Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Kế toán: Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 65

i

MỞ ĐẦU
1.Sự cần thiết của Đề tài
Trong bối cảnh chung của cuộc khủng hoảng và suy thoái toàn cầu,
NHĐTPTVN bị tác động sớm và cũng gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó, để
tiến hành chuyển đổi từ NHTM nhà nước sang NHTMCP, NHĐTPTVN đã tiến
hành sắp xếp lại mô hình tổ chức, tăng cường công tác quản lý đặc biệt chú trọng
đến hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ. Với tham vọng trở thành một tập đoàn
tài chính ngân hàng, việc kiểm soát nội bộ và tổ chức hạch toán kế toán là vấn đề
cần được quan tâm, giải quyết nhằm tạo ra một sự minh bạch, thông tin cung cấp
cho những người quan tâm là kịp thời và đáng tin cậy. Đó chính là ý nghĩa và
thực tiễn của đề tài “Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng
cƣờng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu của Đề tài
Đưa ra các giải pháp hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng
cường hệ thống kiểm soát nội bộ tại NHĐTPTVN.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tổ chức hạch toán kế toán với việc tăng cường kiểm
soát nội bộ. Phạm vi nghiên cứu là Hội sở chính NHĐTPTVN.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp xem
xét các vấn đề trên các quan điểm duy vật lịch sử, đồng thời vận dụng phương
pháp khảo sát, phân tích các tình hình dữ liệu và vận dụng vào điều kiện cụ thể,
cơ chế cụ thể đối với NHĐTPTVN.
5. Bố cục của Đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Lý luận chung về tổ chức hạch toán kế toán với kiểm soát nội
bộ tại các ngân hàng;
Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hạch toán kế toán với kiểm soát nội bộ tại
NHĐTPTVN;

vào TK kế toán hay sổ kế toán là các chứng từ hợp lệ, hợp pháp. Tổ chức vận dụng
hợp lý hệ thống chứng từ và ghi chép ban đầu có ý nghĩa quan trọng trong việc thu
nhận được thực tế về các hoạt động sử dụng tài sản, vật tư và nguồn kinh phí trong
quá trình hoạt động của các đơn vị. Trong thực tế, căn cứ vào hệ thống chứng từ kế
toán do BTC ban hành, mỗi đơn vị lựa chọn những chứng từ kế toán cần vận dụng
phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Tổ chức hệ thống TK kế toán: TK kế toán được sử dụng để phán ánh tình
hình biến động của từng tài sản, nguồn vốn của đơn vị. Để đảm bảo cung cấp
đầy đủ các thông tin cho quản lý thì đơn vị phải xây dựng được một hệ thống
TK phù hợp với quy định chung và đặc điểm hoạt động của đơn vị. Chính vì


iii
vậy, nội dung cơ bản của tổ chức hệ thống TK kế toán là lựa chọn những TK
kế toán do Nhà nước ban hành phù hợp với điều kiện của đơn vị để sử dụng.
Với các TK sử dụng cần thiết phải chi tiết cho quản lý của đơn vị thì tiến hành
mở chi tiết thành các TK cấp III, cấp IV... Từ đó hình thành hệ thống TK
riêng cho đơn vị mình.
Tổ chức hệ thống sổ kế toán: Tất cả các đơn vị thuộc mọi thành phần kinh
tế đều phải mở, ghi chép, quản lý, lưu trữ và bảo quản sổ kế toán theo quy định
của Luật Kế toán và theo quy định của BTC. Mỗi hình thức kế toán được quy
định một hệ thống sổ kế toán liên quan. Do vậy, khi tổ chức hệ thống sổ kế toán,
đơn vị cần phải lựa chọn hình thức kế toán phù hợp với đơn vị đồng thời đơn vị
cụ thể hóa các sổ kế toán theo hình thức kế toán đã lựa chọn, phù hợp với quy
mô, đặc điểm hoạt động của sản xuất kinh doanh, yêu cầu quản lý, trình độ
nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện trang bị kỹ thuật tính toán.
Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Hệ thống báo cáo kế toán của đơn vị
gồm hệ thống báo cáo kế toán tài chính và hệ thống báo cáo kế toán quản trị. Các
đơn vị bắt buộc phải lập, cung cấp báo cáo tài chính cho các đối tượng theo yêu
cầu của Luật Kế toán, Chuẩn mực Kế toán và Chế độ Kế toán.

bao gồm nhiều chức năng và có thể chia thành nhiều giai đoạn: Lập kế hoạch tổ
chức, cung cấp các nguồn lực, kiểm soát và điều hành. Để đảm bảo hiệu quả hoạt
động, tất yếu ở mỗi đơn vị đều phải tự kiểm tra mọi hoạt động của mình trong tất
cả các khâu: Rà soát các tiềm năng, xem xét lại các dự báo, các mục tiêu và định
mức, đối chiếu và truy tìm các thông số về sự kết hợp, soát xét lại các thông tin
thực hiện để điều chỉnh kịp thời trên quan điểm bảo đảm hiệu năng của mọi
nguồn lực và hiệu quả kinh tế cuối cùng của các hoạt động. Công việc rà soát
này có tên gọi là kiểm soát. Như vậy, kiểm soát luôn luôn tồn tại và được thực
hiện ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Do đó, kiểm soát là một chức
năng gắn với mọi giai đoạn của quá trình quản lý. Trong các đơn vị có quy mô
lớn, kiểm soát nội bộ được tổ chức thành một hệ thống.
1.1.2.2. Các loại kiểm soát nội bộ
Kiểm soát gắn liền với quản lý trong từng cấp, từng đơn vị cụ thể. Do đó
kiểm soát có thể có nhiều cách phân loại khác nhau. Trong quan hệ với Đề tài có
thể khái quát các phân loại chủ yếu sau: Trong quan hệ với quản lý một đơn vị
cụ thể, kiểm soát được phân thành kiểm soát tổ chức và kiểm soát kế toán; Trong
quan hệ với thời điểm thực hiện hoạt động có kiểm soát trước, kiểm soát hiện
hành và kiểm soát sau.
1.1.2.3. Các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Hệ thống kiểm soát nội bộ được hình thành trong các đơn vị có quy mô lớn và
được cấu thành bởi ba yếu tố cơ bản: Thứ nhất là môi trường kiểm soát;Thứ hai là
hệ thống chứng từ chủ yếu là thông tin kế toán; Thứ ba là thủ tục kiểm soát là
những kỹ thuật (cách thức) kiểm soát được thực hiện theo một trình tự xác định.
1.1.3. Mối quan hệ giữa kiểm soát nội bộ với tổ chức hạch toán kế toán
Trong mọi hoạt động của đơn vị, chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn giữ vai
trò quan trọng trong quá trình quản lý và được thực hiện chủ yếu bởi hệ thống kiểm


v
soát của đơn vị. Để thực hiện chức năng của mình kiểm soát nội bộ được tiến hành

cung cấp chính xác và trung thực.
Thứ hai: Hoạt động của ngân hàng đã dẫn đến ngân hàng tập trung được
một khối lượng vốn tiền tệ rất lớn của xã hội, số vốn này thường xuyên biến
động. Vì vậy, tổ chức hạch toán kế toán ngân hàng phải đảm bảo có độ chính xác
và kịp thời rất cao đáp ứng yêu cầu hạch toán của ngân hàng cũng như toàn bộ


vi

nền kinh tế. Khi tiếp nhận chứng từ, nhân viên kế toán ngân hàng kiểm soát
chứng từ; nếu chứng từ đảm bảo hợp lệ, hợp pháp thì cho hoàn thành nghiệp vụ
và phản ánh ngay vào sổ kế toán thích hợp để kiểm soát số dư TK hạn mức tín
dụng để chuẩn bị sẵn sàng cho giao dịch mới. Như vậy, tổ chức hạch toán tại các
đơn vị ngân hàng sẽ tiến hành đồng thời giữa kiểm soát, ghi sổ kế toán ngay khi
có nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
1.2.2. Đặc điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng thƣơng mại
Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng cũng được cấu thành bởi các yếu
tố như: Môi trường kiểm soát, hệ thống thông tin kế toán, các thủ tục kiểm soát.
Thứ nhất: Môi trường kiểm soát: Môi trường kiểm soát của ngân hàng cũng
chịu tác động của các nhân tố bên trong đơn vị như: Đặc thù quản lý và cơ cấu tổ
chức; Chính sách nhân sự; Công tác kế hoạch; Ủy ban kiểm soát; Kiểm soát nội bộ.
Môi trường kiểm soát bên ngoài: Các NHTM theo Điều lệ Tổ chức và Hoạt động
chịu chỉ đạo, giám sát của NHNN. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải tuân thủ các chế
độ tài chính, kế toán do NHNN hoặc BTC ban hành; đồng thời chịu sự kiểm tra,
thanh tra tài chính của chính phủ, chịu sự kiểm tra, giám sát của NHNN và các bộ,
ngành chức năng khác theo quy định của pháp luật của từng quốc gia.
Thứ hai: Hệ thống thông tin kế toán trong các NHTM. Các NHTM với
chức năng kinh doanh, trực tiếp phục vụ nền kinh tế nên đặc trưng của đối tượng
hạch toán kế toán là tạo vốn khả dụng và các hoạt động kinh doanh phục vụ
khách hàng. Chính vì vậy, ngành ngân hàng không những không thể sử dụng hệ

thể từ khâu tiếp nhận và kiểm soát chứng từ, xử lý chứng từ, xử lý chứng từ, hạch
toán vào sổ sách kế toán, đóng chứng từ, xử lý chứng từ thành tập nhật ký đến khâu
cuối cùng là lưu trữ, bảo quản chứng từ. Việc quy định hệ thống chứng từ phù hợp
đã đảm bảo các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được kiểm soát chặt chẽ và sử lý kịp
thời, đảm bảo độ chính xác góp phần cung cấp các thông tin nhanh và chính xác
phục vụ kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng.
Hai là, Tổ chức hệ thống TK kế toán: Hệ thống TK kế toán ngân hàng là
công cụ để ghi chép phản ánh hàng ngày đối với hoạt động nguồn vốn và sử
dung vốn tại các ngân hàng. Hệ thống TK kế toán áp dụng cho NHNN riêng và
hệ thống TK áp dụng cho các ngân hàng trung gian riêng.
Ba là, Tổ chức hệ thống sổ kế toán chi tiết chi phí và lãi suất vay: Trong các
ngân hàng hệ thống sổ sách được gắn với hai bộ phận là hạch toán chi tiết và
hạch toán tổng hợp. Sổ kế toán chi tiết theo dõi các đối tượng kế toán cụ thể như
từng khách hàng, từng loại vốn, tài sản, thu nhập, chi phí...Sự đối chiếu giữa sổ
tổng hợp và chi tiết trong các ngân hàng đảm bảo sự chính xác giữa thông tin
tổng hợp và chi tiết, cung cấp các thông tin cho quản lý cũng như kiểm soát nội
bộ đơn vị chi tiết đến tổng hợp một cách chính xác, đầy đủ.
Bốn là, Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán: Hệ thống báo cáo kế toán của
ngân hàng cũng gồm có báo cáo tài chính và báo cáo quản trị.
Thứ hai: Tổ chức bộ máy kế toán với tăng cường kiểm soát nội bộ: Mô hình tổ
chức bộ máy kế toán trong các ngân hàng có thể thực hiện theo mô hình kế toán phân
tán, mô hình kế toán tập trung, mô hình kế toán vừa tập trung, vừa phân tán.


viii

CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HẠCH TOÁN KẾ TOÁN
VỚI KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1. Đặc điểm cơ bản của Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam với tổ



ix
2.1.2.2.Mô hình tổ chức Hội sở chính Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
Bộ máy quản lý và điều hành của HSC NHĐTPTVN gồm có: Hội đồng
Quản trị, Ban Tổng giám đốc và bộ máy điều hành.
Hội đồng Quản trị có 6 thành viên, trong đó có Chủ tịch Hội đồng Quản trị
và 5 uỷ viên. Trực thuộc Hội đồng Quản trị có Ban kiểm soát và Hội đồng Xử lý
Rủi ro. Ban Tổng giám đốc chịu trách nhiệm điều hành hoạt động hàng ngày của
Ngân hàng. Ban Tổng giám đốc có Tổng Giám đốc và các phó tổng giám đốc
phụ trách các khối. Bộ máy điều hành bao gồm 7 khối: Khối Ngân hàng bán
buôn, khối bán lẻ và mạng lưới, khối vốn và kinh doanh vốn, khối quản lý rủi ro,
khối tác nghiệp, khối tài chính- kế toán, khối hỗ trợ. Bộ máy điều hành của
NHĐTPTVN là HSC đặt tại Hà Nội; NHĐTPTVN có 3 sở giao dịch và 103 chi
nhánh cấp 1 trên lãnh thổ Việt Nam. Các đơn vị thuộc HSC NHĐTPTVN gồm
có 25 ban, 6 trung tâm và 2 văn phòng đại điện.
2.2. Tổ chức hạch toán kế toán với kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Đầu tƣ
và Phát triển Việt Nam hiện nay
2.2.1. Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ kế toán với kiểm soát nội bộ
Tổ chức hạch toán kế toán của NHĐTPTVN áp dụng theo Quyết định
321/QĐ-NHNN2 ngày 04/12/1996 của Thống đốc NHNN Việt Nam Về việc
Ban hành Chế độ Chứng từ kế toán Ngân hàng và các TCTD.
Tổ chức vận dụng chứng từ tại HSC được quy định cụ thể về luân chuyển
chứng từ từ khi phát sinh nghiệp vụ kế toán đến khâu cuối cùng là lưu trữ, bảo
quản chứng từ tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức hạch toán kế toán kế toán tại
HSC thực hiện được mục tiêu của kiểm soát nội bộ là bảo vệ tài sản của đơn vị
và đảm bảo độ tin cậy của các thông tin.
2.2.2. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán và sổ sách kế toán với
kiểm soát nội bộ
NHĐTPTVN sử dụng hệ thống TK kế toán theo Quyết định Số 479/2004/QĐNHNN ngày 29/04/2004 của Thống đốc NHNN Về việc Ban hành Hệ thống TK Kế

tác là các tổ chức, các công ty và chi nhánh trực thuộc NHĐTPTVN qua các kênh
thông tin liên lạc như mạng internet, thư điện tử, điện thoại...
Nhân viên của Phòng Kế toán HSC đều có trình độ đại học trở lên nên tổ
chức hạch toán kế toán tại Ngân hàng có nhiều thuận lợi. Nhiệm vụ của từng cán
bộ trong Phòng Kế toán cũng được quy định rõ ràng dựa trên yêu cầu công tác
của Phòng cũng như năng lực chuyên môn của từng cá nhân nên công tác tổ
chức hạch toán kế toán tại Ngân hàng được thực hiện tương đối tốt.
2.2.6. Tổ chức hạch toán kế toán các phần hành với kiểm soát nội bộ tại
Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
2.2.6.1. Tổ chức Kế toán tài sản
Tổ chức hạch toán kế toán vật tư, tài sản tại chi nhánh với việc tuân thủ các
nguyên tắc kiểm soát nội bộ đã đảm bảo được yêu cầu có sự phê chuẩn hợp lý đối


xi

với mỗi nghiệp vụ xảy ra, không ghi chép những nghiệp vụ không có thực vào sổ
sách và phản ánh đầy đủ, trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Từ đó, đảm bảo
mục tiêu kiểm soát nội bộ là nhằm quản lý chặt chẽ tài sản của Ngân hàng, đảm bảo
an toàn tài sản và điều kiện vật chất phục vụ cho hoạt động của Ngân hàng.
2.2.6.2. Kế toán thanh toán nội bộ và thanh toán khác
Việc tổ chức hạch toán kế toán phần hành này được phản ánh chi tiết trên
các TK chi tiết phù hợp cũng như tuân thủ quy trình hạch toán và đã phản ánh
được đầy đủ các thông tin phục vụ yêu cầu quản lý cũng như đáp ứng được yêu
cầu kiểm soát đối với các khoản nợ phải thu, phải trả của Ngân hàng.
2.2.6.3. Kế toán nguồn vốn, quỹ
Việc kiểm soát tình hình biến động các loại nguồn vốn của chi nhánh tương
đối thuận lợi vì đã có hệ thống các văn bản quy định rõ về việc trích lập dự phòng
rủi ro và thời hạn điều chuyển số đã trích về HSC, quy định rõ về việc điều
chuyển nguồn vốn chi nhánh huy động về HSC cũng như hạch toán điều chuyển

chức hạch toán kế toán cũng như công tác kiểm soát nội bộ vẫn còn một số hạn
chế nhất định.
Thứ nhất: Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán cần được bổ sung thêm một
số biểu mẫu cho các giao dịch phái sinh.
Thứ hai: Một số TK tiền gửi và nhận tiền gửi tại các TCTD cần được mở
chi tiết hơn.
Thứ ba: Còn một số hạn chế tổ chức bộ máy kế toán cần phải thay đổi cho
phù hợp với yêu cầu kiểm soát nội bộ cũng như đáp ứng yêu cầu về tự chủ và
minh bạch trong hoạt động tài chính của Ngân hàng trong thời gian tới.
Thứ tư: Cần đầu tư thêm về công nghệ để nâng cấp hoặc mua mới chương
trình phục vụ cho việc theo dõi và hạch toán kế toán vì hiện nay có nhiều nghiệp
vụ kế toán vẫn phải hạch toán và theo dõi thủ công.


xiii
CHƢƠNG 3:PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC
HẠCH TOÁN KẾ TOÁN NHẰM TĂNG CƢỜNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

3.1. Sự cần thiết, yêu cầu và phƣơng hƣớng hoàn thiện tổ chức hạch toán kế
toán với tăng cƣờng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển
Việt Nam
Một là, Ngân hàng hoạt động trong bối cảnh suy thoái kinh tế mang tính
chất toàn cầu do đó sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Vì vậy, Ngân hàng càng
cần phải có tổ chức hạch toán kế toán hoạt động hiệu quả để cung cấp những
thông tin kịp thời, tin cậy cho Ban lãnh đạo ngân hàng đưa ra những quyết sách
đúng lúc, linh hoạt để điều hành hoạt động kinh doanh.
Hai là, Tổ chức hạch toán kế toán của Ngân hàng cũng cần phải có những
đổi mới để hoàn thiện phù hợp với những thay đổi trong điều kiện hiện nay khi
NHNN luôn có những quyết định, thông tư mới, điều luật mới,… yêu cầu các

Số 346/QĐ-NHNN ngày 13/02/2008, NHĐTPTVN cần sửa đổi và mở thêm một
số TK chi tiết.
3.2.3. Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán với tăng cƣờng kiểm soát nội bộ
Để phục vụ yêu cầu quản lý cũng như việc tổ chức hạch toán kế toán của
Ngân hàng, đề nghị bổ sung thêm mẫu “Báo cáo tổng hợp tình hình các khoản
đầu tư tiền gửi liên ngân hàng quá hạn hàng quý ”. Để thuận tiện cho thanh toán
viên trong việc theo dõi luồng tiền hoán đổi trong gia dịch Hoán đổi lãi suất theo
ngày, theo tháng, theo quý và dễ dàng hơn trong việc đối chiếu số dư trên hồ sơ
với số dư trên cân đối, cần bổ sung thêm “Báo cáo luồng tiền giao dịch”.
3.2.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán với tăng cƣờng kiểm soát nội bộ
Việc hậu kiểm chứng từ là vô cùng cần thiết nhằm phát hiện ra gian lận và
sai sót trong kế toán. Vì vậy, nên tách Bộ phận Hậu kiểm thành một phòng riêng,
độc lập với bộ phận hạch toán. Việc phân công sẽ được luân chuyển 6 tháng một
lần, đảm bảo khách quan và tạo điều kiện thuận lợi cho một nhân viên kế toán có
thể thông thạo nhiều nghiệp vụ, tránh sai sót và tăng khả năng sáng tạo, cải tiến
công việc.
3.3.5. Đầu tƣ đổi mới công nghệ với tăng cƣờng kiểm soát nội bộ
Cùng với nhu cầu mở rộng và phát triển quy mô hoạt động, đồng thời đảm
bảo hiệu quả trong quản lý rủi ro và quản trị điều hành hoạt động kinh doanh vốn
tại NHĐTPTVN, trước đòi hỏi ngày càng cao của thị trường và tình hình cạnh
tranh gay gắt, đã đặt ra yêu cầu cấp bách cần có một Chương trình Kế toán Vốn
hiện đại, tự động, chuyên nghiệp và an toàn. Vì vậy, về lâu dài, HSC cần nghiên
cứu để nâng cấp hoặc đầu tư một Chương trình Kế toán Vốn mới đáp ứng đầy đủ
nhu cầu sử dụng trong hiện tại và tương lai.


xv

KẾT LUẬN
Với yêu cầu ngày càng cao của quản lý, NHĐTPTVN càng phải tăng





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status