luận văn thạc sĩ Giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả dịch vụ thanh toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên
cứu khoa học độc lập của tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Thanh Mai
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHTW : Ngân hàng trung ương
BIDV, NHĐT&PTVN : Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
VND : Đồng Việt Nam
USD : Đồng Đô la Mỹ
POS : Điểm chấp nhận thẻ
ATM : Máy rút tiền tự động
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức
Thương mại thế giới WTO. Những cam kết quốc tế của Việt Nam trong việc
mở cửa thị trường tài chính – ngân hàng đòi hỏi các Ngân hàng thương mại
Việt Nam phải nhanh chóng chuyển mình, hội nhập, đổi mới phương thức
kinh doanh. Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra ngày càng mạnh mẽ
thể hiện không chỉ ở những nghiệp vụ ngân hàng truyền thống mà còn ở
những dịch vụ thanh toán mới cho khách hàng. Tổ chức thanh toán nhanh

luận cơ bản về dịch vụ thanh toán tại ngân hàng thương mại. Đồng thời đi vào
phân tích tình hình thực tế phát triển và nâng cao hiệu quả dịch vụ thanh toán
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và đề xuất các giải pháp.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phương pháp phân tích - tổng hợp - thống kê, kế thừa một số nghiên cứu
đã có, đồng thời khảo sát thực nghiệm thu thập thông tin, tài liệu phục vụ cho
việc nghiên cứu.
5. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, Luận văn được kết cấu theo 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về dịch vụ thanh toán tại Ngân hàng thương mại
Chương 2: Tình hình phát triển và nâng cao hiệu quả dịch vụ thanh
toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam hiện nay
Chương 3: Giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả dịch vụ thanh
toán tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt nam
Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng 10 bảng và 9 biểu đồ để minh hoạ cho
nội dung liên quan.
2
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN TẠI
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiền tệ được coi là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh
toán cho hàng hóa, dịch vụ hoặc trong việc trả các món nợ. Các-Mác cho
rằng: “ Tiền là một vật được kết tinh, hình thành một cách tự nhiên trong trao
đổi”. Tiền tệ thực hiện chức năng phương tiện trao đổi khi nó xuất hiện trong
lưu thông với tư cách là tiền mặt. Ngày nay, hầu hết các giao dịch trên thị
trường trong nền kinh tế của chúng ta, tiền trong dạng tiền mặt hoặc séc là
phương tiện trao đổi, có nghĩa là nó được dùng thanh toán hàng hóa dịch vụ
trong đời sống kinh tế xã hội. Các chức năng và các dạng của tiền được thể

Thanh toán bằng tiền mặt qua ngân hàng là hình thức thanh toán phải
qua quy trình thu- chi trong đó, thủ quỹ và khách hàng phải phân loại, lập
bảng kê và kiểm đếm số lượng và chất lượng tiền mặt của khách hàng nộp
hoặc rút ra.
Có thể thấy dịch vụ thanh toán bằng tiền mặt tốn nhiều thời gian và
công sức cho việc kiểm đếm, đóng bó tiền mặt. Với những giao dịch với giá
trị thanh toán lớn mà thanh toán bằng tiền mặt sẽ tốn rất nhiều thời gian,
công sức, khó chính xác, hiệu quả kinh tế không cao Mặt khác, thanh toán
bằng tiền mặt bị hạn chế không những về mặt thời gian mà cả về không gian.
Ngoài ra, thanh toán bằng tiền mặt còn tạo điều kiện cho nạn tiền giả, buôn
gian bán lận, trốn lậu thuế, tham nhũng, rửa tiền Khi thị trường dịch vụ ngân
hàng bán lẻ chưa phát triển, dịch vụ thanh toán chưa tiên tiến, nhiều tiện ích
hấp dẫn khách hàng, thói quen tiêu dùng tiền mặt còn phổ biến thì bộ máy
thực hiện dịch vụ thanh toán bằng tiền mặt của ngân hàng còn lớn và chi phí
còn cao.
Xu thế hội nhập kinh tế đòi hỏi việc ra đời các phương tiện thanh toán
4
hiện đại với nhiều tiện ích đáp ứng nhu cầu giao dịch một cách “chính xác –
nhanh chóng – an toàn” ngày càng mang tính cấp thiết. Do đó, thanh toán
bằng tiền mặt sẽ ít được sử dụng và hạn chế tối đa. Các phương tiện thanh
toán không dùng tiền mặt – gọi chung là sản phẩm dịch vụ thanh toán sẽ
ngày càng phát triển là tất yếu.
1.2. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ THANH TOÁN KHÔNG DÙNG
TIỀN MẶT
1.2.1. Khái niệm
Thanh toán không dùng tiền mặt (viết tắt là TTKDTM) là cách thức
thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ không có sự xuất hiện của tiền mặt mà được
tiến hành bằng cách trích tiền từ tài khoản của người phải trả chuyển vào tài
khoản của người thụ hưởng hoặc bằng cách bù trừ lẫn nhau thông qua vai trò
trung gian của Ngân hàng thương mại.

quy định hoặc được thỏa thuận trước. Người trả tiền có quyền từ chối thanh
toán nếu các chủ thể khác vi phạm những cam kết hay những quy định đã
thỏa thuận giữa hai bên.
- Người thụ hưởng là người được một khoản tiền nào đó do đã giao
hàng, cung ứng dịch vụ hay do luật định hoặc do thiện chí của người khác.
Đối với người thụ hưởng là người bán hàng hay cung ứng dịch vụ cơ sở
để nhận tiền là các chứng từ hay hóa đơn giao hàng. Trong trường hợp người
thụ hưởng với tư cách là tổ chức tài chính, cơ sở nhận tiền là những quy định,
lệnh điều chuyển của cấp trên. Trường hợp người thụ hưởng là chủ nợ thì cơ
sở để nhận tiền là các hợp đồng hay khế ước vay nợ.
- Các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán là Ngân hàng Trung Ương,
Ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức khác được làm dịch vụ thanh toán.
Thứ ba, Chứng từ thanh toán
Chứng từ thanh toán là các phương tiện chuyển tải những điều kiện
thanh toán và được sử dụng làm căn cứ thực hiện việc chi trả. Chứng từ thanh
toán gồm lệnh thu, lệnh chi do chính người thụ hưởng hay người trả tiền lập
ra. Tuy theo từng hình thức thanh toán cụ thể mà các chứng từ trả tiền lập ra.
6
Tùy theo từng hình thức thanh toán cụ thể mà các chứng từ thanh toán có
những mức độ phức tạp khác nhau. Những nội dung cơ bản trên chứng từ
thường là: tên, địa chỉ người trả tiền và người thụ hưởng; số tiền; lý do trả
tiền; chữ ký và dấu (đối với pháp nhân) của chủ tài khoản và kế toán trưởng.
1.2.3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt hiện hành
1.2.3.1. Thanh toán bằng Séc
Séc là phương tiện thanh toán do người ký phát lập dưới hình thức
chứng từ theo mẫu in sẵn, lệnh cho người thực hiện thanh toán trả không điều
kiện một số tiền nhất định cho người thụ hưởng có tên trên tờ séc hoặc người
cầm séc.
Séc là phương tiện TTKDTM ra đời sớm và từ lâu đã được sử dụng
rộng rãi cho các thanh toán trong nước và quốc tế. Quy tắc sử dụng Séc đã

thanh toán. Ngoài ra nó chịu ảnh hưởng của mối quan hệ kinh tế, độ tín
nhiệm giữa bên mua và bên bán bởi vì mức độ rủi ro trong hình thức thanh
toán này cao hơn các hình thức thanh toán khác, ví dụ: việc giả mạo, việc
đảm bảo số dư thanh toán.
1.2.3.2. Thanh toán bằng lệnh Chi hoặc Ủy nhiệm Chi
Ủy nhiệm Chi (UNC) là lệnh chi của chủ tài khoản được lập theo mẫu
in sẵn của Ngân hàng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản
tiền gửi) trích tiền tài khoản của mình để trả cho người thụ hưởng.
Khi nhận được UNC,trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng phục
vụ người trả tiền phải hoàn tất lệnh chi hoặc từ chối thực hiện nếu tài khoản
của khách hàng không đủ tiền hoặc lệnh chi lập không hợp lệ.
UNC có thủ tục thanh toán đơn giản, không gây phiền hà cho người trả
tiền, chỉ sau một thời gian ngắn người thụ hưởng đã nhận được tiền trả mà
không phải đến Ngân hàng làm thủ tục, với những ưu điểm nổi bật là an toàn,
8
thuận lợi, hiệu quả…
Tuy nhiên,trong thanh toán bằng UNC - Chuyển tiền thì việc trả tiền
cho người thụ hưởng là do thiện chí của người trả tiền. Nếu người trả tiền
không sòng phằng trong thanh toán thì người thụ hưởng sẽ bị chiếm dụng
vốn, người trả tiền vẫn phải đến ngân hàng để làm thủ tục trích tài khoản
chuyển cho người thụ hưởng.
1.2.3.3. Thanh toán bằng Ủy nhiệm thu
Ủy nhiệm thu (UNT) là giấy ủy nhiệm đòi tiền do người thụ hưởng gửi
vào ngân hàng phục vụ mình để nhờ thu tiền về số lượng hàng hóa đã giao,
dịch vụ đã cung ứng.
Khi nhận được giấy UNT, trong vòng một ngày làm việc, Ngân hàng
phục vụ bên trả tiền phải trích tài khoản của bên trả tiền để trả ngay cho bên
thụ hưởng để hoàn tất việc thanh toán.
UNT có phạm vi thanh toán rộng giúp cho các đơn vị cung cấp dịch vụ
công cộng đỡ mất công đến từng nơi thu tiền.

và chỉ được thanh toán một lần (trường hợp đặc biệt được thanh toán hai lần).
+ Sau thời gian hiệu lực quy định, Thư tín dụng đã mở không được sử
dụng sẽ hủy bỏ bằng việc trả lại tiền trên tài khoản Thư tín dụng vào tài khoản
tiền gửi người trả tiền.
Như vậy, trong thanh toán Thư tín dụng khả năng đảm bảo chi trả là
chắc chắn theo những điều khoản mà hai bên đã thỏa thuận.
Song thủ tục mở thư tín dụng phiền hà, người mua hàng bị đọng vốn
do phải ký gửi một khoản tiền lớn trên TKTG đảm bảo than toán Thư tín
dụng mà không được hưởng lãi. Vì vậy, phương tiện thanh toán này ít được
áp dụng trong quan hệ thanh toán trong nước mà thường được áp dụng trong
thanh toán quốc tế.
1.2.3.5. Thanh toán bằng thẻ
10
Thẻ thanh toán là một công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành và
bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng, dịch vụ, các khoản thanh toán
khác và rút tiền măt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền
mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy trả tiền mặt tự động.
Đây là phương tiện thanh toán hiện đại vì nó gắn với kỹ thuật tin học ứng
dụng trong Ngân hàng.
Nếu phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ, thẻ bao gồm: Thẻ tín
dụng (Credit card), thẻ ghi nợ (Debit card).
+ Thẻ ghi nợ (Debit card): khách hàng được phép thanh toán trong
phạm vi hạn mức của thẻ
+ Thẻ tín dụng (Credit card): khách hàng chỉ được thanh toán số tiền
trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được ngân hàng chấp nhận bằng văn bản.
Nếu phân loại theo phạm vi thanh toán thẻ, thẻ bao gồm: Thẻ nội địa,
thẻ quốc tế.
Nếu phân loại theo tính chất vật lý của thẻ: thẻ ghi từ, thẻ chip (smart card).
Để có thể sử dụng được thẻ thanh toán, người sử dụng phải được ngân
hàng phát hành thẻ. Khi có nhu cầu thanh toán thẻ, chủ thẻ thực hiện thanh

hiện đại hóa. Theo đó, các dịch vụ thanh toán Ngân hàng tiên tiến với những
tiện ích hiện đại sẽ ngày càng phát triển làm nâng cao chất lượng thanh toán
trong nền kinh tế.
1.2.4. Các phương thức thanh toán giữa các ngân hàng
Thanh toán giữa các Ngân hàng là nghiệp vụ thanh toán qua lại giữa
các ngân hàng nhằm tiếp tục hoàn thành quá trình thanh toán tiền giữa các
doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân với nhau mà họ không cùng nhau mở
tài khoản tại một ngân hàng hoặc thanh toán trong nội bộ các hệ thống ngân
hàng. Phương thức thanh toán giữa các ngân hàng rất đa dạng và phong phú
ngoài thanh toán nội bộ của từng ngân hàng còn có hệ thống thanh toán liên
12
ngân hàng để giải quyết quan hệ thanh toán vốn giữa các đơn vị ngân hàng
khác hệ thống.
1.2.4.1. Thanh toán nội bộ của từng hệ thống ngân hàng
Thanh toán nội bộ ngân hàng là phương thức thanh toán vốn giữa các
chi nhánh ngân hàng trong cùng một hệ thống ngân hàng.
Thực chất của thanh toán nội bộ trong một hệ thống ngân hàng là việc
chuyển tiền từ chi nhánh này đến chi nhánh khác để phục vụ thanh toán tiền
hàng hóa, dịch vụ của hai khách hàng (mua và bán) khi cả hai khách hàng
không cùng mở tài khoản ở một chi nhánh ngân hàng; hoặc là chuyển cấp
vốn, điều hòa vốn trong nội bộ một hệ thống ngân hàng. Mạng thanh toán nội
bộ của các ngân hàng là cơ sở để các ngân hàng thực hiện tập trung vốn, mở
rộng và phát triển hoạt động kinh doanh. Mạng thanh toán nội bộ của các
ngân hàng thường áp dụng một trong hai phương thức phụ thuộc vào mô hình
quản lý của khách hàng đó là:
+ Mô hình quản lý khách hàng phân tán
+ Mô hình quản lý khách hàng tập trung
Trong đó mô hình quản lý khách hàng tập trung (tập trung hóa tài
khoản) được áp dụng phổ biến tại các NHTM mà quá trình thanh toán đã
được áp dụng công nghệ đồng bộ công nghệ thông tin hiện đại.

tiền được diễn ra một cách liên tục theo thời gian thực tế phát sinh chuyển
tiền, tức là các giao dịch thanh toán (các lệnh chuyển tiền) được xử lý ngay
theo tổng số tiền phải thanh toán và theo từng lệnh chuyển tiền.
1.2.4.4. Thanh toán qua tài khoản tiền gửi tại ngân hàng khác
Phương thức thanh toán này được áp dụng giữa hai đơn vị ngân
hàng trong cùng hệ thống và giữa hai ngân hàng hoặc đơn vị ngân hàng
khác hệ thống.
Để thanh toán theo phương thức này đòi hỏi ngân hàng hoặc đơn vị
14
ngân hàng này phải mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng kia hoặc ngược lại.
Theo đó, hai ngân hàng phải đăng ký mẫu dấu, chữ ký của người có thẩm
quyền ra lệnh thanh toán.
1.2.4.5. Thanh toán song phương
Đây là phương thức thanh toán thông qua thoả thuận song phương,
theo đó ngân hàng mở tài khoản tại một ngân hàng khác để thực hiện thanh
toán song phương. Việc tổ chức liên kết nối mạng thanh toán song phương
nhằm mở rộng phạm vi thanh toán: các chi nhánh ngân hàng thuộc 2 hệ
thống kết nối thanh toán song phương có thể thực hiện chuyển lệnh thanh
toán trực tiếp với nhau, thời gian chuyển và nhận lệnh thường nhanh hơn rất
nhiều so với các kênh thanh toán khác. Đồng thời tạo điều kiện cho bản thân
ngân hàng tập trung được nguồn vốn, tăng thu phí dịch vụ, góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh.
1.3. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ THANH TOÁN CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Đối với nền kinh tế
Để điều hành chính sách tiền tệ có hiệu quả, NHTW phải có khả năng
kiểm soát được vốn khả dụng của hệ thống ngân hàng, dự báo được sự biến
động của vốn khả dụng, có khả năng can thiệp thị trường tiền tệ một cách
nhanh chóng hữu hiệu. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi có một hệ
thống thanh toán tin cậy, an toàn và hiệu quả.

kinh tế khi khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Qua việc kiểm tra giám sát
các khách hàng chấp hành tốt kỷ luật thanh toán và các nguyên tắc quản lý tài
chính của Nhà nước, từ đó đề ra các chính sách thanh toán thích hợp nhằm
kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả, tăng sức mua của đồng tiền.
Thanh toán qua ngân hàng giúp hệ thống NHTM thực hiện chức năng tạo
16
tiền. Nếu khách hàng rút tiền mặt ra khỏi ngân hàng thì số tiền đó không nằm
trong khâu thanh toán của ngân hàng. Nếu sử dụng dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng thì khách hàng chỉ cần yêu cầu ngân hàng trích tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng mình mở tài khoản trả cho khách hàng khác. Trong quá trình
thanh toán đó thì nguồn vốn được luân chuyển từ tài khoản này sang tài khoản
khác, từ ngân hàng này sang ngân hàng khác và tạo ra bội số tiền gửi.
1.3.3. Đối với khách hàng
Các rủi ro trong thanh toán, bảo quản và vận chuyển tiền mặt của các tổ
chức, cá nhân luôn tiềm ẩn, nguy cơ bị trộm cướp tài sản lớn, bên cạnh đó là
rủi ro về kiểm đếm tiền thật, giả. Nếu khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán
do ngân hàng cung ứng thì những rủi ro này sẽ giảm thiểu đáng kể.
Dịch vụ thanh toán qua ngân hàng đa dạng, phong phú đáp ứng một
cách nhanh chóng, thuận tiện và cho phép khách hàng có nhiều sự lựa chọn
phù hợp với nhu cầu của mình.
Thanh toán vừa là khâu mở đầu và cũng vừa là khâu kết thúc của một
chu kỳ sản xuất kinh doanh. Do đó nếu tổ chức tốt trong khâu thanh toán thì
sẽ tăng nhanh vòng quay của vốn giúp doanh nghiệp thu hồi vốn nhanh để
phục vụ tốt cho chu kỳ sản xuất sau. Thanh toán qua ngân hàng rút ngắn được
thời gian thanh toán, tiết kiệm vốn, tăng nhanh tốc độ quay vòng của vốn góp
phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
1.4. TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐỐI VỚI DỊCH VỤ THANH TOÁN
NGÂN HÀNG
1.4.1. Độ chính xác
Tiêu chuẩn đầu tiên để đánh giá hiệu quả của dịch vụ thanh toán Ngân

nợ mất khả năng thanh toán tạm thời.
1.4.4. Sản phẩm dịch vụ thanh toán đa dạng với giá cả hợp lý
Trong nền kinh tế thị trường, nhu cầu thanh toán của các cá nhân, tổ
chức rất khác nhau về quy mô, thời gian, mục đích đòi hỏi có nhiều loại
dịch vụ thanh toán đa dạng, phù hợp.
18
Bên cạnh đó, giá cả sản phẩm dịch vụ thanh toán là chi phí các chủ thể
tham gia phải trả cho giao dịch. Vì vậy, chủ thể tham gia thanh toán sẽ cân
nhắc lựa chọn giữa chi phí và tiện ích sao cho hiệu quả nhất.
Bởi vậy, các ngân hàng muốn thu hút khách hàng tham gia sử dụng dịch
vụ thanh toán thì ngoài việc đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch
vụ thì phải đưa ra mức phí hợp lý nhất.
1.5. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THANH TOÁN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.5.1. Nhân tố khách quan
1.5.1.1. Môi trường pháp lý và chính sách
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh hàng hóa đặc biệt - tiền tệ - nên
chịu tác động trực tiếp của Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín
dụng, Luật Doanh nghiệp Hoạt động thanh toán cũng đã có các Nghị định
của Chính phủ, các quy định của Ngân hàng Nhà nước trực tiếp chỉ đạo. Do
đó, chỉ một thay đổi nhỏ của pháp luật sẽ tạo cơ hội và thách thức cho Ngân
hàng. Công tác thanh toán qua Ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo an toàn,
kịp thời, chính xác đồng thời phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, chế độ
đặt ra trong thanh toán do các Cơ quan có thẩm quyền ban hành.
Trong điều kiện kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa các chủ thể tham
gia thanh toán với nhau cần được xác định rõ ràng bằng các quy định pháp lý
và phải được đảm bảo hiệu lực thi hành. Nếu hệ thống pháp luật đảm bảo cho
hệ thống thanh toán không đầy đủ, không đồng bộ thì các chủ thể sẽ không
yên tâm khi tham gia vào hoạt động thanh toán xét cả từ khía cạnh người tổ
chức thanh toán là các Ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán và cả

phẩm dịch vụ mà Ngân hàng cung ứng thì việc tiếp cận tới khách hàng sẽ
nhanh chóng và dễ dàng hơn. Tâm lý cũng là một yếu tố rất quan trọng.
20
Hiện nay, tâm lý ưa dùng tiền mặt vẫn phổ biến. Nhiều người vẫn chưa có
niềm tin và hiểu biết về dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, hay chính dịch
vụ thanh toán của Ngân hàng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Thanh toán qua ngân hàng chủ yếu là các doanh nghiệp, cá nhân tham gia
với số lượng không nhiều.
- Mức thu nhập bình quân đầu người: Người có thu nhập cao luôn
muốn được sử dụng những dịch vụ tiện lợi, chất lượng tốt nhất mà ngân hàng
cung ứng. Nếu thu nhập của người dân chưa cao nên họ chưa đủ điều kiện và
chưa muốn tham gia thanh toán qua ngân hàng.
- Mức độ hoạt động tội phạm: Xu thế sử dụng tiền mặt sẽ tăng lên nếu
các hoạt động kinh tế ngầm như buôn lậu, trốn thuế phát triển mạnh. Để tránh
rủi ro bị mất cắp, cướp giật, tiền giả mọi người xu có xu hướng sử dụng dịch
vụ thanh toán qua ngân hàng – thanh toán không dùng tiền mặt.
1.5.2. Nhân tố chủ quan
1.5.2.1. Mạng lưới cung cấp dịch vụ thanh toán
Mạng lưới cung cấp dịch vụ thanh toán qua ngân hàng một nhân tố
quan trọng ảnh hưởng tới hoạt động thanh toán trong nền kinh tế. Nếu các
ngân hàng có mạng lưới giao dịch rộng khắp cả nước sẽ tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân đến giao dịch thanh
toán, từ đó mở rộng phạm vi và phát triển thanh toán qua ngân hàng. Tuy
nhiên, việc mở rộng mạng lưới thanh toán bằng phương pháp truyền thống là
thành lập các chi nhánh, các điểm giao dịch sẽ gặp rất nhiều khó khăn do
phải xây dựng trụ sở, trang bị cơ sở vật chất và đầu tư về nhân lực. Ngày
nay, nhờ việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại trong hoạt động thanh
toán mà các ngân hàng có thể mở rộng mạng lưới bằng việc kết nối mạng
với khách hàng để cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng nói
chung cho khách hàng. Đó cũng là xu hướng mà các ngân hàng thực hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status