Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố - Thực trạng và giải pháp - Pdf 11

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU: ....................................................................................... 1
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ....................................................................... 3
1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập
WTO ............................................................................................................. 3
1.1. Tình hình kinh tế chung ....................................................................... 3
1.2. Tình hình kinh tế ngành ....................................................................... 4
1.3. Tình hình xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành
phố ở nước ta hiện nay ................................................................................ 6
1.3.1. Tổng kết về xuất khẩu hàng Nông sản của Việt Nam 10 năm qua
............................................................................................................. 6
1.3.2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu .......... 13
2. Nông sản phẩm và vai trò của Nông sản phẩm trong xuất khẩu của
các địa phương và Thành phố .................................................................. 16
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của các địa
phương và Thành phố và hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát
triển XK hàng nông sản của các địa phương .......................................... 21
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng nông
sản ............................................................................................................... 21
3.1.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô ............................................... 21
3.1.2. Nhân tố thuộc môi trường ngành ............................................. 23
3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới sản phẩm Nông sản các địa phương và
Thành phố của nước ta hiện nay ............................................................... 24
3.2.1. Các nhân tố tự nhiên ................................................................ 24
3.2.2. Các nhân tố kinh tế - xã hội ..................................................... 25
3.3. Chỉ tiêu cho hoạt động xuất khẩu hàng nông sản ............................. 26
3.3.1. Tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản của tỉnh (Thành phố): .... 26
3.3.2. Tỷ trọng xuất khẩu nông sản của Tỉnh( Thành phố). ............... 27

phương và thành phố trong thời gian qua .............................................. 54
CHƯƠNG III:
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY XUẤT KHẨU
HÀNG NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ Ở
NƯỚC TA ............................................................................................. 62
1. Phương hướng và mục tiêu xuất khẩu nông sản phẩm Việt Nam
trong những năm tới ................................................................................. 62
1.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh của Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố ................................................................................ 63
1.2. Đẩy mạnh hoạt động thông tin, dự báo thị trường, xúc tiến thương
mại và xây dựng thương hiệu .................................................................... 66
1.3. Chuyển hướng xuất khẩu theo cam kết WTO ................................... 67
1.4. Ba yêu cầu cho sản xuất và xuất khâu nông sản năm 2008 ............. 67
2. Định hướng phát triển xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa
phương và Thành phố ............................................................................... 68
3. Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu Nông sản phẩm của các địa phương
và Thành phố trong những năm tới ......................................................... 73
3.1. Nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo của các cán bộ địa phương,
nhằm quản lý có hiệu quả các chương trình và dự án của Nhà nước ...... 73
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản phẩm, tăng khả năng cạnh
tranh của Nông sản các tỉnh và Thành phố ............................................... 74
3.2.1. Giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Đắc Lắc ............ 75
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng nông sản thông qua xây dựng
các chỉ dẫn địa lý, nhằm nâng cao giá trị kinh tế cho sản phẩm gạo
Tám Nam Định ................................................................................... 76
3.3. Giải pháp về thị trường xuất khẩu ..................................................... 78
3.4. Thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học vào
thực tiễn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp trình độ cao ........... 80
LỜI MỞ ĐẦU:
Nông nghiệp Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO đã phát triển theo

“ Thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và Thành phố,
thực trạng và giải pháp”
Chuyên đề tốt nghiệp bao gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về xuất khẩu hàng nông sản của các
địa phương và thành phố
Chương II: Thực trạng xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và
Thành phố ở nước ta hiện nay
Chương III: Phương hướng và giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng nông
sản của các địa phương và Thành phố
Do điều kiện thực tế còn hạn chế nên chuyên đề còn nhiều thiếu xót, em mong
nhận được sự góp ý của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của em sẽ tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Nguyễn Ngọc Hưng 2 Lớp: Thương mại 46B
CHƯƠNG I:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG
NÔNG SẢN CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG VÀ THÀNH PHỐ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Tổng quan về tình hình kinh tế Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO
1.1. Tình hình kinh tế chung
Sau hơn một năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đạt tăng trưởng ở mức
8,5% trong năm 2007, thêm một năm tiếp tục đà phát triển trên 8% kể từ 2005. Các
yếu tố góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ ở Việt Nam là sản xuất công
nghiệp và dịch vụ với tốc độ tăng trưởng mạnh. Xuất khẩu vững chắc và các hoạt
động đầu tư tăng mạnh là nhân tố chính đảm bảo những thành quả của sản xuất công
nghiệp. Trong lĩnh vực dịch vụ, kim ngạch bán lẻ đóng góp đáng kể nhất với tốc độ
tăng trưởng tính chung là 22,7% (năm 2007) so với năm 2006, thêm vào đó là động
lực thúc đẩy từ các hoạt động thương mại, giao thông vận tải, và kinh doanh bất động
sản. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế cao cũng như giá cả của nhiều loại hàng hóa tăng
lên đã dẫn tới tỷ lệ lạm phát cao tại Việt Nam trong năm 2007.
Các nhà đầu tư cả trong nước và nước ngoài dường như đều kỳ vọng vào năm

1.2. Tình hình kinh tế ngành
Nông nghiệp Việt Nam sau hơn một năm gia nhập WTO đã phát triển theo
hướng tích cực với tốc độ tăng trưởng 3,25%, giá trị xuất khẩu nông nghiệp chiếm
19,8% GDP cả nước, đặc biệt 7 chương trình trọng tâm nhằm tăng cường tính bền
cững cho nông nghiệp, nông thôn được triển khai hiệu quả, tạo sức bật mạnh mẽ cho
nông nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế toàn diện. Về xuất
khẩu nông sản, kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt 12,6 tỷ USD, tăng 20% so với năm
Nguyễn Ngọc Hưng 4 Lớp: Thương mại 46B
2006, chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã vượt mục tiêu đề ra cho
năm 2010 tới 1,5 tỷ USD.
Hầu hết hàng nông sản năm 2007 đều được giá nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh
với nhiều mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD trở lên như gạo, thuỷ sản, cà
phê, cao su, sản phẩm gỗ. Cà phê là mặt hàng đạt chỉ tiêu sớm nhất với khoảng 1,8 tỷ
USD tăng gần 50% so với năm 2006 (năm 2006 đạt khoảng 1,2 tỷ USD). Mặt hàng
gỗ chế biến đạt khoảng 2,34 tỷ USD tăng 21% so với năm 2006; cao su trên 1,4 tỷ
USD, tăng 10%; gạo là 1,48 tỷ USD tăng 16%, trong khi đó thuỷ sản vẫn dẫn đầu với
mốc 3,75 tỷ USD. Ngoài ra, hàng loạt nông sản khác cũng được cải thiện đáng kể về
chất lượng, giá trị mà đáng chú ý nhất là hồ tiêu với giá trị xuất khẩu bình quân 3.500
USD/tấn (năm 2006 là 1.500 USD/tấn), vì vậy dù lượng xuất khẩu năm 2007 giảm
khoảng 15% so với năm 2006, nhưng kim ngạch vẫn đạt 300 triệu USD, tăng 57,9%.
Trong thời gian qua, chúng ta đã tập trung phát triển tập trung những loại nông sản có
lợi thế, có thị trường xuất khẩu, nông nghiệp Việt Nam tiếp tục đạt được những thành
công bất chấp những khó khăn của thiên tai, dịch bệnh, giá cả leo thang...Diện tích
lúa vẫn đạt gần 7,4 triệu ha cùng sản lượng đạt 35,8 triệu tấn đảm bảo an ninh lương
thực trong nước và phục vụ xuất khẩu. Diện tích ngô 1,1 triệu ha, có sản lượng 4,3
triệu tấn (tăng trên 500.000 tấn), các loại cây công nghiệp như cao su, cà phê, chè,
điều, mía... đạt khoảng 2 triệu ha. Trong khi đó, dù dịch cúm gia cầm, lợn “tai xanh”,
lở mồm long móng diễn ra trên diện rộng nhưng ngành chăn nuôi vẫn tăng trưởng
khá với tổng sản lượng thịt hơi 3,83 triệu tấn, tăng 12,6% so với năm 2006, góp phần
đưa tỷ trọng chăn nuôi trong cơ cấu nông nghiệp lên 27%. Đặc biệt, quan hệ sản xuất

khăn, bất lợi – mà điều khó khăn bất lợi đó chúng ta có thể khắc phục được nếu như
chúng ta có biện pháp thích hợp và kiên quyết. Trong bối cảnh mở cửa hội nhập kinh
tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước là thước đo đánh giá kết quả của
quá trình hội nhập quốc tế và phát triển trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào nhau giữa
các quốc gia. Sự độc lập phát triển của các quốc gia là sự phụ thuộc của quốc gia đó
vào thế giới phải cân bằng với sự phụ thuộc của thế giới vào quốc gia đó. Hoạt động
Nguyễn Ngọc Hưng 6 Lớp: Thương mại 46B
xuất khẩu còn là yếu tố quan trọng nhằm phát huy mọi nguồn nội lực, tạo thêm vốn
đầu tư để đổi mới công nghệ, tăng thêm việc làm, thúc đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.
Trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất khẩu của Việt Nam đã giành được nhiều thành
tựu đáng kể:
Tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ngày một tăng, năm sau cao hơn năm
trước. Nếu như năm 1997, nước ta xuất khẩu đạt 9.087 triệu USD thì đến năm 2007
đã đạt tới 56.308 triệu USD gấp 6,19 lần, trong đó kim ngạch xuất khẩu nông sản đạt
12,6 tỷ USD, tăng hơn năm 1997 là 3,9 lần và chiếm 25% trong tổng kim ngạch xuất
khẩu của Việt Nam. Nhịp độ tăng trưởng bình quân của GDP là trên 8%/năm tức là
tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trưởng GDP tới 3,2 lần. Kim
ngạch xuất khẩu tính trên đầu người bình quân năm 1997 là 110 USD, năm 2005 là
276 USD và đến năm 2007 đạt 310 USD (đây là mức của các quốc gia có nền phát
triển ngoại thương bình thường).
Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu cũng được cải thiện theo chiều hướng đa dạng
hoá, giảm tỷ trọng hàng nông, lâm, hải sản, giảm tỷ trọng loại hàng hoá chưa qua chế
biến.
Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu hàng nông, lâm thuỷ sản chiếm tới 52,6% trong
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, còn hàng hoá ngành công nghiệp nặng và khoáng
sản là 33,4% và tỷ trọng hàng công nghiệp nhẹ – tiểu thủ công nghiệp là 14%. Đến
năm 2007 tỷ trọng các loại hàng hoá đã thay đổi với cơ cấu tương ứng là 30,1% hàng
nông nghiệp, 35,6% hàng công nghiệp nặng và 34,3% hàng công nghiệp nhẹ. Như
vậy là đã có sự thay đổi về mặt hàng và về chất của quá trình xuất khẩu. Thị trường

thủ cạnh tranh, thị trường trong nước và thế giới, về các chi phí cơ hội của từng mặt
hàng trong điều kiện sinh thái tự nhiên và kinh tế – xã hội của nước ta...
Những lợi thế.
Nguyễn Ngọc Hưng 8 Lớp: Thương mại 46B
Thứ nhất:So với các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu như hàng dệt may, giầy
da hay cơ khí, điện tử lắp ráp... thì trong cùng một lượng kim ngạch xuất khẩu thu về
như nhau, tỷ lệ chi phí sản xuất có nguồn gốc ngoại tệ của hàng nông sản rất thấp, do
đó thu nhập ngoại tệ ròng của hàng nông sản xuất khẩu sẽ cao hơn nhiều.
Ví dụ: Chi phí sản xuất gạo xuất khẩu có nguồn gốc ngoại tệ (phân bón, thuốc
sâu bệnh và các loại hoá chất, xăng dầu...) chỉ chiếm từ 15% đến 20% giá trị xuất
khẩu kim ngạch gạo điều đó có nghĩa là kim ngạch xuất khẩu gạo đã tạo ra từ 80%
đến 85% thu nhập ngoại tệ thuần cho đất nước, chỉ số này đối với nhân hạt điều xuất
khẩu là 27% và 73%.
Đây là lợi thế ban đầu của các nước nghèo, khi chưa có đủ nguồn ngoại tệ để
đầu tư xây dựng các nhà máy lớn, khu công nghiệp để sản xuất- kinh doanh các mặt
hàng tiêu tốn ngoại tệ.
Thứ hai: Ngành nông, lâm , thuỷ sản là ngành sử dụng nhiều lao động vào quá
trình sản xuất kinh doanh. Đây là một ưu thế quan trọng hiện nay của ngành, vì hàng
năm nước ta phải giải quyết thêm việc làm cho 1,4 triệu người bước vào tuổi lao
động. Ví dụ, để trồng và chăm sóc 1 hecta dứa hay 1 hecta dâu tằm mỗi năm cần sử
dụng tới 20 lao động. Trong khi đó, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn các nước khac
trong khu vực, phổ biến với mức 1 đến 1,2 USD/ ngày công lao động trong sản xuất
lúa, cà phê. Hiện nay, một số công việc nặng nhọc như đánh bắt cá ngừ, thu hoạch
mía hay thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Cửu Long với giá nhân công cao cũng mới
chỉ là 2 đến 2,5USD/ngày công lao động, nhưng vẫn còn rẻ hơn so với Thái Lan từ 2
đến 3 lần. Tất nhiên lợi thế này sẽ không tồn tại lâu do sự phát triển kinh tế xã hội
của đất nước và thế giới.
Thứ ba:Điều kiện sinh thái tự nhiên của nhiều vùng nước ta rất thuận lợi cho
việc phát triển sản xuất một số loại rau quả vụ đông có hiệu quả như cà chua, bắp cải,
tỏi, khoai tây... trong khi cũng vào thời gian này ở cả vùng Viễn Đông của Liên bang

chế biến lớn theo yêu cầu kỹ thuật kinh tế. Gạo của Việt Nam chưa đảm bảo độ đông
Nguyễn Ngọc Hưng 10 Lớp: Thương mại 46B
nhất về quy cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, bao bì đóng gói kém hấp dẫn và
chưa có nhãn thương hiệu của doanh nghiệp mình trên vỏ bao bì. Điều đó làm cho
giá xuất khẩu của nông sản Việt Nam thấp hơn các nước khác.
Thứ ha: Phần lớn các loại giống cây con hiện đang được nông dân sử dụng có
năng xuất và chất lượng thấp so với các nước trên thế giới và các đối thủ cạnh tranh
trong khối ASEAN. Trên địa bàn cả nước chưa hình thành một hệ thống cung ứng
giống cây con tốt cho người sản xuất, từ giống tác giả, giống nguyên chủng cho đến
giống thương phẩm. Hầu hết nông dân đã tự sản xuất giống cây con cho mình từ vụ
thu hoạch trước hoặc mua giống trên thị trường trôi nổi mà không có sự đảm bảo về
chất lượng đặc biệt là giống các loại cây ăn quả, cây lương thực, cây rau... Năng suất
lúa của Việt Nam chỉ bằng 61% năng suất lúa của Trung Quốc và thấp thua nhiều so
với lúa của Nhật Bản, Iatlia, Mỹ. Năng suất cà chua của ta chỉ bằng 65% năng suất
cà chua thế giới, cao su Việt Nam mới chỉ đạt năng suất 1,1 triệu tấn/ha, so với năng
suất thế giới là 1,5 – 1,8 tấn/ha thấp hơn tới 30% - 40%.
Thứ ba: So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu,
chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó
tính như Nhật Bản, EU, Bắc Mỹ. Mặt khác, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận
chuyển, bảo quản dự trữ, bôc xếp hàng hoá nông sản, nhất là hàng tươi sống rất yếu
kém nên giá thành sản phẩm và phí gián tiếp khác tăng nhanh. Ví dụ: Do công suất
bốc xếp ở cảng Sài Gòn là 1000 tấn/ngày chỉ bằng 1/2 công suất cảng Băng Cốc
(Thái Lan), cho nên cảng phí cho một tàu chở gạo 10000 tấn ở Việt Nam là 40000
USD, còn ở cảng Băng Cốc là 20000 USD, như vậy là chi phí tại cảng trong khâu bốc
xếp của Việt Nam đã cao hơn gấp đôi so với cảng Băng Cốc.
Thứ tư: Năng lực quản lý sản xuất kinh doanh, chế biến và xuất khẩu nông sản
chưa đáp ứng được nhu cầu trong điều kiện tự do hoá thương mại, đặc biệt là khâu
marketing, dự tính báo thị trường. Mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất – chế
biến – xuất khẩu, giữa khâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra,
giữa khâu kỹ thuật với khâu kinh tế... chưa thiết lập được một cách vững chắc để

này về mức độ và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vàp bản thân sự cố gắng của phái
Việt Nam, mà còn phụ thuộc vào xu thế chung của thị trường hàng hóa nông sản thế
giới. Trong định hướng phát triển nông nghiệp của mình vấn đề quan trọng được đặt
ra là khả năng thực sự về mức độ đáp ứng của sản xuất- xuất khẩu đối với nhu cầu
đến đâu, không chỉ về số lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, đẹp về
hình thức, phong phú đa dạng về chủng loại và giá cả hợp lý nhằm tăng sức hấp dẫn
đối với người tiêu dùng. Do vậy nâng cao khả năng sản xuất, phát huy các lợi thế
cạnh tranh của hàng nông sản của Việt Nam trên thị trường là vấn đề cốt lõi trong
chiến lược phát triển nông nghiệp hướng ra xuất khẩu của Việt Nam , trước hết có thể
tập trung vào các mặt hàng nông sản chủ yếu có nhiều lợi thế nhất.
1.3.2. Tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản chủ yếu
Nông nghiệp được coi là lĩnh vực chịu nhiều tác động nhất trong quá trình gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam. Nhiều lo ngại về sức
mạnh của Nông sản Việt Nam trên sân chơi lớn này xuất phát từ những hạn chế trong
năng lực sản xuất, chế biến, tạo dựng thương hiệu và uy tín lớn của từng mặt hàng
nông sản.
Nhìn từ khía cạnh xuất khẩu nông sản, sau một năm gia nhập WTO, những mặt
hàng chủ lực của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn đang chứng tỏ thế và lực của một
đất nước với không ít sản phẩm nông nghiệp được ghi danh trên thương trường thế
giới.
Theo đánh giá của Vụ Kế hoạch (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn),
năm 2007 tiếp tục là năm thành công trong xuất khẩu nông sản. Năm 2007 kim ngạch
xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản của cả nước đã đạt 15,5 tỷ USD. So với năm 2006,
năm cũng được coi là rất thành công trong xuất khẩu nông sản của Việt Nam, con số
này đã tăng tới 20%. Năm 2007, xuất khẩu gạo đã vượt chỉ tiêu với sản lượng xuất
khẩu 6,5 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu tăng 18% (1,42 tỷ USD). Cà phê Việt Nam
vượt ngưỡng xuất khẩu 1 triệu tấn với tổng giá trị kim ngạch 1,65 tỷ USD. Hiện đã
Nguyễn Ngọc Hưng 13 Lớp: Thương mại 46B
có tới 5 mặt hàng là thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, cà phê, gạo và cao su đạt giá trị
xuất khẩu từ 1-3 tỷ USD.

với mức tăng khoảng 25%, tương ứng mức tăng 270-280 USD/tấn.
Tuy nhiên, nếu lĩnh vực xuất khẩu đạt được nhiều thành công thì việc thu hút
nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong nông nghiệp lại chưa chứng tỏ được lợi thế. Năm
2007 tỷ trọng FDI cho ngành nông nghiệp vẫn còn rất thấp (chỉ chiếm 10,6% số dự
án và 6,5% số vốn đầu tư đăng ký). Đáng chú ý, mặc dù có tới 42 quốc gia, vùng lãnh
thổ tham gia đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhưng chủ yếu là các nhà
đầu tư đến từ châu Á. Việt Nam hiện chưa thu hút các nhà đầu tư của một số nước có
tiềm năng, thế mạnh lớn về nông nghiệp như Mỹ, Canada, Ôxtrâylia….
Điều này phản ánh khả năng vận động, xúc tiến đầu tư của Việt Nam trong lĩnh
vực này còn hạn chế. Đồng thời, theo các chuyên gia kinh tế, đầu tư vào lĩnh vực
nông nghiệp ở Việt Nam luôn tiềm ẩn rủi ro đối với các nhà đầu tư nước ngoài do
điều kiện tự nhiên khó khăn, thường xuyên bị ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, sản
phẩm nông nghiệp thường có tỉ suất lợi nhuận thấp. Chính vì vậy, mặc dù là một
trong những lĩnh vực mà Chính phủ Việt Nam chú trọng ưu đãi cho các nhà đầu tư,
nhưng sau khi gia nhập WTO nông nghiệp – nông thôn vẫn không đạt được tốc độ
tăng trưởng FDI như những lĩnh vực khác.
Trên cơ sở nhận diện những thuận lợi và hạn chế sau một năm gia nhập WTO,
Bộ NN & PTNT xác định tiếp tục xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
có năng suất, chất lượng, hiệu quả và có sức cạnh tranh cao gắn với hội nhập kinh tế
quốc tế. Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường cũng đã và đang hướng nông dân sản xuất
theo tiêu chí sản xuất những sản phẩm thị trường cần với giá thành hạ, năng suất
tăng, chất lượng tăng và đặc biệt là bán được giá cao.
Tuy nhiên, thực tế là hiện nay trình độ sản xuất của nông dân còn ở mức độ
thấp, bộc lộ nhất là giống cây trồng, vật nuôi vẫn chưa kiểm dịch đầy đủ và cũng
chưa kiểm soát nguồn gốc. Thứ hai là chưa kiểm soát tốt phân hoá học, phân bón.
Nguyễn Ngọc Hưng 15 Lớp: Thương mại 46B
Thứ ba là công tác bảo quản sau thu hoạch, bao bì, nhãn hiệu hàng hoá thương
hiệu vẫn chưa đáp ứng theo chuẩn mực yêu cầu của quốc tế trong quá trình hội nhập.
Thứ tư là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, bình quân diện tích đất còn rất thấp, khoảng 0,7-1
ha/hộ, vì vậy muốn sản xuất với quy mô lớn, chất lượng đồng đều là rất khó. Thứ

Khi xuất khẩu nông sản tăng, khối lượng nông sản được sản xuất ra ngày càng
lớn, do đó sẽ tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp. Mặt khác,
khi xuất khẩu nông sản tăng còn tạo nguồn thu lớn cho người sản xuất, từ đó họ có
thể tăng vốn để tái sản xuất mở rộng, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản
phẩm, nâng cao giá trị hàng xuất khẩu.
Hai là, xuất khẩu góp phần giải quyết tốt vấn đề công ăn, việc làm.
Một trong những đặc điểm rất quan trọng của Việt Nam và một số nước đang
phát triển khác là tốc độ tăng lực lượng lao động nhanh, từ đó việc làm luôn là vấn đề
nóng và cần quan tâm của nền kinh tế. Để giải quyết được tình trạng này phải tăng
cầu lao động và xuất khẩu tăng cũng là một trong những biện pháp để mở rộng quy
mô ngành sản xuất nông sản, từ đó tạo thêm việc làm cho người lao động. Mặt khác,
xuất khẩu nông sản tăng kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến, công
nghiệp phục vụ nông nghiệp, từ đó nhu cầu lao động bổ sung tăng lên.
Khi người lao động có việc làm, thu nhập ổn định sẽ tạo tâm lý yên tâm phấn
khởi và người lao động (đặc biệt là lao động nông nghiệp) sẽ làm việc ngay tại quê
hương mình, giảm tải tình trạng di cư của lao động ra các khu công nghiệp, thành thị
để tìm kiếm việc làm.
Ba là, xuất khẩu nông sản góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực
trong nông nghiệp.
Nguồn lực trong nông nghiệp bao gồm: đất đai, cơ sở hạ tầng, người lao động,
kinh nghiệm sản xuất… Mỗi quốc gia đều có những cách thức khác nhau trong việc
sử dụng các nguồn lực của mình sao cho có hiệu quả nhất và tận dụng hết các lợi thế
Nguyễn Ngọc Hưng 17 Lớp: Thương mại 46B
của vùng. Mỗi vùng khác nhau sẽ có lợi thế về một loại nông sản khác nhau, do đó
khi xuất khẩu nông sản tăng lên, thị trường được mở rộng sẽ tạo điều kiện cho vùng
đó sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả cao nhất. Đây cũng là lý do tại sao Việt Nam lại
tạo những điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh xuất khẩu gạo của đồng bằng sông Cửu
Long, cà phê của các tỉnh miền Trung Tây Nguyên, vải Lục Ngạn, nhãn Hưng Yên,
thanh long Bình Thuận, bưởi Diễn…
Bốn là, xuất khẩu nông sản góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá - hiện

phẩm và uy tín của nông sản trên thị trường quốc tế. Chúng ta có thể nhìn nhận sự
thay đổi đó thông qua một số số liệu ở Bảng 1.
Bảng 1. Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp và tốc độ tăng trưởng
XK nông sản (%)
Chỉ tiêu 2004 2005 2006 2007
Tốc độ TTXKNS(1) 11,5 26,6 61,5 26,5
Tốc độ TTNN(2) 3,62 4,36 4,04 3,4
Nguồn: (1) Tác giả tự tính; (2) Niên giám Thống kê 2007
Từ Bảng 1 có thể thấy, trong giai đoạn từ 2004 – 2006 xuất khẩu nông sản của
Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11,5% năm 2004 lên 26,6% năm 2005 và
61,5% năm 2006. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng trưởng nông nghiệp cũng
tăng đều đặn từ 3,62% năm 2004 lên 4,04% năm 2006. Riêng năm 2007, kinh tế Việt
Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn. Đó là thiên tai (hạn
hán, bão số 1( Chin Chu), bão số 6 (Xangsane), lốc mưa đá, bão số 9 (Durian)), dịch
cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng… Điều này làm cho việc sản xuất và xuất
khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Việt Nam vì
nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của điều kiện tự nhiên. Kết quả là tốc độ
tăng của xuất khẩu nông sản chỉ đạt 26,5% và nông nghiệp đạt 3,4%. Nhưng đạt
được kết quả này cũng đã thể hiện sự nỗ lực phấn đấu hết sức mình của người dân
Nguyễn Ngọc Hưng 19 Lớp: Thương mại 46B
Việt Nam để đạt được mục tiêu đề ra (năm 2007 vẫn đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế
trên 8,%).
Chúng ta có thể nhìn nhận mối quan hệ này ở góc độ trực tiếp hơn, đó là mối
quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản và xuất khẩu nông nghiệp.
Bảng 2. Mối quan hệ giữa tăng trưởng XK nông sản và
tăng trưởng XK nông nghiệp
Chỉ tiêu 2003 2004 2005 2006 2007
Kim ngạch XKNS (triệu
USD) (1)
2396,6 2672,0 3383,6 5463,3 6910,0

những thách thức và biến thách thức thành cơ hội từ đó thúc đẩy xuất khẩu nông sản,
góp phần thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam.
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hàng nông sản của các địa phương và
Thành phố và hệ thống chỉ tiêu đánh giá động thái phát triển XK hàng nông
sản của các địa phương
3.1. Các nhân tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng nông sản
3.1.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô
a. Môi trường văn hoá xã hội.
Yếu tố văn hoá xã hội luôn bao quanh hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp, ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu các mặt hàng của ngành nông nghiệp.
Có thể nghiên cứu các yếu tố từ những giác độ khác nhau tuỳ vào mục tiêu nghiên
cứu. Các yếu tố thường được nghiên cứu là: Dân số, xu hướng vận động của dân số,
sự dịch chuyển dân cư và xu hướng vận động
b. Môi trường chính trị luật pháp.
Các yếu tố thuộc lĩnh vực chính trị và luật pháp chi phối mạnh mẽ sự hình thành
cơ hội thương mại và khả năng thực hiện mục tiêu xuất khẩu hàng nông sản. Sự ổn
định của môi trường chính trị đã được xác định là một trong những điều kiện tiền đề
quan trọng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, sự thay đổi điều kiện chính
trị có thể ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của hoạt động xuất khẩu.
Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường này thường được lưu ý là:
Nguyễn Ngọc Hưng 21 Lớp: Thương mại 46B

Trích đoạn Các nhân tố tự nhiên Các nhân tố kinh tế xã hội Lượng hàng xuất khẩu tăng giảm so với kỳ trước và so với kỳ kế Tình hình xuất khẩu hàng nông sản năm 2007, năm đầu tiên gia
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status