ởng kinh tế nâng cao
đời sống vấn đề và văn hoá của nhân dân. Chúng ta cần biết rằng khi
hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác
đã khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài ng ời là sự thay

kinh tế quốc tế để phát triển nhanh có hiệu quả bền vững Do đó chúng
ta cần nghiên cứu lý luận hình thái kinh tế xã hội với sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay để thấy rõ đ ợc thực trạng
của vấn đề đó.

Phần I:

2


Những thành tố cấu thành hình thái
kinh tế - xã hội
I. Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội
Trên cơ sở cái t tởng của các nhà kinh điển, hình thái kinh tế xã hội đợc
hiểu nh sau:
Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch
sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, với
những quan hệ sản xuất của nó thích ứng với lực lợng sản xuất ở một
trình độ nhất định và với một kiến trúc thợng tầng đợc xây dựng trên
những quan hệ sản xuất đó.
Lực lợng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh
tế - xã hội. Sự hình thành và phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, xét
cho đến cùng, đó là do lực lợng sản xuất quyết định. Lực lợng sản xuất phát
triển qua các hình thái kinh tế - xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao.
Quan hệ sản xuất - quan hệ giữa ngời và ngời trong quá trình sản xuất là những quan hệ cơ bản ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hội
khác. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội lại có một kiểu quan hệ sản xuất của nó
ứng với một trình độ nhất định của lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất, đó là
tiêu chuẩn khách quan để phân biệt xã hội cụ thể này với xã hội cụ thể khác,
đồng thời tiêu biểu cho một giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử.
Những quan hệ sản xuất là bộ xơng của cơ thể xã hộ hợp thành cơ sở hạ

+ Đối tợng lao động: đất đai, tài nguyên,...
Đối tợng lao động không phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ là một bộ
phận của giới tự nhiên đợc đa vào sản xuất. Ngoài những đối tợng lao động
có sẵn trong tự nhiên, con ngời còn sáng tạo ra bản thân đối tợng lao động
(ví dụ nh: các vật liệu mới, các loại cây trồng mới,...)
+ T liệu lao động: bao gồm công cụ lao động và những t liệu lao động
khác cần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm
T liệu lao động là yếu tố dẫn truyền sự tác động của con ngời vào đối tợng lao động.
Trong t liệu lao động, công cụ lao động là hệ thống xơng cốt của sản
xuất. Trong quá trình sản xuất thì công cụ lao động luôn luôn đợc cải tiến.
Nó là yếu tố động nhất và cách mạng nhất trong lực lợng sản xuất. Chính
trình độ phát triển của t liệu lao động mà chủ yếu là công cụ lao động là thớc
đo trình độ chinh phục tự nhiên của loài ngời, là cơ sở xác định trình độ phát
triển của sản xuất, là tiêu chuẩn để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại
kinh tế.
Tuy nhiên t liệu lao động chỉ trở thành lực lợng tích cực cải biết đối với
đối tợng lao động khi chúng kết hợp với lao động sống. Chính con ngời với
trí tuệ và kinh nghiệm của mình đã tạo ra t liệu lao động và sử dụng nó để
thực hiện sản xuất. T liệu lao động dù có ý nghĩa lớn lao đến đâu, nhng nếu
tách khỏi ngời lao động thì nó cũng không thể phát huy đợc tác dụng, bởi vì

4


các t liệu lao động không có vận động tự thân mà nó chỉ có nghĩa khi đợc kết
hợp với lao động sống,
Giữa các yếu tố của lực lợng sản xuất có sự tác động biện chứng: Sự
hoạt động của t liệu lao động phụ thuộc vào trí thông minh, sự hiểu biết và
kinh nghiệm của con ngời, đồng thời bản thân những phẩm chất của con ngời, những kinh nghiệm, thói quen của họ đều phụ thuộc vào t liệu sản xuất
hiện có, phụ thuộc vào chỗ họ sử dụng những t liệu lao động nào. Không có

5


Quan hệ sản xuất là quan hệ kinh tế cơ bản của một hình thái kinh tế xã hội. Mỗi kiểu quan hệ sản xuất tiêu biểu cho bản chất kinh tế của một
hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau:
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc sở hữu về t liệu sản xuất.
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc tổ chức quản lý.
- Quan hệ giữa ngời với ngời đối với việc phân phối sản phẩm lao
động.
Trong 3 quan hệ trên thì quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất là quan hệ
xuất phát, quan hệ cơ bản đặc trng cho quan hệ sản xuất trong từng xã hội.
Nó quyết định quan hệ tổ chức quản lý sản xuất và quan hệ phân phối sản
phẩm
Trong lịch sử có 2 loại hình thức sở hữu cơ bản là hình thức sở hữu cơ
bản về t liệu sản xuất: sở hữu t nhân và sở hữu công cộng.
Sở hữu t nhân là loại hình sở hữu mà trong đó t liệu sản xuất tập trung
vào trong tay một số ít ngời, còn đại đa số không có hoặc có rất ít t liệu sản
xuất. Do đó, quan hệ giữa ngời với ngời là quan hệ thống trị và bị trị, bóc lột
và bị bóc lột.
Sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó t liệu sản xuât thuộc
về mọi thành viên trong cộng đồng. Do đó, quan hệ giữa ngời với ngời là
quan hệ bình đẳng, hợp tác và cùng có lợi.
Quan hệ tổ chức và quản lý sản xuất trực tiếp tác động đến quá trình sản
xuất, đến việc tổ chức, điều khiển quá trình sản xuất. Nó do quan hệ sở hữu
quy định và phải thích ứng với quan hệ sở hữu. Tuy nhiên, có trờng hợp,
quan hệ tổ chức và quản lý không thích ứng với quan hệ sở hữu, làm biến
dạng quan hệ sở hữu.
Quan hệ về phân phối sản phẩm sản xuất ra mặc dù do quan hệ sở hữu
về t liệu sản xuất và quan hệ tổ chức quản lý sản xuất chi phối, song nó tác

với t cách là hình thức của phơng thức sản xuất là yếu tố tĩnh. So với lực lợng
sản xuất, quan hệ sản xuất biến đổi chậm hơn. Khi quan hệ sản xuất phù hợp
với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ trở thành
động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất
không còn phù hợp với tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất, nó trở
thành xiềng xích trói buộc sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất:
Tính chất và trình độ của lực lợng sản xuất trớc hết đợc thể hiện ở tính
chất và trình độ của công cụ sản xuất và sau đó là của toàn bộ quá trình sản
xuất. Tính chất của lực lợng sản xuất đợc biểu hiện ở tính có thể hay tính xã
hội của lực lợng sản xuất. Trình độ của lực lợng sản xuất đợc thể hiện ở trình
độ thơ sơ, lạc hậu hoặc hiện đại có tính chất cơ khí hoặc tự động hoá.
Khi lực lợng sản xuất vận động biến đổi đến một giai đoạn nào đó thì
quan hệ sản xuất sẽ không vận động biến đổi bằng kịp với sự phát triển của
lực lợng sản xuất. Quan hệ sản xuất trở nên lỗi thời và lạc hậu đối với sự phát
triển của lực lợng sản xuất, nó sẽ trở thành chớng ngại kìm hãm sự phát triển

7


của lực lợng sản xuất. Biểu hiện của sự xung đột giữa lực lợng sản xuất và
quan hệ sản xuất là sự kìm hãm sức sản xuất của xã hội, năng suất lao động
thấp, thu nhập của ngời lao động càng ngày càng giảm, đời sống xã hội bị
khủng hoảng. Lực lợng sản xuất muốn tiếp tục phát triển thì phải đấu tranh
phá bỏ quan hệ sản xuất đã lỗi thời và thiết lập quan hệ sản xuất mới phù hợp
với lực lợng sản xuất đang phát triển. Trong tác phẩm: Bản thảo kinh tế triết
học năm 1844, Mác viết: lực lợng sản xuất có phát triển đợc hay không, phụ
thuộc vào việc nó có gạt bỏ đựoc hay không những quan hệ sản xuất đã lỗi
thời đang trở thành chớng ngại trói buộc sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Tính tất yếu khách quan của sự phát triển là nhu cầu giải phóng sức sản xuất

Vào những năm 40 của thế kỷ 19, Mác đã dự báo sự xung đột giữa lực
lợng sản xuất càng ngày càng có tính xã hội hoá cao với quan hệ sản xuất
dựa vào nền tảng của sơ hữu t nhân t bản chủ nghĩa. Sự xung đột nói trên dẫn
tới các cuộc khủng hoảng của nền sản xuất T bản chủ nghĩa. Mác dự báo sự
ra đời tất của của phơng thức sản xuất cao nhất trong lịch sử - phơng thức
sản xuất của chế độ cộng sản văn minh với giai đoạn đầu là thời kỳ quá độ và
giai đoạn tiếp theo là thời kỳ chuẩn bị đầy đủ cơ sở vật chất của chủ nghĩa
cộng sản nhng những cơn biến động của lịch sử, của xã hội hiện đại thấy
rằng phơng thức sản xuất ở các nớc t bản phát triển đã trải qua nhiều giai
đoạn khác nhau với nhiều lần điều chỉnh cơ cáu của quan hệ sản xuất.
Nguyên nhân làm tăng tuổi thọ của chủ nghĩa t bản đợc biểu hiện trớc hết ở
chỗ họ đã mở rộng tới mức tối đa biên độ dao động của chế độ sở hữu t liệu
sản xuất. Nhờ đó, họ đã khắc phục đợc những nhợc điểm của nền kinh tế thị
trờng đó là sự phân hoá lợi ích của ngời lao động. Khái niệm bần cùng hoá
tuyệt đối giai cấp vô sản ở thời kỳ Các Mác đã đợc điều chỉnh thành khái
niệm bần cùng hoá tơng đối. Vai trò điều tiết của các nhà nớc t bản ở thời
kỳ hiện đại là lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để tăng năng
suất lao động, giảm tối đa cờng độ lao động, phát triển phúc lợi xã hội và
làm tăng giá trị gia tăng về lợi ích kinh tế đối với mọi thành viên trong xã
hội. Những khắc phục nói trên xét cho đến cùng là điều chỉnh lại khoảng
cách giữa quan hệ sản xuất và lực lợng sản xuất, làm cho chúng phù hợp tơng đối. Đó là những nguyên nhân cơ bản tạo ra động lực mói cho sự phát
triển của nền kinh tế ở các nớc t bản hiện nay.
3. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu
kinh tế của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định.
Khái niệm cơ sở hạ tầng phản ánh chức năng xã hội của các quan hệ
sản xuất với t cách là cơ sở kinh tế của các hiện tợng xã hội.
Cơ sở hạ tầng của mỗi xã hội cụ thể, trừ xã hội nguyên thuỷ, đều bao
gồm quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuất tàn d của xã hội cũ và quan
hệ sản xuất mầm mống của xã hội tơng lai.

các yếu tố nh triết học, tôn giáo, nghệ thuật chỉ có quan hệ gián tiếp.
Kiến trúc thợng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm hệ t tởng và thể chế của giai cấp thống trị, tàn d của các quan điểm xã hộ trớc để
lại; quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời; quan điểm t tởng và tổ
chức của các tầng lớp trung gian. Song đặc trng là sự thống trị về chính trị t
tởng của giai cấp thống trị.
Trong xã hội có giai cấp, kiến trúc thợng tầng mang tính giai cấp. Đó
chính là cuộc đấu tranh về mặt chính trị t tởng giữa các giai cấp đối kháng,
trong đó, đặc trng là sự thống trị về mặt chính trị- t tởng của giai cấp thống
trị. Nó tiêu biểu cho chế độ chính trị của một xã hội nhất định. Nhờ có nhà

10


nớc, giai cấp thống trị mới thực hiện đợc sự thống trị của mình về tất cả các
mặt của đời sống xã hội.
Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế và nắm giữ chính quyền nhà nớc
thì hệ t tởng cùng những thể chế thì giai cấp ấy cũng giữ địa vị thống trị. Nó
quy định và tác động trực tiếp đến xu hớng của toàn bộ đời sống tinh thần
của xã hội và quyết định cả tính chất, đặc trng cơ bản của toàn bọ kiến trúc
thợng tầng.
Mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng.
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng là hai mặt cấu thành của hình thái
kinh tế - xã hội, chúng thống nhất biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn
nhau, trong đó cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thợng tầng song kiến trúc
thợng tầng có tác động tích cực trở lại cơ sở hạ tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thợng tầng trớc
hết thể hiện ở chỗ: mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thợng
tầng tơng ứng với nó. Tính chất của cơ sở hạ tầng quyết định tính chất của
kiến trúc thợng tầng. Trong xã hội có giai cấp, giai cấp nào thống trị về kinh
tế thì cũng giữ địa vị thống trị về mặt chính trị và đời sống tinh thần của xã

pháp luật chi phối.
Sự tác động của các yếu tố kiến trúc thợng tầng đối với cơ sở hạ tầng thờng diễn ra theo nhiều xu hớng khác nhau. Trong đó, chức năng của kiến
trúc thợng tầng thống trị là xây dựng, củng cố, phát triển và bảo vệ cơ sở hạ
tầng đã sinh ra nó, chống lại mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ
kinh tế đó. Mỗi giai cấp chỉ có thể giữ vững đợc sự thống trị về kinh tế chừng
nào xác lập và củng cố đợc sự thống trị về chính trị, t tởng.
Sự tác động của kiến trúc thợng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo
hai chiều. Nếu kiến trúc thợng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế
khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu tác
động ngợc lại sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm tiến bộ xã hội.
Ví dụ trong xu hớng hội nhập hiện nay nếu chúng ta thực hiện chính
sách bế quan toả cảng, đóng cửa với thế giới bên ngoài thì chắc chắn sẽ
kìm hãm sự phát triển của kinh tế và tiến bộ xã hội và chẳng chóng thì chày,
chính sách đó sẽ bị loại bỏ để thay bằng chính sách hội nhập, mở cửa.
Hay các t tởng tam tòng tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử
tòng tử chỉ phù hợp với chế độ phong kiến. Ngay nay khi công cuộc giải
phóng phụ nữ phát triển mạnh và bình đẳng nam nữ đã đạt đợc nhiều tiến bộ
mà vẫn duy trì và coi đó là thớc đo đánh giá phẩm chất của ngời phụ nữ thì
rõ ràng không phù hợp vì nó đi ngợc lại quy luật tự do của con ngời.
Tuy kiến trúc thợng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển
kinh tế, nhng không làm thay đổi đợc xu hớng phát triển khách quan của xã
hội. Xét cho đến cùng nhân tố kinh tế quyết định kiến trúc thợng tầng, kinh
tế quyết định chính trị. Nếu kiến trúc thợng tầng kìm hãm sự phát triển kinh
tế thì sớm hay muốn, bằng cách này hay cách khác, kiến trúc thợng tầng cũ
sẽ đợc thay thế bằng kiến trúc thợng tầng mới tiến bộ để thúc đẩy kinh tế
phát triển.

12



chủ nghĩa xã hội và bảo vệ đất nớc của nhân dân ta tiến lên một cách
vững vàng.
Chúng ta đang sống thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật và
công nghệ hiện đại, cuộc cách mạng này vừa tạo ra thời cơ thuận lợi cho
phép một quốc gia đã chứng minh. Đó là công cuộc đổi mới công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc. Nói đến tốc độ của quá trình tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá là nói đến cuộc chạy đua về mặt thời gian và
thời đại ngày nay. Là thời thời đại quá độ của chủ nghĩa t bản tiến lên
chủ nghĩa xã hội. Các dân tộc sớm hat muộn đều tiến lên chủ nghĩa xã
hội. Định hớng xã hội chủ nghĩa cho nền kinh tế là đã bao hàm một sự
cam kết về cấp độ, đảm bảo nhanh hơn mọi quá trình tự phát và do đó lực
lợng sản xuất phải đợc phát triển mạnh hơn. Nếu chúng ta tận dụng đợc
thời cơ và vợt qua đợc thách thức thì có thể tạo ra đợc những cơ sở đó
thực hiện sự phát triển rút ngắn bỏ qua chế độ t bản chủ nghĩa trên con đờng đi tới chủ nghĩa xã hội.
Trớc mắt chúng ta phải định hớng và vạch ra một chơng trình cụ
thể trên một lĩnh vực, định hớng lên chủ nghĩa xã hội là cả một quá trình
lâu dài nên Đảng ta đã xác định nhiệm vụ trớc mặt là đổi mới nền kinh
tế, xây dựng một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trờng có sự quản lý nhà nớc. Thực hiện quá trình đổi mới là cả
một quá trình lâu dài nên Đảng và nhà nớc ta đã chủ trơng thực hiện
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nông thôn là một phơng hớng cấp bách.
Nghị quyết Đại hội VIII ghi rõ : Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại

14


hoá đã xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ
thuật hiện đại cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với
sự phát triển của lực lợng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nớc mạnh. Xã hội công bằng

đó, việc tìm ra con đờng hợp lý đa ra những giải pháp thích ứng để đạt
mục tiêu đã xác định có ý nghĩa và càng quan trọng. Dự thảo báo cáo

15


chính trị Đại hội IX xác định con đờng công nghiệp hoá ở nớc ta cần và
có thể rút ngắn thời gian so với những nớc đi trớc. Vừa có những bớc đi
tuần tự vừa có những bớc nhảy vọt. Đại hội III của Đảng đã xác định Sự
kết hợp giữa tuần tự và nhảy vọt . Sự kết hợp tuần tự và nhảy vọt trong
điều kiện hiện nay vẫn phải là kết hợp công nghệ nhiều tầng, một mặt sử
dụng cải tiến và nâng dần công nghệ hiện đại theo trình độ thế giới . Khi
khoa học đã thực sự trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp những yếu tố
của kinh tế trí thức đã xuất hiện sự phát triển các hoạt động kinh tế chủ
yếu dựa vào những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ chúng
ta cần đổi mới kinh tế làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với sự phát triển
của lực lợng sản xuất thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển trải qua hai
cuộc chiến tranh lớn và thời kỳ bao cấp kéo dài lực l ợng sản xuất nớc ta
còn thấp, kém năng suất lao động thấp, lao động thủ công vẫn chiếm đa
số 80% dân làm nông nghiệp do đó cần phải phát triển nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị tr ờng, có sự quản lý của
nhà nớc, cần nâng cao trình độ dân trí tạo điều kiện xây dựng cơ sở hạ
tầng đợc tốt hơn. Trong sự nghiệp phát triển đó nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nớc ta. Con ngời không chỉ là chủ thể
của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết
định sự phát triển của lực lợng sản xuất mà nó còn là chủ thể của quá
trình lịch sử, của tiến bộ xã hội bằng hoạt động lao động sản xuất con
ngời đã cải tạo tự nhiên để thỏa mãn những yêu cầu của mình. Đồng thời
cải tạo cả bản thân con ngời. Trong hoạt động lao động trinh phục tự
nhiên và trên cơ sở đó sáng tạo nên những điều kiện đảm bảo cho sự sinh

thị trờng có sự quản lý của nhà nớc. Ngày nay lực lợng đã mang tính
quốc tế hóa vì vậy đòi hỏi chúng ta phải biết tận dụng sáng tạo quy luật
sự phù hợp của sản xuất vơi tính chất và trình độ lực lợng sản xuất,
chống chủ nghĩa chủ quan duy ý chí trong công cuộc xây dựng và phát
triển kinh tế. Chúng ta phải tập trung vào nhân lực là nhân tố cơ bản của
sự phát triển kinh tế xã hội, đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, công nhân
lành nghề. Cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh trong đó lực l ợng cán bộ
khoa học kỹ thuật đóng vai trò là yếu tố chủ thể của lực lợng sản xuất xã
hội.
Trong thời kỳ hiện nay để phát huy những khả năng tiềm tàng về
vật t, lao động tất yếu, thực hiện nhiều ngành nghề do đó đòi hỏi. Vốn là
khâu quan trọng.
Đi đôi với việc phát triển về vốn chúng ta phải xây dựng một cơ sở
hạ tâng thật tốt. Đối với nớc ta là một nớc bị chiến tranh tàn phá nặng
nay phải xây dựng cơ sở hạ tầng để phù hợp với kiến trúc th ợng tầng. Cơ
sở vật chất của ngành giao thông vận tải là một trong những khâu quan
trọng nhất của kết cấu hạ tầng nó là cửa mở đối với toàn bộ nền kinh tế
xã hội. Vì vậy sự yếu kém của kết cấu hạ tầng là nguyên nhân hạn chế sự
phát triển kinh tế xã hội vừa là hậu quả của một nền công nghiệp ch a
phát triển bên cạnh đó việc mở rộng giao lu quốc tế tiếp cận và vận dụng
những giá trị mới của văn minh nhân loại đây là một vấn đề rất quan

17


trọng. Nền kinh tế nớc ta thị trờng chủ yếu trớc đây là các nớc đông Âu
là Liên Xô cũ nhng thị trờng các nớc XHCN tan rã thì chúng ta đã mất đi
một thị trờng lớn đó là một thiệt thòi lớn đối với chúng ta nhất là trong
thời kỳ chuyển đổi nền kinh tế hiện nay. Vì đòi hỏi nhà nớc phải có
chính sách yêu tiên cho xuất khẩu và chế độ yêu đãi đối với hàng xuất

18


Bám sát thực tế phát hiện, tổng kết và nhân rộng các mô hình điển
hình tiêu biểu cho trí tuệ và sức mạnh của nhân tài.
Xem xét để giải quyết và tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trờng hàng
hoá và dịch vụ lao động , tiền công tiền lơng đầy đủ và bất động sản thị trờng
vốn tiền tệ tín dụng.
Cụ thể hoá luật pháp nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý của nhà nớc .

19


Kết luận
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam là một tất yếu lịch
sử nó nhằm tới mục tiêu rất cụ thể và mang tính cách mạng. Nó làm thay đổi
bộ mặt kinh tế và xã hội đó chính là sự đổi mới với hình thái kinh tế xã hội .
Nói cách khác sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc thúc đẩy sự
phát triển không ngừng và ngày càng tiến bộ của lực lợng sản xuất, quan hệ
sản xuất, kết cấu thợng tầng, đó là một sự thay đổi mới hàng loạt các vấn đề
cả về lý luận thực tiễn, về kinh tế và chính trị xã hội. Nó bảo vệ và phát triển
chủ nghĩa Mác Lênin, t tởng Hồ Chí Minh trong hoàn cảnh điều kiện mới.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhằm mục tiêu biến đổi
nớc ta thành một nớc công nghiệp cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu
kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp sự phát triển sản xuất,
nguồn lực con ngời đợc phát huy mức sống vật chất tinh thần đợc nâng cao
quốc phòng và an ninh ổn định vững chắc làm cho dân giàu nớc mạnh xã hội
công bằng và văn minh.
Nh vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình lâu dài để tạo ra sự
chuyển đổi cơ bản toàn bộ bộ mặt nớc ta về kinh tế chính trị và quốc phòng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status