LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết lựa chọn đề tài nghiên cứu
Tỉnh Chăm pa sắc nằm trên trục đường bộ xuyên Á, do đó có
nhiều điều kiện về tự nhiên, văn hoá, xã hội thuận lợi cho việc phát
triển kinh tế - xã hội và có nhiều cơ hội để mở rộng mối quan hệ
Hoà nhịp với sự phát triển ngành kinh tế tỉnh nhà nói chung,
các doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản của tỉnh đã khẳng định
được vị thế của mình từ chỗ có rất ít mặt hàng, hiện nay đã chủ
động sản xuất, chế biến và xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản. Các
doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng nên lãi
suất ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong chi phí kinh doanh. Điều đó
làm cho chi phí kinh doanh tăng lên, hiệu quả thấp. Mặt khác, tỉnh
Chămpasắc là tỉnh có nhiều tiềm năng để khai thác và chế biến các
mặt hàng nông sản để xuất khẩu. Tuy nhiên, do nhiều lý do, đến nay
các tiềm năng do chưa được khai thác một cách hợp lý, chưa tạo
được nhiều việc làm cho người lao động, làm tăng thu nhập của
người dân trong tỉnh...
Với tính cấp thiết và những nhận xét nói trên. Sau một thời gian
tìm hiểu thực tế về xuất khẩu hàng nông sản của tỉnh, tôi chọn đề tài
nghiên cứu của mình là: "Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc
nước CHDCND Lào" làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh
49
thương mại cả trong và ngoài nước.
doanh.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận về thúc đẩy xuất khẩu hàng
- Đưa ra hệ thống giải pháp nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản của tỉnh Chăm pa sắc.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản.
Chương 2: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của các doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc.
Chương 3: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của
các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Chăm pa sắc.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THÚC ĐẨY
XUẤT KHẨU HÀNG NÔNG SẢN
49
6. Kết cấu của đề tài:
1.1. Lý thuyết thương mại quốc tế vận dụng trong xuất khẩu
nông sản
1.1.1. Khái niệm về thương mại quốc tế
Theo từ điển tiếng Việt của trung tâm KHXH&NV quốc gia
(NXB Văn hoá Sài Gòn) thì “nông sản” là sản phẩm do ngành
nông nghiệp sản xuất ra như: Gạo, rau, café, cao su… “Hàng
trường. Vì vậy khi nông sản xuất ra để đưa ra bán trên thị trường
thì được gọi là “hàng hoá nông sản”. Mặt khác nông sản xuất ra
bao gồm rất nhiều loại khác nhau không chỉ sử dụng để thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất mà còn được bán ra thị
trường để thoả mãn thiêu dùng của xã hội thì gọi là nông sản
hoá. Như vậy “hàng hoá nông sản chung một bản chất là nông
thu thấp xử lý và phân tích số liệu thị trường một cách có hệ
thống làm cơ sở cho các quyết định quản trị. Mỗi quốc gia khác
nhau có phong tục, tập quán, nhu cầu hị hiểu và sở thích khác
nhau. Do khoảng cách về địa lý của các quốc gia là lớn nên việc
nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản trở nên khó khăn
Khi nghiên cứu thị trường xuất khẩu hàng nông sản cần trả
lời được các cầu hỏi sau: Nước nào là thị trường mục tiêu? Quy
mô thị trường ra sao? Sản phẩm nào có thể xuất khẩu sang thị
trường đó? Quy định về chất lượng chủng loại, vệ sinh an toàn
49
sản đưa ra khỏi lãnh thổ của nước CHDCND Lào hoặc đưa vào
thực phẩm và kiểm định như thế nào? Chính sách ngoại thương
của nước sở tại có gì khó khăn, thuận lợi…?
Tổ chức mua và tạo nhiều nguồn hàng nông sản xuất
khẩu
Tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu là toàn bộ hình thức
phương thức mà doanh nghiệp tác động đến lĩnh vực sản xuất
cầu khách hàng
Tổ chức tăng thu mua hàng nông sản là một hoạt động của
doanhi nghiệp sau khi xem xét về chất lượng hàng hoá. Giá cả
chào hàng cùng với người bán thoả thuận điều kiện mua bán giao
nhận thanh toán bằng hợp đồng
Tổ chức thu mua và tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu là
một quá trình bao gồm những nội dung sau:
- Nghiên cứu thị trường nguồn hàng nông sản xuất khẩu
Đây là việc nghiên cứu khả năng cung cấp hàng nông sản
quy cách màu sắc giá cả phương thức giao hàng thời gian giao
hàng thời gian thanh toán… nhằm xác định rõ nghĩa vụ trách
nhiệm quyền lợi của mỗi bên.
- Xúc tiến triển khâi nguồn hàng xuất khảu sau khi ký kết
hợp đồng thu mua tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu doanh
nghiệp cần áp dụng các biện pháp kinh tế trong hoạt động khai
thác tạo nguồn hàng nông sản xuất khẩu điều, liền doanh liên kết
49
nhà xuất khẩu thường phải tổ chức thu jmua hàng nông sản thông
giúp đỡ các đơn vị có nguồn hàng, tổ chức hệ thống tính từ các
nguồn hàng về doanh nghiệp
- Tổ chức thực hiện hợp đồng thu mua toạ nguồn hàng nông
sản xuất khẩu đây là khâu mà các bên tham gia phải thực hiện
trách nhiệm và nghĩa vụ của hợp đồng khi ký kết.
Công tác giao dịch đàm phán và ký hợp đồng xuất khẩu
hàng nông sản
hai bên xuất khẩu và nhập khẩu thương mại trải qua một quá
trình giao dịch thương lượng với nhau về các điều kiện giao dịch
trong buôn bán quốc tế, những bước giao dịch đàm phám chủ yếu
đối với hàng hoá nói chung svà những hàng nông sản nói riêng
thường diễn ra như sau:
- Hỏi giá: Về phương diện pháp luật thương mại thì đây là
việc nhà nhập khẩu đề nghị xuất khẩu báo cho mình biết giá cả
và điều kiện mua hàng. Hỏi giá không rằng buộc về trách nhiệm
của nhà nhập khẩu. Nhà nhập khẩu có thể hỏi giá nhiều nhà xuất
- Chấp nhận đây là sự đồng ý hoàn tất cả mọi điều kiện của
chào hàng hoặc đặt hàng mà phía bên kia đưa ra một chấp nhận
có hiệu lực về pháp luật cần phải đảm bảo những điều kiện sau:
phải được chính người nhận giá chấp nhận phải đồng ý hoàn tất
vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng phải chấp nhận trong
49
- Đặt hàng là lời đề nghị chắc chắn về việc ký kết hợp đồng
thời hạn hiệu lực chào hàng chấp nhận pahỉ được truyền dạt đến
người phát ra đề nghị phải phù hợp với các văn bản trước đó
- Xác nhận đây là khâu cuối cùng của giao dịch sau khi nhà
nhập khẩu và nhà xuất khẩu thống nhất thoả thuận với nhau về
điều kiện đã thoả thuận gửi cho đối phương đó là văn kiện xác
nhận văn kiện do bên xuất khẩu gửi thương mại là giấy xác nhận
thường được lập thành hai bản, bên lập xác nhận ký trước rồi gửi
cho bên kia. Bên kia ký xong rồi gửi trả lại một bản. Văn bản xác
nhận cũng có thể thực hiện bằng văn bản có chữ ký của cả hai
bên, gọi là bản hợp đồng hoặc thoả thuận
Tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng nông sản
- Sau khi hợp đồng nông sản được ký kết nghĩa vụ quyền
lực và trách nhiệm của nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu được
thiết lập cả nhà nhập khẩu và xuất khẩu phải xác định rõ nội
dung và trình tự công việc phải hlàm đúng như hợp đồng ký kểt
Thông thường để thực hiện hợp đồng xuất khẩu hàng nông
sản nhà xuât skhẩu thường phải thực hiện các công việc sau:
- Xin giấy phép xuất khẩu hàng nông sản giấy phép xuất
khẩu là một biện pháp quan tọng của Nhà nước để quản lý hàng
giao hàng nhà xuất khẩu có nghĩa vụ phải kiểm tra hàng nông sản
về chất lượng, số lượng bao bì việc kiểm tra được tiến hành ở hai
49
thêm vào đó là các mặt hàng nông sản lại không được sản xuất
cấp độ cấp cơ sở và ở cửa khẩu kiểm tra ở cơ sở(tức là ở đơn vị
sản xuất thu mua chế biến…) nó có vai trò quyết định nhất và có
tác dụng triệt để nhất. Viêcj kiểm tra ở cơ sở và thực hiện thủ tục
quốc tế.
- Thuê tàu lưu cước: Trong quá trình thực hiện hợp đồng
xuất khẩu hàng nông sản việc thuê tàu chở hàng được tiến hành
mua bán và điều kiện trả.
- Mua bảo hiểm: Do đặc điểm cách xa về địa lý giữa nhà
xuất khẩu và nhà nhập khẩu nên phần lớn hàng nông sản được
chuyên chở bằng đường biển việc vận chuyển hàng bằng đường
biển gặp nhiều rủi ro, tổn thất nên mua bảo hiểm hàng hoá đường
biển là loại bảo hiểm phổ biến nhất trong ngoại thương.
Có ba điều kiện bảo hiểm chính bảo hiểm rủi ro(điều kiện A).
Bảo hiểm có tổn thất riêng (Điều kiện B) bảo hiểm miễn tổn thất
riêng(điều kiện C) việc lựa chọn điều kiện bảo hiểm được tiến hành
dựa trên các điều khoản của hợp đồng thoả thuận giữa nhà nhập
khẩu và nhà xuất khẩu tính chất hàng hoá tính chất bao bì và
phương thức xếp hàng loại tàu chuyên chở
- Làm thủ tục hải quan
- Uỷ thác yêu cầu thanh toán giải quyết khiếu nại
1.1.3. Một số cơ sở lý thuyết về thương mại quốc tế
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối
49
không có lợi thế
xây dựng thương hiệu và thương mại. Trong đó hai phân khúc
đầu và cuối tạo ra ra nhiều giá trị gia tăng hơn hẳn phân khúc
giữa. Đó là các phân khúc mà các đường quốc gia đang nắm giữa
và bỏ lại các phân khúc phải làm nhiều nhưng không tạo ra nhiều
giá trị cho các nước đang phát triển
1.1.4. Hàng nông sản và các phương thức xuất khẩu hàng
a. Xuất khẩu trực tiếp
Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu các hàng hoá do chính
doanh nghiệp sản xuất ra hoặc đặt mua từ các đơn vị sản xuất
kinh doanh khác ở trong nướec, sau đó xuất khẩu những mặt
hàng này ra nước ngoài với danh nghĩa là hàng hoá của doanh
nghiệp mình
b. Xuất khẩu uỷ thác và gián tiếp
Hình thức xuất khẩu này là qua các trung gian có thể thông
qua dịch vụ của một nhà buôn trung gian có khả năng tìm kiếm
các thị trường và các thị trường ở nước ngoài để tìm đầu ra cho
sản phẩm của mình
c. Buôn bán đối lưu – hàng đổi bán
Đây là phương thức giao dịch mà trong đó xuất khẩu kết hợp
chặt chẽ với nhập khẩu trang thiết bị máy móc chế biến. phụ tùng
phương tiện phục vụ sản xuất….Doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá
cũng đồng thời là doanh nghiệp nhập khẩu sản phẩm hàng hoá tráo
đổi có giá trị tương đương.
49
nghĩ về đầu ra cho hàng hoá của mình …
mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế văn hoá và các hoạt
động khác trong thời gian tới. Đó là các mục tiêu về tốc độ tăng
trưởng GDP về giá trị sản xuất nông nghiệp, công nghiệp xây
dựng dịch vụ trong đó các mục tiêu xuất khẩu hàng hoá
2. Xây dựng chiến lược và quy hoạch sản xuất, xuất khẩu
Trên cơ sở quan điểm, phương hướng và mục tiêu để ra các
xuất khẩu của địa phương mình nhằm phát huy cao độ lợi thế của
địa phương. Sử dụng sức mạnh tổng hợp cảu các thành phần kinh
tế các đơn vị trên địa bàn phát triển sản xuát gia tăng xuất khảu
chủ động nhập thành công. Trong chiến lược, chương trình xuất
khẩu thường xác định các lợi thế của địa phương mình và các
mặt hàng chủ lực có khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu. Trên
cơ sở kết quả khảo sát xác định nhóm hàng xuất khẩu
3. Tổ chức các đầu mối xuất khẩu và điều hành xuất khẩu
Chuyển sang cơ sở chế biến quản lý kinh tế mới các đơn vị
sản xuất dù nhiều hay ít đều được trực tiếp xuất khẩu hàng hoá
domình chế tạo ra và được nhập khẩu nguyên nhân vật liệu cho
sản xuất. Công tác tổ chức đầu mối xuất khẩu thông qua xét
duyệt đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp
đầu mối xuất khẩu quan trọng của quốc gia. Trong quá trình đầu
tư hỗ trợ hoạt động xúc tiến xuất khẩu đẻ định hướng mặt hàng
và tổ chức xuất khẩu
49
cơ quan nhà nước cần xây dựng quy hoạch chiến lược sản xuất
nghệ sau thu hoạch nâng cao giá trị của hàng nông sản xuất khẩu.
Thực tế cho thấy công nghệ sau thu hoạch đóng vai trò hết sức
quan trọng đảm bảo chất lượng của hàng hoá nông sản xuất khẩu.
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến thúc đẩy xuất khẩu hàng
nông sản
về kinh tế giữa các nước trong khu vực trong bối cảnh đó chính
sách thị trường của Lào là cùng trung xu hướng của các nước khu
vực. Một trong những đối đối sách kinh tế dối chính của chính
phủ Lào là định hướng thị trường hường ngoài phù hợp. Trước
hết nhằm vào khu vực Châu á kết hợp với hướng nội nhằm thoả
mãn nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
1.2.1. Các yếu tố khách quan
- Thế giới kinh tế hiện nay đang trên đà phát triển mạnh mẽ
không khí hợp tác kinh tế và đầu tư có xu hướng phát triển không
ngừng giữa các nước trong khu vực và toàn thế giới. Cộng với tình
huống tự do hợp tác kinh tế “kinh tế hội nhập” trên toàn cầu của tổ
chức thương mại quốc tế.
CHDCND Lào được các tổ chức quốc tế và các nươc sjphát
triển tích cực hỗ trợ và tài trợ
CHDCND Lào và tỉnh Shampasac có vị trí địa lý rất thuận
lợi và trung tâm nối liền giữa đông và tây cho các nước trong khu
vực và các nước ven sông Mêkông
49
CHDCND Lào nằm trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
- Sự tiến bộ về công nghệ kỹ thuật và thông tin của thế giới
giúp thúc đẩy sự hiểu biết về thông tin sản xuất và thị trường
nông sản của Lào cùng chủng loại với hàng của Thái Lan. Việt
Nam, Trung Quốc có sự cạnh tranh rất cao.
Dịch vụ thương mại xuất hiện ở mọi giai đoạn bán hàng
ứng đồng bộ sẽ tạo niềm tin tuyệt đối cho khách hàng và góp
phần nâng cao hiệu quả kinh hdoanh xuất khẩu hàng nông sản
Tỷ giá hối đoái
Ảnh hưởng của các nhân tố như: Mức chênh lệch phát của
hai nước ảnh hưởng tới sự biến động gia tắc của tỷ giá tình hình
dư thưa hay thiếu hụt của cán cân thành toán ảnh hưởng trực tiếp
và nhạy bén đến sự biến động của tỷ giá tình hình cung cầu ngoại
hối trên thị trường ngoại hối làm biến động trực tiếp đến tỷ giá
hối đoái. Để khuyến khích xuất khẩu có thể điều chỉnh tỷ giá
bằng cách
+ Nâng giá đồng tiền nội tệ so với đồng tiền ngoại tệ
+ Phá giá đồng tiền nội tệ có tác dụng đẩy mạnh xuất khẩu
và hạn chế nhập khẩu
+ Thanh toán quốc tế trong xuât skhẩu đảm bảo thu chi
những khoản ngoại tệ. Tín dụng có liên quan đến việc xuất nhập
khẩu hàng nông sản được thoả thuận.
49
nhằm hỗ trợ trước, trong và sau khi bán hàng. Nếu dịch vụ cung
1.2.2. Các yếu tố chủ quan
Cơ sở vật chất trình độ khoa học kỹ thuật
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất hàng xuất khẩu một
quốc gia hay doanh nghiệp phải tiến hành cải cách quá trình sản
xuất áp dụng tốt những thành tựu khoa học tiên tiếne để đem lại
Kinh doanh xuất khẩu nông sản là mối quan hệ trao đổi hàng hoá
nông sản của quốc gia này với quốc gia khác trên toàn thế giới. Hoạt
động xuất khẩu nông sản là hoạt động mang lại những hiệu quả kinh
tế cao, nhưng nó cũng có những khó khăn riêng mà không thể lường
trước được, vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế bên ngoài và
các quốc gia khác cũng xuất khẩu hàng hoá nông sản. Đứng ở mỗi vị
trí, mỗi góc độ nghiên cứu, sẽ cho ta một khái niệm về thúc đẩy xuất
khẩu hàng nông sản. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, khái
niệm về thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản có thể được hiểu như sau:
“Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản là làm tăng hoạt động trao đổi
mua bán hàng hoá nông sản với nước ngoài dưới hình thức mua bán thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ, nhằm tăng mục đích lợi
nhuận”.
1.3.2. Đặc điểm thị hiếu của thị trường
Đặc điểm thị trường của thị trường của các nước
ASEAN
49
các nước kém phát triển và đang phát triển rất quan tâm và chú trọng.
+ ASEAN là một thị trường lớn và đầy tiềm năng với dân
520 triệu tổng thu nhập khối GDP năm 2002 khoảng 570 tỷ USD
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 712 tỷ USD năm 2001 là 160 tỷ
USD. ASEAN là thị trường gần có nhiều nét tương đồng dân số
đồng tốc độ tăng trưởng cao chi phí cho quảng cáo và tiếp thị
thấp. Nếu Lào chủ động xuất khẩu các mặt hàng nông sản của
rất nhiều ưu thế như chi phí vận chuyển rẻ hơn do có lợi thế về
khoảng cách gần thị trường tương đồng và mặt khác thị trường
này cũng không khó tính so với thị trường EU và Mỹ…
ASEAN cho các nước mới ra nhập Campuchia, Myanma, Việt
Nam và Lào. Mặc dù đơn giản như vậy tuy nhiên các doanh
nghiệp của Lào vẫn chưa tận dụng triệt để thủ tục này để xâm
nhập vào thị trường khối này
Trong các nước thành viên ASEAN một quốc gia thành
viên có dân số theo đạo Hồi rất đông như Inđônêxia, Malayxia
hay Bruney do đó nhu cầu thị hiếu tiêu dùng của người dân
những nước này cũng khác so với các quốc gia còn lại đòi hỏi
các doanh nghiệp xuất khẩu của Lào cần phải tìm hiểu kỹ thị
hiếu từ đó xác định các mặt hàng xuất khẩu chủ đạo với chất
lượng và mẫu mã phù hợp với thị hiếu của họ.
Một vấn đề quan trọng không kém đó là các quốc gia
ASEAN đều là các quốc gai xuất khẩu rất mạnh các mặt hàng
49
From D nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp các nước
nông sản. Do vậy để đẩy mạnh xuất khẩu vào các quốc gai này
các mặt hàng xuât skhẩu nông sản của Lào cần tạo ra các bước
đột phá hoặc nét riêng biệt trong đó đặc biệt chú trọng vào các
mặt hàng là thế mạnh của Lào mà các quốc gia khác không có,
tránh tập trung sản xuất các mặt hàng chủ đạo của các nước quốc
gia nội khối.
có thể đẩy mạnh xuất khẩu đó là Singapore. Bởi vì Singapore là
một trung tâm thương mại và hậu cầu quốc tế mà các nước trong
khu vực trong đó có Lào có thể sử dụng hải cảng không cảng và
hệ thống kho chứa hàng để xuất hàng cho thị trường quốc tế.
Điều kiện này hết sức thuận lợi cho các doanh nghiệp Lào