MỤC LỤC
Nâng cao trình độ của cán bộ xếp hạng tín dụng 81
10. LÊ THỊ KHOA NGUYÊN (2005), XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM CÁC
TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM, LUẬN ÁN TIẾN SỸ, TP
HCM 91
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1: Mô hình khái quát chấm điểm đối với các khách hàng là
doanh nghiệp Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.2: Xác định quy mô doanh nghiệpError: Reference source not
found
Sơ đồ 2.3: Mô hình khái quát chấm điểm đối với các tổ chức tín dụng Error:
Reference source not found
Bảng, biểu
Nâng cao trình độ của cán bộ xếp hạng tín dụng 81
10. LÊ THỊ KHOA NGUYÊN (2005), XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XẾP HẠNG TÍN NHIỆM CÁC
TỔ CHỨC KINH TẾ TRONG QUAN HỆ TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM, LUẬN ÁN TIẾN SỸ, TP
HCM 91
TÓM TẮT
Hoạt động ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường là một
trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro, bao gồm nhiều loại nghiệp vụ,
nhưng tựu chung lại, đây là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một
trung gian tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ
thanh toán. Xếp hạng tín dụng là một biện pháp ngày càng được các ngân
hàng chú ý sử dụng để đánh giá khách hàng vay vốn.
Hệ thống chấm điểm xếp hạng tín dụng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam đã ra đời, hỗ trợ đắc lực cho việc phân loại nợ, quản lý chất lượng tín
dụng phù hợp với phạm vi hoạt động và tình hình thực tế. Tuy nhiên, trong quá
trình triển khai thực tế, công tác xếp hạng tín dụng theo hệ thống xếp hạng tín
dụng của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cũng gặp phải một số khó
dài, quy định các mức tín dụng, tài sản bảo đảm và hạn chế tín dụng. Việc
quản trị tín dụng có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành công hay thất bại của
ngân hàng. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng đối với ngân hàng,
có thể phân làm 03 nhóm: Nhóm nguyên nhân khách quan, nhóm nguyên
nhân chủ quan từ phía người đi vay và nhóm nguyên nhân thuộc về chủ quan
của ngân hàng. Để quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng một
số công cụ như chính sách tín dụng, giới hạn cấp tín dụng, định giá khoản
vay, xếp hạng tín dụng, tài sản bảo đảm và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Hiện nay có nhiều thuật ngữ được sử dụng để chỉ việc thực hiện đánh
giá, xếp hạng khách hàng vay vốn tại NHTM như: xếp hạng người vay
(borrower rating), xếp hạng rủi ro người vay (borrower risk rating), xếp hạng
rủi ro tín dụng (Credit risk rating), chấm điểm tín dụng (Credit scoring)…
Trong phạm vi luận văn với đề tài xếp hạng tín dụng nội bộ tại ngân hàng
thương mại, luận văn thống nhất thuật ngữ Xếp hạng tín dụng để gọi thay cho
quá trình đánh giá phân tích và định hạng rủi ro của khách hàng trong quan hệ
tín dụng với NHTM. Việc XHTD khách hàng là một quá trình, nó bắt đầu từ
khi xác định mục đích nghiên cứu đến việc thu thập, xử lý thông tin trong quá
trình quản lý và đánh giá chất lượng thông tin thông qua quá trình sử dụng.
Từ những thông tin thu thập kết hợp phương pháp phân tích và các chỉ tiêu
phân tích phù hợp với mục đích đánh giá của ngân hàng làm rõ thực chất hoạt
động sản xuất kinh doanh cả về nguồn lực, tiềm năng, lợi thế kinh doanh cũng
như rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả nợ của doanh nghiệp để các NHTM kịp
thời đưa ra quyết sách phù hợp nhằm ngăn ngừa, kiểm soát rủi ro phát sinh
trong hoạt động kinh doanh. Việc xếp hạng tín dụng nội bộ trong Ngân hàng
thương mại là cần thiết để phục vụ công tác quản trị rủi ro (thể hiện qua việc
xếp hạng khách hàng trước khi cấp tín dụng, tái xét đánh giá và XHTD khách
hàng theo định kỳ, XHTD khách hàng khi không hoàn trả nợ đúng hạn); cung
cấp những thông tin mang tính hệ thống về quá khứ và hiện tại của khách
hàng là cơ sở giúp các nhà quản trị ngân hàng đưa quyết định chính xác; là
cơ sở để xây dựng chính sách tín dụng và chính sách khách hàng và góp phần
Hệ thống xếp hạng tín dụng tại BIDV được đánh dấu bởi mốc thời gian
quan trọng là năm 2006. Từ năm 2005 trở về trước (từ 01/01/2004), công tác
XHTD được chính thức áp dụng thực hiện trong phạm vi toàn hệ thống Ngân
hàng ĐT&PT Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp vay
vốn (chưa áp dụng với Tổ chức tín dụng và cá nhân). Từ năm 2006 đến nay,
theo quy định tại Điều 4 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005
của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, trong vòng tối đa 03 năm kể từ ngày
quyết định có hiệu lực thì các các tổ chức tín dụng, trong đó có BIDV phải
xây dựng Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để hỗ trợ cho việc phân loại nợ,
quản lý chất lượng tín dụng phù hợp với phạm vi hoạt động, tình hình thực tế.
Công tác XHTD tại BIDV được áp dụng đối với 3 loại khách hàng chính là:
khách hàng là doanh nghiệp; khách hàng là tổ chức tín dụng và khách hàng là
cá nhân.
Công tác XHTD của BIDV sử dụng phương pháp chấm điểm các nhóm
chỉ tiêu tài chính và phi tài chính của từng khách hàng; kết hợp với phương
pháp chuyên gia và phương pháp thống kê để xếp hạng tín dụng khách hàng.
Công tác xếp hạng tín dụng các khách hàng vay vốn được triển khai
vận hành trên toàn hệ thống. Kỳ đánh giá được thực hiện định kỳ mỗi tháng 1
lần để cập nhật một cách nhanh chóng nhất tình hình của khách hàng vay vốn.
Kết quả đạt được khi triển khai hệ thống xếp hạng tín dụng của Ngân
hàng đầu tư và phát triển Việt Nam:
Thứ nhất: Công tác XHTD theo hệ thống XHTD hiện tại trợ giúp cho
BIDV trong việc kiểm soát toàn bộ danh mục tín dụng
Thứ hai: Công tác XHTD theo hệ thống XHTD này giúp ngân hàng có
cơ sở đánh giá thống nhất và mang tính hệ thống trong suốt quá trình tìm hiểu
về khách hàng, xem xét dự án đầu tư, đánh giá phân tích, thẩm định và ra
quyết định cấp tín dụng.
Thứ ba: Hệ thống xếp hạng tín dụng đã đáp ứng được yêu cầu quan
trọng cho việc thực hiện Điều 7 quyết định 493/2005/QĐ- NHNN, tạo điều
kiện tiền đề và trọng yếu để được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt cho phép
tài chính, môi trường cho dịch vụ xếp hạng tín dụng các doanh nghiệp vay
vốn hoặc nhà phát hành trong nước ít phát triển.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG XHTD NỘI BỘ TẠI
NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
Các nhóm giải pháp được đưa ra là:
Giải pháp về yếu tố kỹ thuật, chương trình
- Bổ sung một số chỉ tiêu trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ
+ Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động kinh doanh so với tổng dòng tiền vào:
+ Hệ số dòng tiền vào từ hoạt động đầu tư so với tổng dòng tiền vào:
+ Hệ số dòng tiền ra để trả nợ dài hạn so với tổng dòng tiền vào:
+ Hệ số dòng tiền ra để trả cổ tức so với dòng tiền ròng từ hoạt động
kinh doanh:
- Bổ sung một số chỉ tiêu phi tài chính đối với doanh nghiệp hoạt động
trong các ngành khác nhau:
Nhóm giải pháp về yếu tố con người
- Trình độ của cán bộ tín dụng
- Trú trọng đào tạo chuyên môn nghiệp vụ song song với rèn luyện đạo
đức của cán bộ làm công tác xếp hạng khách hàng.
Nhóm giải pháp khác
- Nguồn thông tin
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã cho phép Trung tâm Thông tin tín
dụng (CIC) chính thức thực hiện nghiệp vụ xếp hạng tín dụng doanh nghiệp.
Đây là địa chỉ đầu tiên của Việt Nam trong lĩnh vực này.
Xác định lại sự cần thiết của nguồn thông tin từ báo cáo lưu chuyển
tiền tệ trong việc xếp hạng khách hàng.
Ban hành tài liệu chi tiết đánh giá các chỉ tiêu phi tài chính cho toàn hệ
thống.
Các kiến nghị
Đối với Chính phủ
công tác tổ chức triển khai xếp hạng tín dụng, về hệ thống thông tin phục vụ
cho công tác phân tích, xếp hạng tín dụng Từ những vướng mắc trong thực
tế triển khai tại các chi nhánh nêu trên, luận văn đã đưa ra được những giải
pháp góp phần hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
LỜI MỞ ĐẦU
• Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một trong những
hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết. Có thể nói rủi ro được xem như một
yếu tố không thể tách rời quá trình hoạt động của ngân hàng thương mại trên
thị trường. Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp đôi, bởi vì ngân hàng
không những phải hứng chịu các rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của
mình, mà còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra.
Hoạt động ngân hàng thương mại bao gồm nhiều loại nghiệp vụ, nhưng
tựu chung lại, đây là loại hình kinh doanh tiền tệ - tín dụng của một trung gian
tài chính dựa trên cơ sở thu hút tiền của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả
và sử dụng số tiền đó để cho vay và thực hiện các nghiệp vụ thanh toán. Như
vậy, ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động nghiệp vụ của mình thông
qua việc sử dụng không chỉ bằng vốn tự có, mà còn bằng vốn huy động của
khách hàng. Nếu ngân hàng thương mại không thu hồi được số nợ mà họ đã
cho vay thì ngân hàng thương mại không chỉ bị mất vốn tự có của bản thân
mà còn có nguy cơ không thể hoàn trả được số tiền đã huy động của khách
hàng. Vì vậy, tính chất trung gian tài chính đặt ra yêu cầu đầu tiên đối với
ngân hàng thương mại là phải thường xuyên thu hồi được số vốn đã cho vay
để duy trì khả năng hoàn trả số tiền huy động của khách hàng và bảo toàn vốn
tự có của bản thân.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ ngày càng khó khăn, rủi ro của nó ngày
càng lớn, đòi hỏi phải có những biện pháp phòng ngừa, hạn chế các rủi ro để
bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại. Trong xu hướng
đó, xếp hạng tín dụng là một biện pháp ngày càng được các ngân hàng chú ý
• Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp được sử dụng trong quá trình thực
hiện luận văn bao gồm: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,
phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia.
• Nội dung, bố cục của luận văn
Luận văn gồm 03 chương (không bao gồm phần mở đầu và phần kết luận)
Chương 1: Tổng quan về xếp hạng tín dụng nội bộ của Ngân
hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng xếp hạng tín dụng nội bộ tại Ngân hàng
đầu tư và phát triển Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ tại
Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
3
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NỘI BỘ
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một loại hình tổ chức kinh doanh có vai trò vô cùng quan
trọng trong nền kinh tế. Với sự hiện hữu của ngân hàng, chúng ta có thể nhận
được các khoản vay để thanh toán cho nhu cầu tiêu dùng, thực hiện kế hoạch
kinh doanh… Bên cạnh đó, ngân hàng cũng là một địa chỉ hữu ích nếu như
chúng ta mong muốn nhận được những lời khuyên về việc đầu tư các khoản
tiền tiết kiệm hay về việc lưu giữ và bảo quản các giấy tờ có giá. Trong mọi
thời kỳ, ngân hàng là một trong những thành viên quan trọng nhất trên thị
trường tín phiếu và trái phiếu do chính quyền địa phương phát hành để tài trợ
cho các công trình công cộng, từ những hội trường, sân bóng đá cho đến sân
bay và đường cao tốc. Hệ thống ngân hàng với hàng ngàn chi nhánh hoạt
động trên toàn thế giới có thể tác động đến sự phát triển của tất cả mọi lĩnh
vực và của toàn bộ nền kinh tế nói chung.
Thời hạn tín dụng là thời hạn mà trong đó ngân hàng cam kết cấp cho
khách hàng một khoản tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được tính từ lúc
đồng vốn đầu tiên của ngân hàng được phát ra đến lúc đồng vốn và lãi cuối
cùng phải thu về. Thời hạn tín dụng cũng có thể là thời gian mà khi kết thúc,
ngân hàng sẽ xem xét lại quan hệ tín dụng với khách hàng (ví dụ xác định hạn
mức tín dụng). Thời hạn tín dụng thường được xác định cụ thể (ngày, tháng,
năm) và ghi trong hợp đồng tín dụng.
1.1.1.2. Phân loại theo hình thức
Tín dụng bao gồm: chiết khấu, cho vay, bảo lãnh và cho thuê.
- Chiết khấu thương phiếu:
Đây là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng với giá
5
trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhận của ngân hàng để sở hữu một
thương phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ). Về mặt pháp lý, ngân hàng
không phải đã cho chủ thương phiếu vay. Đây chỉ là hình thức trao đổi trái
quyền. Tuy nhiên, đối với ngân hàng, việc bỏ tiền ra hiện tại để thu về một
khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định trước được coi như là hoạt
động tín dụng. Ngân hàng tuy ứng trước tiền cho người bán, song thực chất là
thay thế người mua trả tiền trước cho người bán.
- Cho vay:
Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
- Bảo lãnh:
Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách
hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách
hàng sử dụng uy tín của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nào đó.
- Cho thuê:
Cho thuê là việc ngân hàng dùng tiền mua tài sản để cho khách hàng
thuê theo những thỏa thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng
phải trả gốc lẫn lãi cho ngân hàng.
Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài
sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì…
1.1.2. Rủi ro tín dụng
1.1.2.1. Rủi ro tín dụng - Rủi ro chính trong hoạt động ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro được xem như một yếu tố không
thể tách rời với quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, doanh nhân trên thị
trường. Người ta khẳng định rằng, hơn mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng
phải đối phó với các loại rủi ro từ mọi nguồn gốc.
Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng được
hiểu là khả năng một khách hàng vay hoặc một đối tác không hay không thể
thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận dẫn đến việc các khoản vay/ các khoản phải
thu của ngân hàng giảm giá trị hoặc không thu hồi được. Do vốn chủ sở hữu
của ngân hàng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng tài sản nên chỉ cần một
7
tỷ lệ nhỏ của danh mục cho vay có vấn đề là đã ảnh hưởng lớn đến thu nhập
của ngân hàng, đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng hoặc, trong trường
hợp xấu nhất, làm cho ngân hàng có nguy cơ phá sản.
Trong danh mục tài sản có của ngân hàng, các khoản vay là nơi phát
sinh nhiều rủi ro tín dụng nhất. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng có thể còn xuất hiện
ở nhiều hoạt động khác của ngân hàng, trong và ngoài bảng tổng kết tài sản.
Ngoài danh mục cho vay, ngân hàng ngày càng đối mặt với nhiều rủi ro tín
dụng hơn trong các sản phẩm, công cụ tài chính khác như đầu tư chứng
khoán, cho thuê tài chính, chiết khấu chứng từ có giá, các khoản phải thu…
Các khoản hoạt động ngoài bảng cân đối kế toán cũng chứa đựng rủi ro tín
dụng gồm có: phát hành thư tín dụng (trả ngay hoặc trả chậm), chấp thuận
thanh toán, kinh doanh ngoại tệ có kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn, phát hành
thư bảo lãnh các loại…
Ngày nay, dù có rất nhiều hình thức kinh doanh mới trong hoạt động
ngân hàng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng tín dụng vẫn là hoạt động kinh
doanh chủ yếu của các ngân hàng. Vì thế, ở tất cả các nước, rủi ro tín dụng là
công nghệ tác động đến khả năng trả nợ người đi vay. Những nhân tố như
thiên tai, động đất, bão lụt, khủng hoảng kinh tế vĩ mô, hoặc thay đổi chính
sách vĩ mô có tác động lớn đến khả năng trả nợ của khách hàng vay, vượt quá
tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫn khách hàng.
Những nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay:
Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh
doanh, yếu kém trong quản lý, chủ định lừa đảo hoặc kinh doanh mạo hiểm,
thiếu thiện chí trả nợ… là những nguyên nhân gây rủi ro tín dụng. Dự báo và
9
nhận diện những rủi ro tiềm ẩn thuộc về chủ quan người vay là một trong
những nội dung cốt lõi của phân tích tín dụng mà các ngân hàng thương mại
theo đuổi.
Các khuôn khổ về phân tích tín dụng được ngân hàng sử dụng khi thẩm
định, đánh giá một khoản vay nhằm phát hiện và đánh giá khả năng gây ra tổn
thất do những nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay. Tuy nhiên, các
ngân hàng cũng không thể luôn luôn đánh giá đúng các rủi ro này.
Những nguyên nhân thuộc về chủ quan của ngân hàng:
Những nguyên nhân thường thấy là thiếu thông tin về khách hàng vay,
năng lực cán bộ chưa cao, bỏ qua hoặc xem nhẹ các nguyên tắc hạn chế rủi ro,
thiếu trách nhiệm hoặc cố ý làm sai, không tuân thủ quy trình nghiệp vụ…
b. Quản trị rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng luôn là vấn đề nổi cộm của các ngân hàng. Mỗi ngân
hàng đều phải rút ra các bài học cho mình từ những kinh nghiệm quá khứ. Để
quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng một số công cụ sau:
- Chính sách tín dụng:
Chính sách tín dụng bằng văn bản là yếu tố căn bản, là nền tảng để
quản trị tín dụng hiệu quả. Chính sách tín dụng đặt ra mục tiêu, tham số định
hướng cho cán bộ ngân hàng, những người làm công tác cho vay và quản trị
danh mục đầu tư. Chính sách được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ
trên xuống dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của
khách hàng cho phù hợp hoặc thực hiện những biện pháp cần thiết nhằm thu
hồi nợ trước hạn nếu phát hiện khoản vay, tài sản bảo đảm có dấu hiệu bất
thường ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ vay.
11
- Tài sản bảo đảm:
Tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp cho khoản vay nếu dự án
kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro, dòng tiền của khách hàng không
đúng như dự kiến. Tuy nhiên, khoản vay sẽ phải được thanh toán bằng tiền
tạo ra từ hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải bằng phát mại tài
sản bảo đảm nên tài sản bảo đảm mới là điều kiện cần chứ chưa phải là
điều kiện đủ để cho vay.
- Đa dạng hóa danh mục đầu tư:
Một công cụ khác luôn được nhắc đến của quản trị tín dụng ở tất cả
các ngân hầng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư. Quản trị danh mục
đầu tư làm cân đối và kiềm chế rủi ro danh mục bằng cách nhận dạng, dự
báo và kiểm soát mức độ rủi ro với từng thị trường, ngành hàng, khách hàng,
loại sản phẩm tín dụng và điều kiện hoạt động khác nhau. Nhiều chuyên gia
ngân hàng cho rằng đa dạng hóa là giải pháp hữu hiệu trong phòng ngừa rủi
ro tín dụng.
c. Hạn chế rủi ro tín dụng
Có thể nói hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế thị trường là một
trong những hoạt động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết. Rủi ro được xem như
một yếu tố không thể tách rời với quá trình hoạt động của ngân hàng thương
mại. Rủi ro trong cho vay còn được nhân lên gấp đôi, bởi ngân hàng không
những phải hứng chịu rủi ro do những nguyên nhân chủ quan của mình mà
còn gánh chịu những rủi ro do khách hàng gây ra. Hơn nữa, rủi ro trong hoạt
động ngân hàng có thể gây ra tai họa to lơn cho nền kinh tế hơn bất cứ rủi ro
của các loại hình doanh nghiệp khác. Tính chất lan truyền của nó có thể làm
ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống kinh tế.
nhiên từ gốc tiếng anh “credit rating” khi dịch sang tiếng việt có nhiều nghĩa:
13