Hoàn thiện tổ chức kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chi tại trường đại học sư phạm kỹ thuật vinh - Pdf 35

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu khoa học độc
lập của tác giả với sự tham gia hướng dẫn trực tiếp của TS.
Nguyễn Thị Phương Hoa. Tất cá các nguồn tại liệu tham
khảo đã được công bố đầy đủ. Nội dung luận văn là hoàn
toàn trung thực.
Tác giả luận văn

Trần Minh Đức


2


3

LỜI CẢM ƠN
Qua thời gian nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Tôi đã hoàn thành
Luận văn thạc sĩ kinh doanh và quản lý với Đề tài “Hoàn thiện tổ
chức kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chi tại
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh”.
Tôi xin chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Phương Hoa đã
hướng dẫn tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý giá trong suốt quá
trình viết và hoàn thành Luận văn.
Đồng thời Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô
giáo trong Hội đồng khoa học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân,
Khoa Kế toán, Kiểm toán và Phân tích, Viện Đào tạo Sau Đại học,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cùng Ban Giám hiệu, Cán bộ phòng
Kế toán tài vụ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã tạo điều



1

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của Đề tài nghiên cứu
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh là trường công lập
trực thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được thành lập
theo Quyết định số 78/2006/QĐ-TTg ngày 14/04/2006 của Thủ
tướng Chính phủ, trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật
Vinh. Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh là một trong bốn
trường đại học trên cả nước có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên
dạy nghề có trình độ đại học, đào tạo kỹ sư công nghệ của một số
ngành kỹ thuật. Đây là một trong những trường được thành lập sớm
(năm 1960) do Liên Xô xây dựng và tài trợ, sau đó là Hàn Quốc và
Nhật Bản.
Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của
Thủ tướng Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về
thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với
đơn vị sự nghiệp công lập nhằm giúp các đơn vị này hoàn thành
nhiệm vụ được giao, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp
dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội, tăng nguồn thu nhằm từng
bước giải quyết thu nhập cho người lao động. Theo đó, Trường Đại
học Sư phạm Kỹ thuật Vinh đã chủ động tổ chức công việc, sắp xếp
lại bộ máy tổ chức, tăng cường công tác quản lý tài chính trong đó
chú trọng đến công tác tổ chức kế toán, các quy chế kiểm soát nội


2

Cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu là chủ nghĩa duy vật
biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của chủ nghĩa
Mac – Lênin, của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục – đào tạo.
Phương pháp nghiên cứu dựa trên nghiên cứu lý luận, kết hợp
kinh nghiệm bản thân, nghiên cứu tư liệu, khảo sát thực tế ở trường,
sử dụng các phương pháp diễn giải, so sánh, tổng hợp, phân tích
nhằm khái quát lý luận, đánh giá thực tiễn để từ đó đưa ra các giải
pháp hoàn thiện.
5. Kết cấu của Đề tài
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, nội dung Luận văn bao
gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức kế toán
với kiểm soát nội bộ thu, chi ở các đơn vị sự nghiệp công lập;
Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán với kiểm soát nội bộ
thu, chi tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh;
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện tổ chức kế
toán nhằm tăng cường kiểm soát nội bộ thu, chi tại Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật Vinh.
6. Đóng góp của Đề tài
Về mặt lý luận, Luận văn đã hệ thống hóa, làm sáng tỏ lý luận
chung về tổ chức kế toán với kiểm soát nội bộ thu, chi ở đơn vị sự
nghiệp công lập;


4

Về mặt thực tiễn, Luận văn đã tìm hiểu, phân tích và đánh giá
thực trạng, đối chiếu giữa lý luận và thực trạng tổ chức kế toán với
kiểm soát nội bộ thu, chi tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
Vinh. Đồng thời, Luận văn đã phân tích những ưu điểm, nhược

trị, hiện vật và thời gian lao động.


6

Hạch toán kế toán là môn khoa học phản ánh và giám đốc các
quá trình, hoạt động kinh tế - tài chính ở tất cả các đơn vị, các tổ
chức kinh tế xã hội… [Nguồn tài liệu tham khảo số 5]
Kế toán là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản
lý kinh tế tài chính. Tổ chức kế toán là một trong những nội dung
thuộc về tổ chức quản lý và việc thực hiện công tác kế toán có tốt
hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của
công tác quản lý. Tổ chức kế toán, ngoài việc tuân thủ các nguyên
tắc chung của khoa học tổ chức, còn phải gắn với đặc thù của hạch
toán kế toán vừa là môn khoa học, vừa là nghệ thuật ứng dụng để
việc tổ chức đảm bảo được tính linh hoạt, hiệu quả và đồng bộ
nhằm đạt tới mục tiêu chung là tăng cường được hiệu quả sản xuất
kinh doanh của đơn vị.
Nội dung tổ chức kế toán trong một đơn vị kế toán bao gồm tổ
chức công tác hạch toán kế toán và tổ chức bộ máy kế toán. Các nội
dung chủ yếu của công tác tổ chức hạch toán kế toán bao gồm: tổ
chức, vận dụng hệ thống chứng từ kế toán và ghi chép ban đầu, tổ
chức hệ thống tài khoản kế toán và phương pháp ghi chép kế toán,
tổ chức hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính. Tổ chức bộ
máy kế toán là việc sắp xếp, bố trí, phân công công việc cho những
người làm công tác kế toán.
Tổ chức kế toán thích ứng với điều kiện về qui mô, về đặc
điểm tổ chức cũng như gắn với những yêu cầu quản lý cụ thể tại
đơn vị có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong việc nâng cao



Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá gốc của
tài sản được tính theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả,
phải trả hoặc tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài
sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi
có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thế.
Phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với
nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một
khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh
thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên
quan đến doanh thu của kỳ đó.
Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán đơn vị đã
chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán
năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã
chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong
phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán
cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc
chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi: Phải lập các khoản dự phòng
nhưng không lập quá lớn; Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài
sản và các khoản thu nhập; Không đánh giá thấp hơn giá trị của các
khoản nợ phải trả và chi phí; Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi
nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích


9

kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả
năng phát sinh chi phí.

phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài
chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các đơn vị
hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch.
[Nguồn tài liệu tham khảo số 7]
Về tổ chức hệ thống chứng từ kế toán: Mọi số liệu ghi chép
vào các loại sổ kế toán khác nhau cần có cơ sở bảo đảm tính pháp
lý, tức là những số liệu đó cần phải có sự xác minh tính hợp pháp,
hợp lệ thông qua các hình thức được nhà nước quy định cụ thể hoặc
có tính chất bắt buộc hoặc có tính chất hướng dẫn. Các hình thức
này chính là các loại chứng từ được các đơn vị sử dụng trong hoạt
động của mình. Mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều phải được kế
toán lập chứng từ theo đúng quy định của nhà nước phải ghi chép
đầy đủ, kịp thời đúng lúc, khách quan.
Để đảm bảo phân biệt và sử dụng trong quản lý kinh tế nói
chung và trong công tác kế toán nói riêng được thuận lợi, chứng từ
kế toán được phân loại theo các tiêu thức chủ yếu các cách phân loại
chứng từ. Mỗi cách phân loại này căn cứ vào các tiêu thức khác
nhau như:


11

Nếu căn cứ vào mức độ khái quát, chứng từ kế toán được chia
làm hai loại là chứng từ gốc và chứng từ tổng hợp.
Chứng từ gốc (chứng từ ban đầu): là loại chứng từ phản ánh
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và thực sự hoàn thành trong quá trình
hoạt động của đơn vị. Chứng từ gốc là cơ sở cho việc kiểm tra, kiểm
soát các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tại đơn vị về mặt mục
đích sử dụng, việc thực hiện các chỉ tiêu theo dự toán, theo kế
hoạch, các định mức, các quy định về các khoản thu, chi và các hoạt

từ này chỉ mới chứng minh xuất xứ của nghiệp vụ kinh tế, chưa nói
lên mức độ hoàn thành nên chưa là căn cứ ghi chép vào sổ kế toán.
Chứng từ thực hiện: là chứng từ chứng minh nghiệp vụ kinh tế
đã phát sinh và hoàn thành như phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập
xuất vật tư… Chứng từ chấp hành cùng với chứng từ mệnh lệnh sẽ
được dùng làm căn cứ ghi sổ kế toán.
Chứng từ thủ tục kế toán: Đây là chứng từ trung gian có mục
đích phân loại các nghiệp vụ kinh tế có liên quan theo từng đối
tượng cụ thể tạo thuận tiện cho việc ghi sổ kế toán nên phải kèm
theo chứng từ ban đầu mới đầy đủ cơ sở pháp lý chứng minh tính
hợp pháp của nghiệp vụ như bảng kê, chứng từ ghi sổ…
Chứng từ liên hợp: là loại chứng từ mang đặc điểm của hai
hay ba loại chứng từ trên như: hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, phiếu
xuất vật tư theo hạn mức…


13

Căn cứ theo địa điểm lập chứng từ, chứng từ được chia thành:
Chứng từ bên trong: là chứng từ do nội bộ đơn vị lập để thực
hiện hạch toán được sử dụng để giải quyết mối quan hệ trong nội bộ
đơn vị hoặc mói quan hệ với bên ngoài như phiếu thu, phiếu chi,
bảng thanh toán tiền lương, bảng tính giá thành…
Chứng từ bên ngoài: là các chứng từ có liên quan đến hoạt
động của đơn vị nhưng do đối tượng ở ngoài đơn vị lập như hóa đơn
mua hàng, giấy báo nợ, giấy báo có…
Nếu căn cứ vào nội dung kinh tế, chứng từ kế toán được chia
thành chứng từ về lao động tiền lương, chứng từ tiền tệ, chứng từ về
vật tư, chứng từ về tài sản cố định…
Chứng từ là cơ sở pháp lý của số liệu kế toán ảnh hưởng trực

trên chứng từ thì mới có giá trị. Chữ ký trên chứng từ kế toán của
một người phải thống nhất. Không được ký chứng từ kế toán khi
chưa ghi đủ nội dung chứng từ thuộc trách nhiệm của người ký. Chữ
ký trên chứng từ kế toán phải được ký bằng bút mực hoặc bút bi,
không được ký chứng từ kế toán bằng mực đỏ, bút chì hoặc đóng
dấu chữ ký khắc sẵn. Chứng từ kế toán chi tiền phải do người có
thẩm quyền ký duyệt chi và kế toán trưởng hoặc người được uỷ
quyền ký trước khi thực hiện. Chữ ký trên chứng từ kế toán dùng để
chi tiền phải ký theo từng liên. Riêng chứng từ điện tử phải có chữ
ký điện tử theo quy định của pháp luật.


15

Bước 3, Kiểm tra, chỉnh lý, tổ chức luân chuyển chứng từ và
ghi sổ kế toán
Tất cả các chứng từ kế toán đều phải được kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ, và hợp lý trước khi ghi vào sổ kế toán. Chứng từ kế
toán sau khi được kiểm tra xong phải hoàn chỉnh, bổ sung những
nội dung thông tin cần thiết để kế toán ghi sổ được chính xác, kịp
thời, đó là: ghi giá trên chứng từ, phân loại chứng từ, tổng hợp
chứng từ cùng loại, lập định khoản kế toán. Chứng từ được lập ở
nhiều nơi nhưng phải tập trung về bộ phận kế toán để được phản
ánh vào sổ sách. Vì vậy cần tổ chức luân chuyển chứng từ một cách
khoa học giúp cho việc ghi sổ nhanh chóng chính xác. Luân chuyển
chứng từ là việc giao chứng từ lần lượt đi đến các bộ phận có liên
quan để những bộ phận này có trách nhiệm kiểm tra xử lý, nắm
được tình hình thời gian hoàn thành nhiệm vụ và ghi vào sổ kế toán.
Tuỳ theo từng loại chứng từ mà có trình tự luân chuyển thích hợp
đảm bảo nguyên tắc nhanh chóng, kịp thời không gây trở ngại đến

cấp 1, cấp 2 đơn vị phải vận dụng theo đúng quy định, khi mở thêm
phải có sự chấp thuận của Bộ Tài chính, đối với tài khoản cấp 3 đơn
vị phải xây dựng danh mục và phương pháp ghi chép phục vụ cho
kế toán.


17

Thứ ba, Phù hợp với những quy định thống nhất của Nhà nước
và các văn bản hướng dẫn thực hiện của cơ quan quản lý kinh tế, tài
chính của đơn vị, phù hợp với tính đặc thù của mỗi ngành, nghề và
nội dung kinh tế phát sinh quy định áp dụng để hạch toán kế toán,
khi mở tài khoản cấp 2, cấp 3 phải có ý kiến của cơ quan tài chính.
Hệ thống tài khoản kế toán gồm các tài khoản trong bảng và
tài khoản ngoài bảng cân đối tài khoản. Các tài khoản trong bảng
cân đối tài sản phản ánh toàn bộ các nghiệp vụ kinh tế, tài chính
phát sinh theo các đối tượng kế toán gồm tài sản, nguồn hình thành
tài sản và quá trình sử dụng tài khoản trong đơn vị. Các tài khoản
nằm ngoài bảng cân đối tài khoản phản ánh những tài sản hiện có
của đơn vị nhưng không thuộc quyền sỏ hữu của đơn vị, những chỉ
tiêu kinh tế đã phản ảnh ở các tài khoản trong bảng nhưng cần theo
dõi để phục vụ cho quá trình quản lý của đơn vị.
Về tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và các hình thức
kế toán: Sổ kế toán dùng để ghi chép, hệ thống và lưu giữ toàn bộ
các nghiệp vụ kinh tế, tài chính đã phát sinh có liên quan đến đơn vị
kế toán. Sổ kế toán phải ghi rõ tên đơn vị kế toán; tên sổ; ngày,
tháng, năm lập sổ; ngày, tháng, năm khóa sổ; chữ ký của người lập
sổ, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế
toán; số trang; đóng dấu giáp lai. Mỗi đơn vị kế toán chỉ có một hệ
thống sổ kế toán cho một kỳ kế toán năm. Bộ Tài chính quy định cụ



19

tư, hàng hóa, chi phí sản xuất, tài sản cố định… Sổ kế toán chi tiết
được thiết kế phù hợp với yêu cầu hạch toán các phần hành kế toán.
Sổ kế toán phải mở vào đầu kỳ kế toán năm; đối với đơn vị kế
toán mới thành lập, sổ kế toán phải mở từ ngày thành lập. Đơn vị kế
toán phải căn cứ vào chứng từ kế toán để ghi sổ kế toán. Sổ kế toán
phải ghi kịp thời, rõ ràng, đầy đủ theo các nội dung của sổ. Thông
tin, số liệu ghi vào sổ kế toán phải chính xác, trung thực, đúng với
chứng từ kế toán. Việc ghi sổ kế toán phải theo trình tự thời gian
phát sinh của nghiệp vụ kinh tế, tài chính. Thông tin, số liệu ghi trên
sổ kế toán của năm sau phải kế tiếp thông tin, số liệu ghi trên sổ kế
toán của năm trước liền kề. Sổ kế toán phải ghi liên tục từ khi mở sổ
đến khi khóa sổ. Thông tin, số liệu trên sổ kế toán phải được ghi
bằng bút mực; không ghi xen thêm vào phía trên hoặc phía dưới;
không ghi chồng lên nhau; không ghi cách dòng; trường hợp ghi
không hết trang sổ phải gạch chéo phần không ghi; khi ghi hết trang
phải cộng số liệu tổng cộng của trang và chuyển số liệu tổng cộng
sang trang kế tiếp. Đơn vị kế toán phải khóa sổ kế toán vào cuối kỳ
kế toán trước khi lập báo cáo tài chính và các trường hợp khóa sổ kế
toán khác theo quy định của pháp luật. Đơn vị kế toán được ghi sổ
kế toán bằng tay hoặc ghi sổ kế toán bằng máy vi tính. Trường hợp
ghi sổ kế toán bằng máy vi tính, sau khi khóa sổ kế toán trên máy vi
tính phải in sổ kế toán ra giấy và đóng thành quyển riêng cho từng
kỳ kế toán năm.


20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status