1.Tên sáng kiến
. “Một
số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài tập làm văn trong
chương trình Ngữ văn 8 ”
1
MC LC
i.phần mở đầu
1.Mục đích ca sỏng kin.............................................................................................
2.Đóng góp về mặt khoa học, kinh tế, xã hội của đề tài
ii.phần nội dung.
Chng 1: C s khoa hc ca sỏng kin................................................................
1. C s lớ lun ca sang kin.......................................................................................
2. C s thc tin ca sang kin...................................................................................
Chng 2: Thc trng vn m sang kin cp.....................................................
Chng 3: Nhng gii phỏp mang tớnh kh thi
Gii phỏp 1: i vi giỏo viờn.............................................................................
Gia phỏp 2: i vi hc sinh
Chng 4: Kim chng cỏc gii phỏp c trin khai...
Phn 3. Kt lun.
1 Nhng vn quan trng nht c cp ca sỏng kin ......................................
2.Hiu qu thit thc ca sỏng kin nu c trin khai.............................................
3.Kin ngh...................................................................................................................
4.Ph lc.......................
.T liu tham kho
Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy, chưa cần đọc đã
thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn thế người viết không chỉ phải
chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ ràng.
Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng được
những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn còn hiện
tượng lạc đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đoạn văn trong bài
thường sai quy cách. Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết.
Do đó tôi thấy cần phải tìm tòi, nghiên cứu để tìm ra giải pháp tốt giúp học sinh
làm tốt bài tập làm văn. Qua thời gian tìm tòi và vận dụng, cho đến nay tôi đã tìm
được cho mình một cách làm mang lại hiệu quả cao. Trong cách làm đó vấn đề tích
hợp có vai trò rất quan trọng. Đó cũng là yêu cầu của dạy học Ngữ văn hiện nay.
Cũng chính xuất phát từ đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào
thực tế giảng dạy “Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài làm văn trong
chương trình Ngữ văn lớp 8 tại trường THCS ”.
Thực tế cũng đã kiểm chứng điều đó. Sau khi áp dụng các biện pháp này tôi thấy
kết quả rõ rệt qua 2 năm học là 2013- 2014 và 2014-2015. Học sinh khối 8 trường
THCS Trung Kênh không còn sợ các bài tập làm văn nữa mà các em đã trở lên hào
hứng và có kết quả khá tốt.
4
2. Đóng góp của sáng kiến:
Khi chọn hướng nghiên cứu “Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài
tập làm văn trong chương trình Ngữ văn 8 ” với mục đích cung cấp cho học sinh
một con đường nhanh và dễ để tạo lập văn bản trong khi làm bài viết. Đồng thời
giúp cho bản thân tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề: Tìm hiểu đề, viết đoạn văn trong
văn bản tự sự, liên kết đoạn văn trong văn bản tự sự từ đó hình thành cho mình kĩ
năng để góp phần làm tốt bài văn. Ngoài ra với mục đích để trao đổi với đồng
nghiệp để cùng nhau bổ khuyết, xây dựng cho giải pháp càng hoàn thiện hơn trong
quá trình áp dụng.
viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể chuyện, biểu cảm, nghị luận, ...
Trong quá trình tham gia vào các hoạt động học tập này, học sinh với vốn kiến thức
còn hạn chế nên thường ngại nói, ngại viết.
2. Cơ sở thực tiễn của sáng kiến:
Trong các phân môn Ngữ văn thì phân môn Tập làm văn là khó hơn cả. Khó
với học sinh vì yêu cầu tạo lập văn bản hoàn chỉnh. Mà muốn tạo lập được một văn
bản đòi hỏi phải rèn luyện và tích luỹ. Khó với bản thân giáo viên giảng dạy bởi
nếu chỉ dạy cho học sinh hiểu thì quá đơn giản. Nhưng dạy làm sao để biến thành
các kĩ năng khi làm bài văn và làm được tốt các bài văn theo chương trình là vấn đề
khá khó khăn. Học sinh xã Trung Kênh từ trước tới nay được đánh giá là hiếu học
nhưng lại chỉ thích học các môn tự nhiên . Với môn Ngữ văn thì các em đều rất
ngại hoc, lười học và lười làm . Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung chung,
lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề. Có bài chỉ viết được 7 đến 8
dòng là hết, có nhiều em không biết mở bài, không biết xây dựng ý, không có kĩ
6
nẵng viết bài, không có định hướng khi làm bài… Do đó kết quả của bộ môn còn
không cao. Điều này khiến bản thân tôi cảm thấy rất trăn trở. Giờ học Tiếng việt và
giảng văn học sinh rất hào hứng, giờ học lí thuyết tập làm văn học sinh hiểu bài vây
sao kết quả thi lại không cao.
Chính từ thực tiễn đó nên tôi đã tìm tòi suy nghĩ, tham khảo ý kiến
của đồng nghiệp và nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của từng học sinh . Từ đó đã tìm
được các giải pháp khả thi. Sau gần hai năm thực hiên đã thu được kết quả khá tốt
đẹp.
Chương 2: Thực trạng vấn đề mà sáng kiến đề cập:
Nhà văn hoá lớn của nhân loại Lê-nin từng nói:"Văn học là nhân học" vậy mà
một thực trạng đáng lo ngại là học sinh bây giờ không còn thích học văn. Thực
trạng này lâu nay đã được báo động. Ban đầu chỉ đơn thuần là những lời than thở
với nhau của những người trực tiếp giảng dạy môn văn và nay đã trở thành vấn đề
khôi phục sự quan tâm của xã hội đối với các bộ môn khoa học xã hội, không thể
chỉ bằng biện pháp kêu gọi mà chúng ta phải tích cực đổi mới phương pháp dạy
học văn, khơi gợi lại hứng thú học văn của học sinh, hình thành cho các em
phương pháp học văn hiệu quả nhất.
Số liệu thống kê chất lượng bài làm văn của HS khi chưa áp dụng SKKN
* KÕt qu¶ khảo sát đầu n¨m häc 2013-20014:
Líp
Giái
Sĩ số
Kh¸
T.B
Yªó
SL
%
SL
%
SL
%
0
2
5,7
22
62.9
11
31,4
8
Cộng
73
0
0
11
15,1
còn phải phụ giúp gia đình ngoài giờ lên lớp, ít có thời gian học bài ở nhà , để đọc
các tài liệu tham khảo, mở rộng hiểu biết.
9
- Đời sống văn hóa tinh thần ngày một nâng cao, một số nhu cầu giải trí như xem ti
vi, chơi game . . . ngày càng nhiều làm cho một số em chưa có ý thức học bị lôi
cuốn, sao nhãng việc học tập
- Xã nằm xa trung tâm, nhà trường lại chưa đủ hệ thống sách tham khảo để phục vụ
việc dạy học nên các em không có đủ tài liệu để tham khảo. Vì vậy các em chỉ có
thể nắm bắt được những gì SGK cung cấp.
Thêm vào đó, nhiều học sinh chưa chú ý đến việc học, về nhà không làm bài nên
khi làm bài thường vụng về, lúng túng … khi viết văn.
Với những khó khăn như vậy, mỗi giáo viên dạy Ngữ văn phải tìm biện pháp giúp
học sinh nắm và làm tốt bài tập làm văn. Cũng chính từ sự băn khoăn, trăn trở:
“Làm sao giúp học sinh làm tốt bài tập làm văn ?”. Qua quá trình dạy học, quá trình
tìm tòi tôi đã có được những biện pháp giúp học sinh làm tốt bài tập làm văn trong
chương trình Ngữ văn 8.
Trong những biện pháp đó, việc động viên khích lệ về tinh thần cũng như vật chất
(điểm số) là rất quan trọng.
Sau đây tôi xin trình bày “ Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài tập làm văn
trong chương trình Ngữ văn 8 ở trường THCS Trung Kênh”.
Chương 3:Những giải pháp ( biện pháp) mang tính khả thi
Khi dạy học sinh viết văn , giáo viên cần chú trọng cho học sinh khai thác cái đẹp,
cái hay của tác phẩm về nội dung và nghệ thuật có liên quan, thấy được chiều sâu
tư tưởng của tác giả gửi gắm vào đấy để từ đó giúp học sinh có kĩ năng sống phù
hợp với xã hội hiện đại, sống có trách nhiệm với mọi người, biết rung động cảm thụ
11
quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc lệch đề nên bài văn thường không có
điểm cao.
Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh
được việc lạc đề, lệch đề. Từ đó bài văn sẽ tốt hơn.
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện
thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài
học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kĩ năng cần thiết trước khi viết bài.
Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo viên
phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người giáo viên nên
tận dụng thời gian để cho các em luyện tập.
Ví dụ:
Như ra đề rồi yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, trong các
đề có trong SGK, …
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc
nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chân những từ
cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu
của đề; xác định ba yêu cầu của đề.
Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu
của đề bài:
- Kiểu bài: Tự sự hay miêu tả, tường thuật hay giải thích, …
Lời yêu cầu về kiểu bài: theo lối trực tiếp – nói thẳng (như hãy kể … ) hay lời yêu
cầu gián tiếp – nói vòng (như Em thấy mình đã khôn lớn … )
- Đề bài và giới hạn: học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ để xác định giới hạn
của đề bài. Chỉ một sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài cũng có thể
dẫn các em từ tản mạn, xa đề đến lạc đề…
Ví dụ :
Cho đề bài: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu.
Khi trả bài, chữa bài giáo viên cũng sẽ lập dàn ý mẫu cho học sinh để từ bài viết
sau học sinh vận dụng và làm theo. Với học sinh làm bài có kết quả kém thì yêu câu
13
dựa vào dàn ý cô giáo đã chữa để viết lại và giáo viên sẽ kiểm soát bài của các em.
Từ đó học sinh sẽ khắc sâu kiến thức và kĩ năng viết bài.
Mở bài: Cảm nhận chung: - Trong đời học sinh, ngày đầu tiên bao giờ cũng để lại
dấu ấn sâu đậm nhất.
Thân bài: Diễn biến của buổi khai trường đầu tiên:
+ Đêm trước ngày khai trường:
-
Bố mẹ chuẩn bị cho em đầy đủ sách vở và quần áo mới.
-
Tâm trạng em nôn nao náo nức lạ thường.
+ Trên đường đến trường:
-
Tung tăng đi bên cạnh mẹ, nhìn cái gì cũng thấy đẹp đẽ, đáng yêu( bầu
trời, mặt đất, con đường,….)
-
Thấy ngôi trường thật rộng lớn còn mình thì thật là nhỏ bé.
-
giỏi để cha mẹ vui lòng.
Học sinh có thể viết kỉ niệm ngày đầu tiên đi học theo hướng khác nhưng các ý
phải sắp xếp theo trình tự hợp lí và đó phải là những kỉ niệm trong sáng.
Ví dụ 2: Lập dàn ý cho đề bài sau: Nếu là người được chứng kiến cảnh lão Hạc kể
lại chuyện bán chó với ông giáo (trong tác phẩm “Lão Hạc” của Nam Cao) thì em
sẽ ghi lại câu chuyện đó như thế nào?
14
Cũng là văn tự sự nhưng đây là môt bài văn kể theo sự tưởng tượng với cốt truyện
có sẵn. Cần thay đổi ngôi và tìm ra tình huống truyện sao cho hợp lí nhất.
Mở bài: Giới thiệu chung:
- Nêu ra tình huống được chứng kiến câu chuyện( có thể đóng vai một người hàng
xóm của lão Hạc hay đóng vai con ông giáo,…..)
Thân bài: Trình bày chi tiết cuộc trò chuyện giữa ông giáo và lão Hạc.
- Lão Hạc sang nhà ông giáo với vẻ mặt đau khổ.
- Lão Hạc kể lại chuyện bán con chó Vàng cho ông giáo nghe.
- Tâm trạng của lão Hạc và tâm trạng của ông giáo lúc đó.
- Ông giáo an ủi và cố gắng làm cho lão cảm thấy khuây khoả.
- Lão Hạc nhờ ông giáo hai việc.
- Tâm trạng của em khi chứng kiến cuộc trò chuyện đó.
Kết bài: Cảm nghĩ của em:
- Lão Hạc là người cha rất thương con và giàu đức hi sinh.
- Số phận hẩm hiu của lão Hạc cũng là số phận chung của nông dân Việt Nam
trước cách mạng tháng Tám 1945.
Ví dụ 3: Khi làm bài văn thuyết minh cũng vậy cần lập dàn ý xong mấy viết bài.
Bài viết sẽ mạch lạc và khoa học.
Đề bài: Thuyết minh về chiếc bút máy
Học sinh đọc đề bài xong tìm hiểu đề nắm rõ đối tượng rồi sẽ đi tìm ý như sau:
- Cấu tạo của bút máy
khác nhau: đoạn văn quy nạp, song hành, tổng phân hợp, diễn dịch.
Khi chấm bài của học sinh giáo viên chấm chữa tỉ mỉ và chu đáo. Chữa cho
học sinh từ các lỗi chính tả đến lỗi diễn đạt câu văn. Cách liên kết các câu văn và
đoạn văn.
Chú ý đến cấu trúc bắt buộc của một bài văn bất kì là đầy đủ cả ba phần mở,
thân và kết.
Cần nhắc nhở học sinh về cách trình bày và rèn chữ để kết quả cao hơn trong
bộ môn ngữ văn.
16
Đặc biệt rèn kĩ năng viết mở bài và kết bài cho học sinh. Một bài văn hay và
đúng sẽ được thể hiện ngay ở phần mở bài. Cần tạo cho học sinh những hướng mở
bài riêng không nên quá khuôn mẫu và sáo rỗng sẽ rất nhàm chán. Đặc biệt với
những đối tượng khá và giỏi cần tạo lập được những mở bài đặc sắc. Muốn vậy
giáo viên cũng phải thường xuyên rèn luyện kĩ năng này cho các em.
4. Đọc và sửa lại bài:
Học sinh thường bỏ qua bước này trong quá trình học tập.Nhưng đây cũng là
bước quan trọng và không thể bỏ qua để bài văn đạt kết quả cao nhất. Học sinh khi
đọc lại bài viết của mình sẽ nhận ra ngay các lỗi sai về chính tả và lỗi diễn đạt. Lỗi
sai nào sửa được học sinh sẽ sửa ngay còn với những lỗi không sửa được thì học
sinh ghi nhớ và không mắc sai phạm ở các bài văn tiếp theo.
5. Rèn luyện kĩ năng thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình học tập: Học
cần đi đôi với hành.
Để khắc phục được khó khăn đó và cho học sinh thực hiện tốt bước này tôi đã kết
hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em để hướng dẫn và cho các em thực
hành.
Ví dụ 1:
Khi dạy xong tiết 8 – Bố cục của văn bản, trước khi đi vào làm bài tập trong SGK
giáo viên có thể cho học sinh thực hành viết đoạn văn giáo viên cũng cần chia làm
khác nhận xét. Sau đó giáo viên kết luận về nội dung, chủ đề và hình thức trình bày.
Bài của những học sinh còn lại giáo viên thu để về nhà xem (học sinh chưa viết
xong thì thu lại ở tiết sau).
Ví dụ 5:
Khi dạy xong tiết 25 - 26, Đánh nhau với cối xay gió, giáo viên yêu cầu học sinh
về nhà viết đoạn văn với gợi ý: Sự tương phản giữa Đôn - ki - hô - tê và Xan - chô
- Pan - xa.
Đến tiết 28, bài 7 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu
cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày đoạn văn.
18
Trên cơ sở đó ở tiết 28 này học sinh viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và
biểu cảm là rất dễ.
Khi học sinh luyện viết đoạn văn có thể có lỗi về câu và chính tả do học sinh tự
sắp xếp vì vậy giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh sửa lỗi về câu và chính tả.
Có thể nói việc luyện viết đoạn văn tự sự là rất cần thiết, học sinh viết tốt đoạn
văn tự sự có nghĩa là học sinh đã nắm được những yêu cầu của đoạn văn. Trên cơ
sở đó khi học văn bản thuyết minh và văn nghị luận học sinh sẽ viết tốt đoạn văn đó là một trong những tiền đề để học sinh làm tốt các kiểu văn bản khác.
6. Liên kết đoạn văn trong văn bản:
Một bài văn được tạo thành bởi nhiều đoạn văn liên kết lại với nhau. Bài văn là
một chỉnh thể hoàn chỉnh nên giữa các đoạn văn cần có sự liên kết với nhau. Liên
kết đoạn văn nhằm mục đích làm cho ý của cả đoạn vừa phân biệt nhau vừa liền
mạch với nhau một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản. Muốn vậy, phải tạo
mối quan hệ ngữ nghĩa chặt chẽ, hợp lí giữa các đoạn văn với nhau và sử dụng các
phương tiện liên kết phù hợp.
Trong chương trình ngữ văn 8 học sinh đã được học “Liên kết các đoạn văn
trong văn bản” ở tiết 16, bài 4.
Trên cơ sở bài học này giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành việc liên kết đoạn
văn do các em tạo ra.
tinh thần cho các em.
Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các em về
nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).
Ví dụ 3:
Ở bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sư (tiết 24, bài 6), khi dạy đến phần
luyện tập, giáo viện cho học sinh làm bài tập 1 và đọc phần đọc thêm ở trên lớp.
Còn bài tập 2 - “viết một đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi em gặp lại
một người thân” thì giáo viên cho học sinh về nhà làm. Giáo viên yêu cầu học sinh
viết thành 2 đoạn văn đoạn trong đó có các phương tiện liên kết.
20
Đến tiết 28, bài 7 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu
cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày bài của mình rồi giáo viên nhận xét. Sau đó
thu bài về nhà chấm và sửa cho học sinh.
Ví dụ 4:
Văn bản Đánh nhau với cối xay gió (Xéc - van - téc) có hai nhân vật Đôn - ki - hô
- tê và Xan - chô - Pan - xa tương phản nhau về mọi mặt. Vậy sau bài học đó giáo
viên yêu cấu học sinh viết 2 đoạn văn nói về hai nhân vật (hai đoạn có quan hệ đối
lập).
Ví dụ 5:
Học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 13 -14, bài 4), học sinh biết rằng
chị Dậu và lão Hạc là những con người tiêu biểu cho tầng lớp nông dân Việt Nam
trước cách mạng tháng 8. Giáo viên có thể cho học sinh viết hai đoạn văn nói về số
phận và tính cách của người nông dân (thông qua lão Hạc và chị Dậu).
Có thể nói rằng để viết được một bài văn đúng và hay là rất khó, bởi ngoài việc có
kiến thức vững vàng nó còn đòi hỏi người viết phải vận dụng nhiều kĩ năng khác
nhau. Nhìn chung các kĩ năng đó các em đã được học nhưng do đặc điểm lứa tuổi,
cũng như thời gian thực hành còn hạn chế nên người giáo viên phải có biện pháp
giúp các em thành thạo những kĩ năng đó mới mong các em vận dụng tốt được.
%
SL
%
2
5.3
12
31.6
17
44.7
7
18.4
21
8C
35
1
15
20.5
* KÕt qu¶ häc kú II, n¨m häc 2013-2014:
Líp
Giái
Sĩ số
Kh¸
T.B
Yªó
SL
%
SL
%
SL
%
8.6
6
17.1
22
62.9
4
11.4
Cộng
73
9
12.3
17
23.3
39
53.4
%
8B
35
6
17,1
13
37,1
13
37,1
3
8,7
8D
33
5
15,2
8,8
Sau một thời gian nhận thấy thực trạng bài làm văn của học sinh lớp 8 trường
THCS Trung Kênh. Tôi đã kịp thời tìm ra nguyên nhân bài làm văn của các em đạt
kết quả chưa cao. Tôi nhanh chóng tìm ra giải pháp của bản thân cá nhân tôi mong
rằng chất lượng bài làm của các em từng bước nâng cao dần lên. So với chất lượng
những năm trước thì chất lượng hai năm học gần đây (2013-2014; 2014-2015) đã
có bước chuyển biến đáng kể cụ thể giảm tối đa hoc sinh yếu kém.
Tuy nhiên kết quả như vậy chưa phải là cao nhưng đó cũng là một sự thay đổi chất
lượng bài làm của các em.
Phần 3. KẾT LUẬN:
22
1. Những vấn đề quan trọng nhất được đề cập đến của sáng kiến:
Việc giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS nhằm đạt hiệu quả cuối cùng
là học sinh biết tự luận – tức là biết cách làm một bài văn trên cơ sở tổng hợp mọi
kiến thức của các bộ môn. Để làm được việc đó, học sinh ngoài việc cần nắm
được đầy đủ các bước cần thiết như: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý...thì còn cần có
kĩ năng làm văn sao cho mang lại hiệu quả cao nhất.
Để trở thành người thợ giỏi ở bất cứ một ngành nghề nào cũng vậy người thợ
cũng phải trải qua quá trình học tập và rèn luyện lâu dài. Để viết tốt một bài văn
cũng vậy, học sinh phải trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc có sự hướng dẫn
của giáo viên.
Trong quá trình dạy, giáo viên giúp học sinh nhớ lại những kiến thức cũ
đã học về văn tự sự đã học ở lớp 6 bằng các tình huống có vấn đề trong các tiết lí
thuyết.
Để áp dụng có hiệu quả những biện pháp này, người giáo viên thực sự tâm huyết,
có tinh thần trách nhiệm, dành thời gian nhiều. Do học sinh phải thực hiện phần bài
đồng nghiệp, có thể vẫn còn hạn chế. Vậy tôi mong được tiếp thu ý kiến đóng góp
của BGH, Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học của Phòng Giáo
dục - Đào tạo để từ đó có thể trao đổi, rút kinh nghiệm giúp tôi nâng cao chất lượng
giảng dạy ở bộ môn.
Trong dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, người giáo viên phải
luôn không ngừng tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ nhận thức và trình độ
chuyên môn. Sự sáng tạo là yêu cầu cần phải có của người giáo viên khi làm công
tác dạy học. Trên cơ sở đó giúp học sinh của mình tiếp thu bài, hình thành kĩ năng,
kĩ xảo tốt hơn.
Tuy nhiên khi áp dụng những biện pháp nào đó thì giáo viên phải tìm hiểu kĩ
những hạn chế của học sinh mình. Nếu thành công sẽ là động lực rất lớn làm cho
người giáo viên tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong việc sáng tạo.
24
Ngi giỏo viờn cn ý thc c vai trũ ca mỡnh. Khi lờn lp giỏo viờn phi cú
tinh thn trỏch nhim cao. Nh vy mi cú th tn tõm, mi vui bun khi hc sinh
lm bi tt hay khụng tt. ú l ng lc giỳp giỏo viờn tỡm tũi, sỏng to trong
cụng tỏc ca mỡnh. Nh vy m hc sinh lnh hi tri thc tt hn.
Phi núi rng qua vic thc hin ti ny tụi ó rỳt ra c cho mỡnh rt nhiu
bi hc t vic xỏc nh kin thc b sung, son giỏo ỏn cho n vic ging dy.
2. Kin ngh vi cỏc cp qun lý:
Trờn õy la nhng nh hng ca bn thõn v Mt s bin phỏp giỳp hc
sinh lam tt bai tp lam vn trong chng trinh Ng vn 8 c rut ra trong
qua trinh ging day. Tuy nhiờn viờc vn dng phng phap day hoc cú hiờu qu
hay khụng cũn tựy thuục vao kh nng ca mi giao viờn, ụi tng hoc sinh
tng a phng Vi th trong qua trinh day hoc, mi giao viờn cn linh hoat
trong viờc thit k bai ging, linh hoat s dng phng phap va cac hinh thc t
chc day hoc, phat huy tụi a kh nng tim tũi sang tao ca hoc sinh trong gi