Mối quan hệ giữa các điều khoản hợp đồng tín dụng nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh đông sài gòn - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------------------

TRẦN THỊ THẤM

Mối Quan Hệ Giữa Các Điều Khoản Hợp Đồng Tín Dụng:
Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Ngân Hàng TMCP Đầu Tư Và
Phát Triển Việt Nam- Chi Nhánh Đông Sài Gòn

Chuyên ngành:Tài chính – Ngân hàng
Mã số chuyên ngành:60 34 02 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Phạm Phú Quốc

TP. Hồ Chí Minh, Năm 2015

ii


TÓM TẮT
Luận văn này được thực hiện nhằm tìm hiểu liệu có sự tác động qua lại giữa
các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, đó là lãi suất vay, kỳ hạn vay, tỉ lệ tài sản
đảm bảo và giá trị khoản vay. Đồng thời, luận văn cũng khảo sát những yếu tố bên
ngoài hợp đồng, như nhóm yếu tố đại diện cho tính chất khách hàng vay, nhóm yếu
tố đại diện cho mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, hay yếu tố đại diện cho
kinh tế vĩ mô tác động đến các điều khoản trong hợp đồng.
Nghiên cứu được thực hiện trên mẫu 1358 hợp đồng tín dụng được ký kết giữa
ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam- chi nhánh Đông Sài Gòn với đối

diện được khách hàng vay, tạo sự ràng buộc người đi vay và giúp hạn chế rủi ro tín
dụng. Còn đối với người đi vay, họ hiểu rằng điều khoản kỳ hạn vay và giá trị khoản
vay tùy thuộc vào nhu cầu của họ. Dựa trên nhu cầu này, ngân hàng sẽ đưa ra các
điều kiện về lãi suất vay và tài sản đảm bảo. Khi hiểu được mối quan hệ này, người
đi vay có thể lựa chọn và quyết định để có được các điều khoản tốt nhất.

iv


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan .............................................................................................................i
Lời cảm ơn ................................................................................................................ii
Tóm tắt .................................................................................................................... iii
Mục lục ...................................................................................................................... v
Danh mục bảng .................................................................................................... viii
Danh mục từ viết tắt ................................................................................................ix
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ............................................................ 1
1.1 Giới thiệu ................................................................................................ 1
1.2 Lý do nghiên cứu .................................................................................... 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................. 5
1.4 Mục tiêu nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu........................................ 7
1.5 Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ....................................................... 8
1.5.1 Dữ liệu nghiên cứu..................................................................... 8
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu ........................................................... 8
1.6 Kết cấu của luận văn ................................................................................ 8
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN ...................................................................................... 9
2.1 Giới thiệu ................................................................................................ 9
2.2 Lý thuyết và bằng chứng về mối quan hệ giữa các điều khoản hợp đồng

3.3.4.6 Tác động của biến đại diện yếu tố vĩ mô (GDP) đến các biến
phụ thuộc .................................................................................. 39
Chương 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................... 40
4.1 Thống kê mô tả và phân tích tương quan .............................................. 40
4.1.1 Thống kê mô tả .......................................................................... 40
4.1.2 Phân tích tương quan ................................................................. 44

vi


4.2 Kết quả nghiên cứu ................................................................................ 44
4.2.1 Nhận xét chung .......................................................................... 45
4.2.2 Kết quả kiểm tra sáu giả thuyết nghiên cứu............................... 47
4.2.3 Kết quả chạy mô hình đối với các biến độc lập ......................... 50
4.3 Kiểm tra tính vững của mô hình ............................................................ 54
4.3.1 Kiểm tra mô hình trong trường hợp khoản vay ngắn hạn .......... 54
4.3.2 Kiểm tra mô hình trong trường hợp công ty có tỉ lệ dư nợ tại
BIDV nhỏ hơn 1 ....................................................................... 55
Chương 5: KẾT LUẬN .......................................................................................... 57
5.1 Giới thiệu ............................................................................................... 57
5.2 Khái quát lại câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và kết quả tìm
được .................................................................................................. 57
5.3 Những đóng góp chính của luận văn ..................................................... 69
5.4 Những hạn chế của đề tài....................................................................... 60
5.5 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo ...................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 62
PHỤ LỤC ................................................................................................................ 70
PHỤ LỤC 1.............................................................................................................. 70
PHỤ LỤC 2.............................................................................................................. 73
PHỤ LỤC 3.............................................................................................................. 74

viii


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BIDV
CIC

Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Trung tâm thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (Credit Information
Center)

CIF

Mã số nhận diện khách hàng (Customer identified figure)

Ctg

Các tác giả

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)

KH

Khách hàng

OLS

Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất thông thường

bao gồm lãi suất vay, kỳ hạn vay, tài sản đảm bảo, các giao ước và giá trị khoản vay.
Lý do chọn đề tài sẽ được trình bày trong phần 1.2, phần 1.3 sẽ giới thiệu câu hỏi
nghiên cứu. Mục tiêu chính của bài cùng những giả thuyết đặt ra để trả lời cho câu
hỏi nghiên cứu sẽ được trình bày ở phần 1.4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
được sử dụng trong bài sẽ trình bày ở phần 1.5. Cuối cùng, kết cấu chính của luận
văn được thể hiện ở phần 1.6.
1.1 Giới thiệu
Đối với các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, có thể nói rằng hoạt
động tín dụng là hoạt động mang lại lợi nhuận chủ yếu. Các báo cáo tài chính cho
thấy thu nhập từ lãi luôn lớn hơn thu nhập từ các nguồn khác. Tuy nhiên, hoạt động
tín dụng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro. Và để hạn chế những rủi ro này, ngân hàng
thường chú trọng công tác thẩm định tín dụng. Công tác thẩm định tín dụng sẽ giúp
ngân hàng đánh giá năng lực tài chính cũng như uy tín của khách hàng, đánh giá chất
lượng dự án, từ đó quyết định có cho vay hay không. Nếu quyết định cho vay, ngân
hàng và khách hàng sẽ tiến hành ký kết hợp đồng tín dụng để ràng buộc trách nhiệm
pháp lý giữa các bên.
Hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân hàng và khách hàng
vay, theo đó, ngân hàng ứng trước một số tiền cho khách hàng sử dụng trong một
thời hạn nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (BIDV, 2009). Hợp đồng
tín dụng bao gồm điều khoản giá và điều khoản phi giá (Strahan, 1999; Gottesman,
2006). Các điều khoản giá bao gồm lãi suất vay và các khoản phí. Các điều khoản
phi giá bao gồm tài sản đảm bảo, kỳ hạn vay, các giao ước và giá trị món vay (Ball
và ctg, 2008).

1


Lãi suất vay chính là giá cả mua bán tiền vốn (Gottesman, 2006). Tài sản đảm
bảo tiền vay là tài sản của khách hàng vay, tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản
của bên thứ ba dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng (BIDV,



1.2 Lý do nghiên cứu
Như đã đề cập ở trên, hợp đồng tín dụng là thỏa thuận bằng văn bản giữa ngân
hàng và khách hàng trong việc chuyển quyền sử dụng vốn. Hợp đồng tín dụng khi
được ký kết sẽ có giá trị pháp lý đối với các bên tham gia, buộc họ phải thực hiện các
cam kết trong hợp đồng. Mọi sự vi phạm đều bị xử lý theo pháp luật. Như vậy, hợp
đồng tín dụng rất quan trọng đối với cả ngân hàng và khách hàng. Tác động cụ thể
của hợp đồng tín dụng thể hiện qua các điều khoản trong hợp đồng. Do đó, hiểu được
mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng và tác động của các yếu tố bên ngoài
lên các điều khoản này sẽ giúp cả ngân hàng và khách hàng thỏa thuận được những
điều khoản tốt nhất và hạn chế rủi ro.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về những yếu tố tác động lên các điều
khoản trong hợp đồng tín dụng. Người đi vay và người cho vay sẽ thương lượng
những điều khoản trong hợp đồng của họ thành một gói để chứa những điều khoản
tối ưu (Melnik và Plaut, 1986). Điều này làm nảy sinh ý tưởng nghiên cứu là xác định
ảnh hưởng của điều khoản này lên các điều khoản khác trong một hợp đồng ( Dennis
và ctg, 2000). Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào ba điều khoản là lãi suất
vay, kỳ hạn vay và tài sản đảm bảo, còn những điều khoản khác như các giao ước và
giá trị khoản vay thì không được nghiên cứu.
Những nghiên cứu sau này cũng đã ý thức được việc xác định đồng thời các
yếu tố trong hợp đồng vay bằng cách sử dụng mô hình phương trình đồng thời (như
nghiên cứu của Phạm Thị Thu Trà và Lensink, 2008; Brick và Palia, 2007), hoặc
kiểm tra bằng những thử nghiệm (như thử nghiệm của Wittenberg- Moerman, 2009;
Bharath và ctg, 2011). Tuy nhiên, hầu hết họ chỉ tập trung vào ba điều khoản chính
là lãi suất vay, kỳ hạn vay và tài sản đảm bảo. Một số nghiên cứu khác có đề cập đến
mối quan hệ giữa lãi suất vay, kỳ hạn vay, tài sản đảm bảo với điều khoản các giao
ước và giá trị khoản vay như tìm hiểu mối quan hệ giữa lãi suất và các giao ước
(Vasvari, 2008); lãi suất vay, các giao ước và kỳ hạn vay (Brav và ctg, 2009); lãi suất
vay, các giao ước và giá trị khoản vay (Champagne và Kryzanowski, 2009). Tuy

bản thân cán bộ tín dụng cũng coi trọng nhất là yếu tố tài sản đảm bảo, các điều khoản
còn lại chỉ là phụ. Họ chưa nhận thức được tác động qua lại giữa các điều khoản này.
Do đó, khi lập hợp đồng tín dụng, cả ngân hàng và khách hàng chưa đạt được những
điều khoản tốt nhất.

4


Với những kết luận chưa thống nhất về mặt nghiên cứu học thuật và quan điểm
như trên tồn tại trong thực tế, đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa các điều khoản
hợp đồng tín dụng: nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát
triển Việt Nam- chi nhánh Đông Sài Gòn” là hết sức cần thiết và khả thi để thực
hiện.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Các điều khoản trong hợp đồng tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc
thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Việc tìm hiểu mối quan hệ giữa các
điều khoản trong hợp đồng tín dụng và những yếu tố nào tác động đến các điều khoản
này ngày càng được chú trọng. Bằng chứng là trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu
tìm hiểu về các điều khoản trong hợp đồng tín dụng và các yếu tố ảnh hưởng đến
những điều khoản này. Tuy nhiên, kết quả đưa ra vẫn chưa có sự thống nhất.
Ví dụ về mối quan hệ giữa tài sản đảm bảo và lãi suất vay, có quan điểm cho
rằng mối quan hệ này là nghịch biến (Bester, 1985). Với những khách hàng có năng
lực tài chính kém, tài sản đảm bảo ít thì họ sẵn sàng chấp nhận chịu lãi suất cao để
vay được vốn. Còn với những khách hàng có tình hình tài chính tốt, họ muốn cung
cấp tài sản đảm bảo nhiều hơn để được hưởng lãi suất ưu đãi. Trong khi đó lại có
quan điểm phản biện rằng các ngân hàng đồng thời yêu cầu tài sản đảm bảo và tính
lãi suất vay cao đối với những khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao (Pozzolo, 2002). Hơn
nữa, quan điểm này cũng cho rằng các doanh nghiệp nhỏ bị coi là có rủi ro cao hơn
các doanh nghiệp lớn, do đó ngân hàng sẽ đòi hỏi tài sản đảm bảo và lãi suất vay cao.
Mối quan hệ giữa kỳ hạn vay và lãi suất vay trong các nghiên cứu trước cũng

vay cũng bị tác động trở lại bởi những điều khoản trong hợp đồng vay. Do đó, các
nghiên cứu này xem giá trị khoản vay như một biến phụ thuộc trong hệ thống các
điều khoản chính của hợp đồng (Midle và Riley, 1988; Bae và Goyal, 2009; Santos,
2011).
Từ những kết luận chưa có sự thống nhất như trên và liên hệ với tình hình thực
tế tại nơi tác giả công tác đã làm nảy sinh câu hỏi nghiên cứu:
RQ1: Các điều khoản hợp đồng tín dụng như lãi suất vay, kỳ hạn vay, giá trị
khoản vay và tài sản đảm bảo có mối quan hệ với nhau không?
RQ2: Nếu có thì mối quan hệ đó là thay thế hay bổ trợ cho nhau?

6


1.4 Mục tiêu nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên hai câu hỏi nghiên cứu của phần 1.3, luận văn mong muốn đạt được
mục tiêu xác định mối quan hệ giữa bốn điều khoản trong hợp đồng tín dụng (lãi suất
vay, kỳ hạn vay, tỉ lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay). Và để trả lời cho hai câu
hỏi nghiên cứu này, các giả thuyết sau được đặt ra:
Những khoản vay dài hạn được cho là có rủi ro cao hơn nên ngân hàng thường
yêu cầu lãi suất cao hơn, đồng thời doanh nghiệp sẽ chấp nhận trả lãi suất cao khi họ
được vay kỳ hạn dài. Vì thế, mối quan hệ giữa lãi suất vay và kỳ hạn vay được kiểm
tra bằng giả thuyết H1: Lãi suất vay và kỳ hạn vay có mối quan hệ đồng biến.
Lãi suất vay và tài sản đảm bảo được xem là hai điều khoản nhận diện rủi ro
khách hàng vay. Nếu khách hàng có năng lực tài chính tốt, uy tín sẽ chọn cách cung
cấp nhiều tài sản đảm bảo hơn để được vay lãi suất thấp. Ngược lại, khách hàng có ít
tài sản đảm bảo hoặc năng lực tài chính kém hơn sẽ chấp nhận vay lãi suất cao và
cung cấp ít tài sản đảm bảo hơn. Vì vậy, mối quan hệ giữa hai biến này được kiểm
tra bằng giả thuyết H2: Lãi suất vay và tỉ lệ tài sản đảm bảo có mối quan hệ nghịch
biến.
Với những khoản vay kỳ hạn dài, ngân hàng gặp rủi ro nhiều hơn, nên họ cần

web Tổng cục thống kê.
1.5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu những yếu tố tác động đến các điều khoản trong hợp đồng
tín dụng bằng cách đặt ra sáu giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H6). Để kiểm tra sáu giả
thuyết này, luận văn xây dựng mô hình dựa trên mô hình hệ phương trình đồng thời
của Dennis và ctg (2000) và phương pháp chạy mô hình ước lượng bình phương nhỏ
nhất hai giai đoạn (2 stage OLS).
1.6 Kết cấu của luận văn
Các phần chính của luận văn được xây dựng gồm 5 chương. Chương 1 giới
thiệu tổng quan về luận văn. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và điểm qua những
công trình nghiên cứu trước có liên quan làm nền tảng nghiên cứu cho luận văn.
Chương 3 trình bày dữ liệu và phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn.
Chương 4 chạy mô hình và phân tích kết quả nghiên cứu, so sánh nó với những nghiên
cứu trước và đối chiếu với tình hình thực tế tại nơi công tác. Chương 5 trình bày
những kết luận rút ra từ nghiên cứu, những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên
cứu tiếp theo.

8


CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
TRƯỚC CÓ LIÊN QUAN
2.1 Giới thiệu
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan các vấn đề sẽ được đề cập trong luận văn
này và đưa ra câu hỏi nghiên cứu liên quan đến lý do chọn đề tài. Chương này sẽ tổng
hợp những nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tìm ra những khe hở
nghiên cứu từ các công trình trước đây, đồng thời cũng dựa trên kết quả các nghiên
cứu đã có để phát triển giả thuyết nghiên cứu, kiểm định nhằm trả lời các câu hỏi
nghiên cứu.

khoản bất lợi đối với người đi vay tiềm ẩn rủi ro cao (Dennis và ctg, 2000). Mối quan
hệ giữa các điều khoản hợp đồng tín dụng theo hai lý thuyết này được thể hiện cụ thể
qua bảng 2.1.
Bảng 2.1: Mối quan hệ giữa các điều khoản trong hợp đồng tín dụng
Bảng này tổng hợp mối quan hệ giữa mỗi điều khoản trong hợp đồng với các
điều khoản còn lại theo quan điểm của hai lý thuyết: Trade-off (T-O), Sorting by
observed risk (S-O-R)
Chỉ tiêu

Lãi suất vay
T-O

S-O-R

Kỳ hạn vay

(+)

(-)

Tỉ lệ tài sản đảm bảo

(-)

Giá trị khoản vay

(+)

Kỳ hạn vay
T-O


10


mong muốn. Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa tỉ lệ tài sản đảm bảo và lãi suất
vay là nghịch biến, giữa tỉ lệ tài sản đảm bảo và kỳ hạn vay là đồng biến, và giữa tỉ
lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay là đồng biến. Điều này đúng với thuyết thay
thế. Tuy nhiên, thuyết bổ trợ thì hoàn toàn ngược lại. Hoạt động tín dụng luôn ẩn
chứa rủi ro và ngân hàng thì luôn muốn hạn chế rủi ro tới mức tối thiểu trong mỗi
mức lợi nhuận mong muốn tương ứng. Vì thế, nhằm bảo đảm an toàn vốn, ngân hàng
sẽ thương lượng sao cho vừa tính tỉ lệ tài sản đảm bảo cao, vừa tính lãi suất vay cao,
đồng thời cho vay với kỳ hạn ngắn và giá trị món vay nhỏ. Hay nói cách khác, mối
quan hệ giữa tỉ lệ tài sản đảm bảo và lãi suất vay là đồng biến, giữa tỉ lệ tài sản đảm
bảo và kỳ hạn vay là nghịch biến, giữa tỉ lệ tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay là
nghịch biến.
Giải thích tương tự cho mối quan hệ giữa các điều khoản còn lại. Theo thuyết
thay thế, khách hàng chấp nhận kỳ hạn vay ngắn để được hưởng lãi suất vay thấp,
hoặc nếu muốn vay kỳ hạn dài thì họ chấp nhận trả lãi suất cao. Nếu muốn vay vốn
giá trị lớn thì khách hàng chỉ được vay trong kỳ hạn ngắn, còn nếu muốn vay kỳ hạn
dài thì chỉ vay được khoản vay giá trị nhỏ. Nghĩa là mối quan hệ giữa kỳ hạn vay và
lãi suất vay là đồng biến, giữa kỳ hạn vay và giá trị khoản vay là nghịch biến. Ngược
lại, thuyết bổ trợ giải thích rằng để giảm thiểu rủi ro tín dụng, đặc biệt khi cho vay
những khách hàng tiềm ẩn rủi ro cao, ngân hàng luôn muốn cho vay kỳ hạn ngắn
đồng thời tính lãi suất cao và cho vay những món giá trị nhỏ. Tức là theo thuyết này,
mối quan hệ giữa kỳ hạn vay và lãi suất vay là nghịch biến, giữa kỳ hạn vay và giá
trị khoản vay là đồng biến. Mối quan hệ giữa lãi suất vay và giá trị khoản vay theo
hai lý thuyết này cũng trái ngược nhau. Theo thuyết thay thế, khách hàng muốn vay
lãi suất thấp thì chỉ vay những khoản vay nhỏ, còn nếu muốn khoản vay giá trị lớn
thì phải trả lãi suất cao. Mối quan hệ giữa hai điều khoản này là đồng biến. Theo
thuyết bổ trợ, ngân hàng vừa muốn cho vay lãi suất cao vừa muốn cho vay những

mà họ cam kết. Và để hạn chế rủi ro cho mình, ngân hàng sẽ yêu cầu khách hàng
cung cấp nhiều tài sản đảm bảo hơn. Những khoản vay kỳ hạn ngắn rủi ro tín dụng ít
hơn nên ngân hàng sẽ yêu cầu ít tài sản đảm bảo hơn. Ngược lại, thuyết bổ trợ lại cho
rằng tài sản đảm bảo và kỳ hạn vay có mối quan hệ nghịch biến, vì cả kỳ hạn vay và
tài sản đảm bảo đều có thể sử dụng để xác định người đi vay rủi ro (Gottesman, 2006).
Với những khách hàng năng lực tài chính kém, họ thường mong muốn vay kỳ hạn
dài để hạn chế áp lực thanh khoản và cung cấp ít tài sản đảm bảo để giảm chi phí.
Tuy nhiên, về phía ngân hàng, chỉ cho vay kỳ hạn ngắn và yêu cầu nhiều tài sản đảm
bảo để hạn chế rủi ro với những khách hàng bị đánh giá là rủi ro cao. Nếu ngân hàng
đánh giá khách hàng là tốt và để tăng tính cạnh tranh với những ngân hàng khác, ngân

12


hàng sẽ ưu tiên cho nhóm khách hàng này vay với kỳ hạn dài và cung cấp ít tài sản
đảm bảo, thậm chí có thể cho vay tín chấp. Những nghiên cứu thực nghiệm được tìm
thấy về mối quan hệ này cũng chưa thống nhất. Một vài nghiên cứu thì ủng hộ quan
điểm tài sản đảm bảo và kỳ hạn vay có mối quan hệ đồng biến (Degryse và Van
Cayseele, 2000; Dennis và ctg, 2000; Voordeckers và Steijvers, 2006), một số khác
lại ủng hộ quan điểm mối quan hệ này là nghịch biến (Scott và Smith, 1986; Boot và
ctg, 1991). Nhưng cũng có những nghiên cứu lại ủng hộ cả hai quan điểm, tùy theo
góc độ là ngân hàng hay khách hàng vay. Nếu đứng trên góc độ của ngân hàng, để
hạn chế rủi ro, ngân hàng vừa muốn cho vay kỳ hạn ngắn, vừa muốn khách hàng
cung cấp nhiều tài sản đảm bảo, vì vậy mối quan hệ này là nghịch biến. Nếu đứng ở
góc độ của khách hàng vay, khách hàng muốn cung cấp nhiều tài sản đảm bảo để
được vay kỳ hạn dài. Còn nếu khách hàng chỉ muốn vay kỳ hạn ngắn thì họ sẽ cung
cấp ít tài sản đảm bảo. Vì vậy, mối quan hệ này là đồng biến (Phạm Thị Thu Trà và
Lensink, 2008).
Mối quan hệ giữa tài sản đảm bảo và giá trị khoản vay cũng có thể là đồng
biến hoặc nghịch biến theo quan điểm của thuyết thay thế hoặc thuyết bổ trợ. Theo

hưởng lãi suất thấp hơn người đi vay có rủi ro cao . Những nghiên cứu trước đây về
mối quan hệ giữa hai điều khoản này cũng chưa có sự thống nhất. Một vài tác giả ủng
hộ quan điểm của thuyết thay thế (Coleman và ctg, 2002; Bharath và ctg., 2011), số
khác lại theo thuyết bổ trợ (Strahan, 1999; Dennis và ctg., 2000; Gottesman và
Roberts, 2007; Wittenberg- Moerman, 2009). Nhưng cũng có nghiên cứu lại ủng hộ
cả hai quan điểm, ví dụ như nghiên cứu của Phạm Thị Thu Trà và Lensink (2008).
Họ lập luận rằng nếu đứng trên góc độ của khách hàng vay, khách hàng muốn vay kỳ
hạn dài và chỉ muốn trả lãi suất thấp. Mối quan hệ này là nghịch biến giống quan
điểm của thuyết bổ trợ. Còn nếu đứng trên góc độ của ngân hàng, ngân hàng chỉ cho
vay kỳ hạn dài với lãi suất cao để bù đắp rủi ro kỳ hạn. Do đó mối quan hệ này là
đồng biến theo thuyết thay thế.
Mối quan hệ giữa kỳ hạn vay và giá trị khoản vay cũng chưa đi đến thống nhất
trong các nghiên cứu trước. Theo thuyết thay thế, mối quan hệ này là nghịch biến.
Được vay kỳ hạn dài với giá trị lớn là hai điều có lợi cho người đi vay. Vì nếu được
như vậy, họ vừa giải quyết được nhu cầu vốn của mình, vừa không bị áp lực trả nợ.
Tuy nhiên, trong thương lượng hợp đồng, họ chỉ được chọn một trong hai. Nếu chọn
kỳ hạn dài, thì chỉ được vay giá trị nhỏ và ngược lại, vì ngân hàng không thể nhận
hết rủi ro về phần mình. Theo quan điểm này có nghiên cứu của Boot và ctg (1991),
Lee (2004). Tuy nhiên, thuyết bổ trợ lại cho rằng khách hàng cần khoản vay giá trị
lớn cho những dự án lớn hoặc những hợp đồng lớn, mà những dự án hoặc hợp đồng

14


này cần phải có thời gian dài để sản xuất, tiêu thụ mới thu hồi vốn được. Nếu như
ngân hàng chấp nhận cho vay những khoản vay này, và tất nhiên phải là khách hàng
ít rủi ro thì ngân hàng mới cho vay, ngân hàng sẽ cho vay kỳ hạn dài. Những khoản
vay giá trị nhỏ chủ yếu là để bổ sung nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, do đó
vòng quay vốn sẽ nhanh và ngân hàng sẽ cho vay kỳ hạn ngắn. Vì vậy, mối quan hệ
giữa kỳ hạn vay và giá trị khoản vay là đồng biến. Theo quan điểm của thuyết này có

(RQ2).
2.2.2 Cơ sở hình thành giả thuyết nghiên cứu
Có nhiều bằng chứng cho thấy các điều khoản trong hợp đồng tín dụng có tác
động qua lại lẫn nhau. Năm 1985, Bester đã nghiên cứu về sự đánh đổi giữa lãi suất
vay và tài sản đảm bảo. Khách hàng chủ động cung cấp thêm tài sản đảm bảo để được
hưởng lãi suất vay thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu này không chỉ ra được cách mà người
cho vay và người đi vay thương lượng để đạt được hai điều khoản này. Năm 1986,
Melnik và Plaut lại cho rằng các điều khoản trong hợp đồng vay được thiết kế chung
với nhau và không thể thương lượng một cách riêng biệt.
Về sau, có những tác giả đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa các điều khoản
trong hợp đồng vay bằng phương trình đơn biến (Leeth và Scott, 1989; Petersen và
Rajan, 1994; Guedes và Opler, 1996). Tuy nhiên, cách nghiên cứu này sẽ gặp vấn đề
vì những điều khoản còn lại cũng cần được xác định đồng thời (Dennis và ctg, 2000).
Và để giải quyết vấn đề này, Dennis và ctg (2000) đã thực hiện ước lượng bằng mô
hình hồi quy hai giai đoạn. Tác giả ước lượng mối quan hệ giữa lãi suất vay, kỳ hạn
vay và tài sản đảm bảo bằng hệ phương trình đồng thời, sau đó mang kết quả này so
sánh với những nghiên cứu trước sử dụng mô hình hồi quy đơn biến. Tác giả này
phát hiện ra kết quả sẽ bị sai lệch nếu chỉ sử dụng phương pháp đơn biến mà không
sử dụng phương pháp ước lượng bằng hệ phương trình đồng thời. Mô hình hệ phương
trình đồng thời sau này được sử dụng khá rộng rãi (ví dụ như trong các nghiên cứu
của Phạm Thị Thu Trà và Lensink, 2008; Brick và Palia, 2007; Brav và ctg, 2009;
Bharath và ctg, 2011; Li và ctg, 2011).
Một hợp đồng tín dụng chuẩn sẽ bao gồm năm điều khoản chính: lãi suất vay,
kỳ hạn vay, tài sản đảm bảo, các giao ước và giá trị khoản vay (Lummer và
McConnell, 1989; Strahan, 1999; Gottesman, 2006; Ge và ctg, 2012). Tuy nhiên, ở
Việt Nam, các ngân hàng thường không chú ý đến các giao ước, và điều khoản các
giao ước không được đưa vào hợp đồng (phụ lục 1). Do đó, hợp đồng tín dụng chỉ
còn bốn điều khoản chính là lãi suất vay, kỳ hạn vay, tài sản đảm bảo và giá trị khoản
vay.


cứu này, tác giả sử dụng biến tài sản đảm bảo là biến liên tục chứ không phải là biến
giả như các nghiên cứu kể trên. Dựa vào những nghiên cứu trước, trong đó chủ yếu

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status