Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố, thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU: ....................................................................................... 1
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ....................................................................... 3
1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập
WTO ............................................................................................................. 3
1.1. Tình hình kinh tế chung ....................................................................... 3
1.2. Tình hình kinh tế ngành ....................................................................... 4
1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành
phố ở nước ta hiện nay ................................................................................ 6
1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua
............................................................................................................. 6
1.3.2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu .......... 13
2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của
các địa phương và Thành phố .................................................................. 16
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của các địa
phương và Thành phố và hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát
triển XK hàng nông sản của các địa phương .......................................... 21
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng nông
sản ............................................................................................................... 21
3.1.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô ............................................... 21
3.1.2. Nhân tố thuộc môi trường ngành ............................................. 23
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sản phẩm Nông sản các địa phương và
Thành phố của nước ta hiện nay ............................................................... 24
Nguyễn Ngọc Hưng Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
3.2.1. Các nhân tố tự nhiên ................................................................ 24
3.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội ..................................................... 25

2.2 Tác động của các chính sách phát triển của các địa phương ảnh
hưởng đến tình hình xuất khẩu Nông sản của địa phương ...................... 44
2.3. Những thành tựu đã đạt được và những vướng mắc cần tháo gỡ
nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu nông sản ........................................ 52
3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu hàng nông sản của các địa
phương và thành phố trong thời gian qua .............................................. 54
CHƯƠNG III:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở
NƯỚC TA ............................................................................................. 62
1. Phương hướng và mục tiêu xuất khẩu nông sản phẩm Việt Nam
trong những năm tới ................................................................................. 62
1.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh của Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố ................................................................................ 63
1.2. Đẩy mạnh hoạt động thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương
mại và xây dựng thương hiệu .................................................................... 66
1.3. Chuyển hướng xuất khẩu theo cam kết WTO ................................... 67
1.4. Ba yêu cầu cho sản xuất và xuất khâu nông sản năm 2008 ............. 67
2. Định hướng phát triển xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố ............................................................................... 68
3. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa phương
và Thành phố trong những năm tới ......................................................... 73
Nguyễn Ngọc Hưng Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
3.1. Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo của các cán bộ địa phương,
nhằm quản lý có hiệu quả các chương trình và dự án của Nhà nước ...... 73
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của Nông sản các tỉnh và Thành phố ............................................... 74
3.2.1. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Đắc Lắc ............ 75
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản thông qua xây dựng

“đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ tác động của xuất khẩu
nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh, chưa tương xứng với tiềm
năng vốn có của nó.
Nguyễn Ngọc Hưng 1 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
Do đó, vấn đề thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của chúng ta là vấn đề cần
phải được giải quyết nhằm đạt được những mục tiêu mà Chính phủ đã đề ra cho
ngành nông nghiệp. Chính vì vậy, được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo, GS-TS
Đặng Đình Đào và các cán bộ hướng dẫn của Viện Kinh tế Nông nghiệp, em đã chọn
đề tài:
“Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố,
thực trạng và giải pháp”
Chuyên đề tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về xuất khẩu hàng nông sản của các
địa phương và thành phố
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và
Thành phố ở nước ta hiện nay
Chương III: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản của các địa phương và Thành phố
Do điều kiện thực tế còn hạn chế nên chuyên đề còn nhiều thiếu xót, em mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của em sẽ tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Ngọc Hưng 2 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO
1.1. Tình hình kinh tế chung

đồng các nhà tài trợ vừa qua đã cam kết cung cấp tín dụng 5,4 tỷ USD trong năm
2008.
Về xuất khẩu, Việt Nam tăng trên 20% so với năm 2006, trong đó có sự thay
đổi cơ cấu: giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu thô, tăng xuất khẩu các mặt hàng chế
tạo. Đối với một số mặt hàng nhập khẩu quan trọng có kim ngạch nhập khẩu cao, ta
còn chủ động cắt giảm thuế xuống thấp hơn mức cam kết trong WTO, chẳng hạn như
thuế nhập khẩu ô tô được giảm thêm 20% so với cam kết, thuế nhập khẩu sữa, các
loại thịt cũng được giảm thấp hơn mức cam kết. Theo đánh giá của Diễn đàn Thương
mại Liên hiệp quốc, Việt Nam đã vươn lên thành một trong 10 nền kinh tế có triển
vọng thu hút đầu tư nhất trên thế giới.Tuy nhiên, sau 1 năm gia nhập sân chơi toàn
cầu, thủ tục hành chính tại Việt Nam vẫn còn quá rườm rà, nhiều cơ chế, chính sách
đi ngược xu hướng chung của thế giới.
1.2. Tình hình kinh tế ngành
Nông nghiệp Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO đã phát triển theo
hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị xuất khẩu nông nghiệp chiếm
19,8% GDP cả nước, đặc biệt 7 chương trình trọng tâm nhằm tăng cường tính bền
cững cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả, tạo sức bật mạnh mẽ cho
nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện. Về xuất
khẩu nông sản, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm
Nguyễn Ngọc Hưng 4 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã vượt mục tiêu đề ra cho
năm 2010 tới 1,5 tỷ USD.
Hầu hết hàng nông sản năm 2007 đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh
với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như gạo, thuỷ sản, cà
phê, cao su, sản phẩm gỗ. Cà phê là mặt hàng đạt chỉ tiêu sớm nhất với khoảng 1,8 tỷ
USD tăng gần 50% so với năm 2006 (năm 2006 đạt khoảng 1,2 tỷ USD). Mặt hàng
gỗ chế biến đạt khoảng 2,34 tỷ USD tăng 21% so với năm 2006; cao su trên 1,4 tỷ
USD, tăng 10%; gạo là 1,48 tỷ USD tăng 16%, trong khi đó thuỷ sản vẫn dẫn đầu với
mốc 3,75 tỷ USD. Ngoài ra, hàng loạt nông sản khác cũng được cải thiện đáng kể về

lúa đạt 36 – 36,5 triệu tấn, sản lượng ngô đạt 5 triệu tấn. Ngành chăn nuôi chủ yếu
tập trung phát triển mạnh đàn lợn, đàn bò và trâu thịt trong đó đặc biệt lưu ý các biện
pháp đảm bảo an toàn dịch bệnh, đảm bảo tốc độ tăng trưởng 9,4%. Trong đó, sản
lượng thịt hơi đạt 4,18 triệu tấn, sữa tươi 282.000 tấn, thức ăn chăn nuôi là 9 triệu
tấn. Ngành thuỷ sản phấn đấu đạt 4,1 triệu tấn sản phẩm với mục tiêu ổn định khai
thác bền vững, tăng nôi trồng. Bên cạnh đó những chương trình hỗ trợ xuất khẩu,
phát triển thuỷ lợi và cơ sở hạ tầng nông thôn, nghiên cứu, chuyển giao khoa học
công nghệ ...sẽ góp phần duy trì tốc độ phát triển bền vững cho nông nghiệp.
1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố ở
nước ta hiện nay
1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua
Trong quá trình đổi mới, hội nhập kinh tế hàng nông sản Việt Nam đã có mặt
trên nhiều nước và đã góp phần thu ngoại tệ để phát triển kinh tế đất nước. Lợi thế
phát triển hàng hóa nông sản xuất khẩu của ta có nhiều nhưng cũng không ít khó
khăn, bất lợi – mà điều khó khăn bất lợi đó chúng ta có thể khắc phục được nếu như
chúng ta có biện pháp thích hợp và kiên quyết. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của
quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa
các quốc gia. Sự độc lập phát triển của các quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó
vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động
Nguyễn Ngọc Hưng 6 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
xuất khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn
đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đã giành được nhiều thành
tựu đáng kể:
Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ngày một tăng, năm sau cao hơn năm
trước. Nếu như năm 1997, nước ta xuất khẩu đạt 9.087 triệu USD thì đến năm 2007
đã đạt tới 56.308 triệu USD gấp 6,19 lần, trong đó kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt

35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm , thuỷ sản. Trong hàng nông sản xuất
khẩu, lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (23,8%), thứ đến là cà phê (13,5%), hạt
điều (4,4%) và cao su (3,2%), còn rau quả chiếm tỷ trọng quá nhỏ ( mới chiếm từ
0.5% đến 1,4%), chưa tương xứng với tiềm năng của ngành. Nhưng xét về tốc độ gia
tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất tương ứng với tiềm năng của ngành.
Nhưng xét về tốc độ gia tăng giá trị kim ngạch thì rau quả đã tăng rất nhanh, năm
2000 đạt 52 triệu USD, thì năm 2005 là 615 triệu USD và năm 2007 đạt 905 triệu
USD tăng gần 1.5 lần so với năm 2005. Thứ đến là hồ tiêu hạt với chỉ số tăng 51%
rồi đến cà phê 28% và cao su 22%.
Bên cạnh những tồn tại về quy mô sản phẩm xuất khẩu còn nhỏ bé, thị phần
trên thị trường thấp, chất lượng sản phẩm còn yếu kém, thì xuất khẩu nông sản của
nước ta còn gặp nhiều khó khăn về giá cả xuất khẩu. Trong thời gian qua, giá cả thị
trường thế giới luôn luôn biến động bất lợi cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt
Nam. Việc gấp rút phân tích và đánh giá đúng đắn các lợi thế so sánh và các mặt bất
lợi trong việc phát triển sản xuất- kinh doanh từng loại nông sản xuất khẩu, để đề ra
một đối sách thích hợp là rất quan trọng, tất nhiên phải dựa vào việc xem xét các đối
thủ cạnh tranh, thị trường trong nước và thế giới, về các chi phí cơ hội của từng mặt
hàng trong điều kiện sinh thái tự nhiên và kinh tế – xã hội của nước ta...
Những lợi thế.
Nguyễn Ngọc Hưng 8 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
Thứ nhất:So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như hàng dệt may, giầy
da hay cơ khí, điện tử lắp ráp... thì trong cùng một lượng kim ngạch xuất khẩu thu về
như nhau, tỷ lệ chi phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản rất thấp, do
đó thu nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều.
Ví dụ: Chi phí sản xuất gạo xuất khẩu có nguồn gốc ngoại tệ (phân bón, thuốc
sâu bệnh và các loại hoá chất, xăng dầu...) chỉ chiếm từ 15% đến 20% giá trị xuất
khẩu kim ngạch gạo điều đó có nghĩa là kim ngạch xuất khẩu gạo đã tạo ra từ 80%
đến 85% thu nhập ngoại tệ thuần cho đất nước, chỉ số này đối với nhân hạt điều xuất
khẩu là 27% và 73%.

thống với quy mô lớn và tương đối dễ tính đối với cacs mặt hàng nông sản của Việt
Nam. Mặt khác, trên các nước này hiện có một lượng doanh nhân và doanh nghiệp
Việt Nam đang làm ăn phát đạt ở đó. Đây là một lợi thế lớn để nối lại thị trường tiêu
thụ mà bấy lâu nay nước ta đã bỏ qua chưa khai thác có hiệu quả.
Thứ sáu: Nhiều tư liệu sản xuất dùng trong quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp,
thuỷ sản vẫn còn phải nhập khẩu, mà phần lớn phải nhập với giá cao hơn giá thế giới,
chi phí để sản xuất các loại tư liệu đó trong nước rất cao. Do vậy mở cửa hội nhập
kinh tế, tự do hoá thương mại sẽ làm cho giá nhập khẩu mặt hàng này rẻ hơn, làm
cho giá thành sản xuất và chế biến các loại hàng nông sản phẩm của nước ta giảm
xuống một lượng đáng kể do đó sẽ tạo thêm ưu thế cạnh tranh.
Thứ bảy: Thể chế chính trị ổn định, môi trường đấu tư và hệ thống pháp luật
của Việt Nam ngày càng được cải thiện và điều chỉnh thích ứng dần với tiến trình tự
do hoá thương mại trong khu vực và toàn cầu.
Những bất lợi:
Thứ nhất: Nhìn chung, tuy Việt Nam đã bước đầu hình thành các vùng sản xuất
hàng hoá tập trung nhưng khối lượng hàng hoá còn nhỏ bé, thị phần trên thế giới
thấp, chất lượng chưa đồng đều và ổn định. Việt Nam chưa hình thành được các vùng
chuyên canh sản xuất hàng tươi sống và vùng nguyên liệu tập trung cho các nhà máy
chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật kinh tế. Gạo của Việt Nam chưa đảm bảo độ đông
Nguyễn Ngọc Hưng 10 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì đóng gói kém hấp dẫn và
chưa có nhãn thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ bao bì. Điều đó làm cho
giá xuất khẩu của nông sản Việt Nam thấp hơn các nước khác.
Thứ ha: Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có
năng xuất và chất lượng thấp so với các nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh
trong khối ASEAN. Trên địa bàn cả nước chưa hình thành một hệ thống cung ứng
giống cây con tốt cho người sản xuất, từ giống tác giả, giống nguyên chủng cho đến
giống thương phẩm. Hầu hết nông dân đã tự sản xuất giống cây con cho mình từ vụ
thu hoạch trước hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sự đảm bảo về

thông thoáng và bảo thủ đã làm nản lòng câc nhà đầu tư kinh doanh trong và ngoài
nước và làm tăng giá thành sản xuất và giá thành sản phẩm xuất khẩu. Do vậy, lợi thế
tiềm năng không được phát huy hết.
Thứ bảy: Trong quá trình tự do hoá thương mại, một số doanh nghiệp kinh
doanh hàng nông sản làm ăn thua lỗ, không có khả năng cạnh tranh sẽ bị phá sản theo
quy định của luật. Điều bất lợi này Việt Nam cũng phải chấp nhận một cách tự
nhiên, bình thường theo vận hành của quy luật kinh tế thị trường. Một số mặt hàng
nông sản tiêu thụ nội địa trong nhiều năm qua sẽ bị cạnh tranh và dảm dần hoặc mất
thị trường ngay trên quê hương mình. Điều đó cũng dễ hiểu và chúng ta phải chấp
nhận nó như một việc bình thường, không phải chỉ với chúng ta mà đối với tất cả các
nước khác. Nhưng trước mắt, điều bất lợi này sẽ gây ra những tác động tiêu cực tạm
thời cả lĩnh vực kinh tế - xã hội và chính trị.
Tóm lại, xét về tổng thể, hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam tuy đã
đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ và có nhiều lợi thế cần khai thác nhưng vẫn
còn nhiều tồn tại và bất lợi. Những tồn tại và bất lợi này đều có sự liên quan chặt chẽ
với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau đòi hỏi phải được xử lý một
cách dứt điểm và toàn diện.
Nền nông nghiệp Việt Nam đang trên đà phát triển và hoà nhập vào xu thế
chung của nông nghiệp các nước trong khu vực và toàn cầu, tuy nhiên theo tiến trình
Nguyễn Ngọc Hưng 12 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
này về mức độ và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vàp bản thân sự cố gắng của phái
Việt Nam, mà còn phụ thuộc vào xu thế chung của thị trường hàng hóa nông sản thế
giới. Trong định hướng phát triển nông nghiệp của mình vấn đề quan trọng được đặt
ra là khả năng thực sự về mức độ đáp ứng của sản xuất- xuất khẩu đối với nhu cầu
đến đâu, không chỉ về số lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, đẹp về
hình thức, phong phú đa dạng về chủng loại và giá cả hợp lý nhằm tăng sức hấp dẫn
đối với người tiêu dùng. Do vậy nâng cao khả năng sản xuất, phát huy các lợi thế
cạnh tranh của hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường là vấn đề cốt lõi trong
chiến lược phát triển nông nghiệp hướng ra xuất khẩu của Việt Nam , trước hết có thể

Cà phê đang là mặt hàng dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu trong nhóm hàng
nông, lâm sản và là một trong tám mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỉ
USD.
Các chuyên gia cho rằng cà phê VN có tính cạnh tranh cao nhờ môi trường và
khí hậu ưu đãi, chi phí sản xuất thấp, sản lượng thuộc hàng cao nhất thế giới. Tuy
nhiên, cà phê VN có chất lượng tương đối thấp do thiết bị chế biến, sấy khô nghèo
nàn, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu. Cà phê VN chưa có thương hiệu và các nhà
XK thiếu kỹ năng tiếp thị, do vậy chỉ chào bán được mức giá thấp hơn so với giá
trung bình của thế giới. Song điều quan trọng là VN có tiềm năng nâng cao chất
lượng thông qua việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch, lưu kho và chế biến. Với vị trí
vững chãi đã có trên thị trường thế giới, nếu có chiến lược cải thiện được chất lượng
đúng đắn, cà phê VN sẽ ở hàng "bá chủ".
Bên cạnh đó, sản lượng cao su xuất sang thị trường Malaixia trong năm nay đã
tăng 3 lần so với năm trước và đây được đánh giá là thị trường chiến lược của cao su
Việt Nam trong tương lai.
Với ngành chè, những nỗ lực cải thiện chất lượng chè Việt Nam sau khi gia
nhập WTO còn mang lại kết quả rõ nét hơn. Theo Hiệp hội hội Chè Việt nam, sau
những nỗ lực của ngành chè trong việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế
Nguyễn Ngọc Hưng 14 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
biến chè theo quy hoạch, đồng thời tổ chức lại ngành chè theo hướng từng bước hiện
đại hoá, tăng nhanh tỷ lệ các sản phẩm chè tinh chế, có chất lượng cao và đa dạng
hoá sản phẩm, năm nay giá chè xuất khẩu của Việt Nam đã được cải thiện đáng kể
với mức tăng khoảng 25%, tương ứng mức tăng 270-280 USD/tấn.
Tuy nhiên, nếu lĩnh vực xuất khẩu đạt được nhiều thành công thì việc thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong nông nghiệp lại chưa chứng tỏ được lợi thế. Năm
2007 tỷ trọng FDI cho ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp (chỉ chiếm 10,6% số dự
án và 6,5% số vốn đầu tư đăng ký). Đáng chú ý, mặc dù có tới 42 quốc gia, vùng lãnh
thổ tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng chủ yếu là các nhà
đầu tư đến từ châu Á. Việt Nam hiện chưa thu hút các nhà đầu tư của một số nước có

dân vẫn là nhiệm vụ quan trọng.
2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của các địa
phương và Thành phố
Sản xuất nông nghiệp không những cung cấp lương thực, thực phẩm cho con
người, đảm bảo nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu
dùng và công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm mà còn sản xuất ra những mặt
hàng có giá trị xuất khẩu, tăng thêm nguồn thu ngoại tệ. Hiện tại cũng như trong
tương lai, nông nghiệp vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội loài
người, không ngành nào có thể thay thế được. Trên 40% số lao động trên thế giới
đang tham gia vào hoạt động nông nghiệp. Đảm bảo an ninh lương thực là mục tiêu
phấn đấu của mỗi quốc gia, góp phần ổn định chính trị, phát triển nền kinh tế.
Chúng ta đều biết, Việt Nam là một nước nông nghiệp, vấn đề sản xuất và xuất
khẩu nông sản giữ vị trí quan trọng đối với tăng trưởng nông nghiệp nói riêng và tăng
trưởng kinh tế nói chung. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã nổi lên là một
nước xuất khẩu nông sản mạnh so với khu vực và thế giới, có những mặt hàng Việt
Nam còn được coi là “đại gia” như cà phê, gạo, hạt điều… Tuy nhiên, mức độ tác
động của xuất khẩu nông sản đối với tăng trưởng nông nghiệp còn bấp bênh, chưa
tương xứng với tiềm năng vốn có của nó.
Nguyễn Ngọc Hưng 16 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
Sản phẩm của nông nghiệp bao gồm nông sản, lâm sản và thuỷ sản, trong đó
nông sản chiếm tỷ trọng lớn nhất. Vì vậy, xuất khẩu nông sản có những vị thế đặc
biệt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nước nhà như:
Một là, xuất khẩu nông sản tác động đến việc mở rộng quy mô sản xuất nông
nghiệp.
Khi xuất khẩu nông sản tăng, khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày càng
lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Mặt khác,
khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất, từ đó họ có
thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản
phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.

nghiệp, thực hiện cơ khí hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, ứng dụng các thành tựu khoa
học, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin nhằm nâng cao chất lượng, sức cạnh
tranh của sản phẩm nông nghiệp trên thị trường. Vì vậy, xuất khẩu nông sản tạo điều
kiện giải quyết tốt vấn đề đầu ra cho nông sản, thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát
triển theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, điều này rất phù hợp với điều kiện
hội nhập kinh tế hiện nay. Mặt khác, xuất khẩu nông sản còn có vai trò tích cực trong
việc cung cấp thông tin cho người sản xuất, tạo ra sự phù hợp tốt hơn giữa người sản
xuất và thị trường.
Năm là, xuất khẩu nông sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Xuất khẩu nông sản tăng làm đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu, tăng sức cạnh
tranh của sản phẩm, từ đó góp phần thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị cao, đảm bảo vấn
đề an toàn vệ sinh thực phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của thị trường thế
giới. Xuất khẩu nông sản tăng hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá, tạo
thuận lợi cho việc chăm sóc, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và xoá bỏ dần cách thức sản
xuất manh mún, nhỏ lẻ trước đây.
Nguyễn Ngọc Hưng 18 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
Từ những vấn đề trên, có thể thấy rằng, về mặt lý thuyết xuất khẩu nông sản và
tăng trưởng nông nghiệp có mối quan hệ thuận chiều, nhưng trên thực tế các quốc gia
có phát huy được mối quan hệ này hay không còn phụ thuộc rất lớn vào tình hình cụ
thể của quốc gia đó và tăng trưởng nông nghiệp không chỉ chịu tác động của một
nhân tố đó là xuất khẩu nông sản.
Xuất khẩu nông sản và tăng trưởng nông nghiệp của các địa phương và
Thành phố.
Thực tế, trong những năm qua ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước
chuyển mình, tạo ra sự thay đổi lớn trong sản xuất, cơ cấu, chất lượng, giá cả sản
phẩm và uy tín của nông sản trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể nhìn nhận sự
thay đổi đó thông qua một số số liệu ở Bảng 1.
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng

USD) (1)
4616,1 5066,9 5972,5 9023,8 10520,3
TTXKNN(%) - 9,8 17,9 51,1 16,6
Tỷ trọng
XKNS/XKNN(%)
51,9 52,7 56,7 60,5 65,7
Nguồn: (1) Niên giám Thống kê 2007 số liệu từ 2003 – 2007

Từ Bảng 2 có thể nhận thấy, trong các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam, nông
sản chiếm tỷ trọng khá lớn. Năm 2003 tỷ trọng của XKNS/XKNN là 51,9% đến năm
2006 là 65,7%. Điều này nói lên tầm quan trọng của xuất khẩu nông sản đối với xuất
khẩu nông nghiệp và sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự biến động
của xuất khẩu nông nghiệp Việt Nam. Biến động này qua các năm được thể hiện:
năm 2004 tốc độ tăng xuất khẩu nông sản là 11,5% tương ứng tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu nông nghiệp là 9,8%, năm 2005 là 26,6% tương ứng là 17,9%, 2006 là
61,5% tương ứng 51,1% và năm 2007 là 26,5% tương ứng là 16,6%.
Từ việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn mối quan hệ giữa xuất khẩu
nông sản và tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam qua một số năm, có thể đưa ra một số
nhận xét sau:
Thứ nhất, các nước đang phát triển tương tự Việt Nam, khi nông nghiệp là một
ngành kinh tế cơ bản thì xuất khẩu nông sản có mối quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng
Nguyễn Ngọc Hưng 20 Lớp: Thương mại 46B
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: GS-TS Đặng Đình Đào
nông nghiệp. Do đó sự biến động của xuất khẩu nông sản sẽ kéo theo sự biến động
của tăng trưởng nông nghiệp và muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nông nghiệp thì
cần phải bắt đầu từ các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu nông sản.
Thứ hai, trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của WTO, vấn đề xuất khẩu
nông sản đứng trước những cơ hội và thách thức lớn, vì vậy Chính phủ cần có những
chính sách hợp lý đối với xuất khẩu nông sản để tận dụng những cơ hội, giảm bớt
những thách thức và biến thách thức thành cơ hội từ đó thúc đẩy xuất khẩu nông sản,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status