Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ phòng
ngừa rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
Nguyễn Tiền Phong
Trường Đại học Kinh tế
Luận văn ThS ngành: Quản trị kinh doanh; Mã số: 60 34 05
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thư
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Phân tích lý thuyết, quy định và chuẩn mực liên quan đến hệ thống kiểm soát
nội bộ nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại. Nghiên cứu thực
trạng tổ chức và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam trước và sau khi thực hiện hiện đại hoá cũng như kinh nghiệm xây dựng
hệ thống kiểm soát nội bộ của một số ngân hàng thương mại các nước trên thế giới đối
với phòng ngừa rủi ro tín dụng. Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát
nội bộ nhằm phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Keywords: Hệ thống kiểm soát nội bộ; Ngân hàng; Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt
Nam; Tín dụng
Content
MỞ ĐẦU
1/Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đưa nền kinh tế từng bước hội nhập vào nền
kinh tế thế giới trong bối cảnh tốc độ toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, các lĩnh vực hoạt động
dịch vụ như bảo hiểm, ngân hàng đứng trước yêu cầu phải thích nghi, hội nhập toàn diện, nâng
thống kiểm soát nội bộ phòng ngừa rủi ro tín dụng tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt
Nam” sẽ mang tính thiết thực đối với công tác quản trị, điều hành của Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam nói riêng và các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung trong giai đoạn hiện
nay.
2/ Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, việc nghiên cức các lĩnh vực liên quan đến công tác kiểm soát nội bộ của ngân
hàng thương mại của các học giả Việt Nam và nước ngoài liên quan đến luận văn dưới nhiều góc
độ khác nhau. Có thể phân thành 2 vấn đề được nghiên cứu chủ yếu là : a) Nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến kiểm soát nội bộ; b) Nghiên cứu việc nhận diện và phòng ngừa rủi ro tín
dụng.
Trong nhóm công trình thứ nhất đề cập đến hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng
thương mại Việt Nam nhưng cũng chỉ ở mức độ giới thiệu chứ không đi sâu vào phân tích,
nghiên cứu.
Trong nhóm công trình thứ 2 tập trung vào phân tích rủi ro tín dụng trong hoạt động của các
Ngân hàng thương mại nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói
riêng nhưng vẫn tách rời rủi ro tín dụng trong công tác kiểm soát nội bộ của các ngân hàng
thương mại.
Như vậy, tình hình nghiên cứu từ trước đến nay chỉ đơn thuần tập trung vào công tác kiểm
soát nội bộ hoặc rủi ro tín dụng, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện những
khía cạnh của công tác kiểm soát nội bộ đối với việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
thương mại. Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu tác dụng của hệ thống kiểm soát nội bộ
nhằm hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại có trình độ công nghệ
tương đối hiện đại.với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các mặt nghiệp vụ. Vì vậy,
lấy việc hoàn thiện Hệ thống kiểm soát nội bộ phằm phòng ngừa rủi ro tín dụng sau khi đã hiện
đại hoá của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là đối tượng nghiên cứu chính, luận văn sẽ
là một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện và cập nhật về vấn đề này.
3/Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Đầu tư và Phát
thống kiểm soát nội bộ các ngân hàng thương mại. Luận văn cũng nghiên cứu ảnh hưởng của
công nghệ ngân hàng hiện đại đối với công tác kiểm soát nội bộ và hệ thống phương pháp kỹ
thuật chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
5/ Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong luận văn, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu khoa học
xã hội cũng như kinh tế học, các tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chung là phương pháp phân tích, so sánh nhằm tìm ra những căn cứ, số liệu
minh hoạ cho luận điểm được nêu ra.
- Phương pháp bổ trợ như phương pháp phân kỳ, thống kê, tổng hợp và toán học nhằm nêu rõ
đặc thù từng giai đoạn khác nhau của hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam . Đồng thời, các bảng, biểu, đồ thị…. có thể được sử dụng trong luận văn để minh hoạ
cho vấn đề được nghiên cứu.
6/ Nh÷ng ®ãng gãp míi cña luËn v¨n
Tác giả hy vọng luận văn có những đóng góp cơ bản như sau: Thứ nhất, tổng hợp các cơ sở pháp lý, các chuẩn mực và thông lệ liên quan đến hệ thống
kiểm soát nội bộ và vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động của các ngân hàng
thương mại
Thứ hai, hệ thống hoá một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu của các học giả Việt
Nam và nước ngoài về hệ thống kiểm soát nội bộ ngân hàng thương mại trên thế giới và của Việt
Nam đối với phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Thứ ba, phân tích tác động và sự thay đổi của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động
tín dụng sau khi thực hiện hiện đại hoá ngân hàngđể đánh giá những vấn đề còn tồn tại cần khắc
phục đối với ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam.
Thứ tƣ, cung cấp cho độc giả một cái nhìn tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân
hàng thương mại hiện đại và danh mục tài liệu tham khảo phong phú liên quan đến đề tài.
7/ Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương:
gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các thành viên
trong tổ chức.
- Kiểm soát nội bộ đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt đối là các mục tiêu sẽ
được thực hiện. Hơn nữa, nguyên tắc cơ bản trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho
quá trình kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó,
tuy người quản lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì họ vẫn không
áp dụng các biện pháp để kiểm soát rủi ro tương ứng.
Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội bộ. Trong khi kiểm
toán nội bộ chỉ tập trung vào đánh giá việc quản trị rủi ro sau khi các hoạt động đã diễn ra thì
kiểm soát nội bộ lại thực hiện cả việc kiểm soát rủi ro trước và sau các hoạt động. Nói cách khác,
kiểm toán nội bộ chỉ là một phần của quá trình kiểm soát nội bộ. Ngoài ra, trong quá trình quản
trị và điều hành tổ chức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không độc lập khỏi quy trình nghiệp vụ mà
nó được bố trí, xây dựng trong mọi quy trình tác nghiệp của tổ chức còn kiểm toán nội bộ độc
lập khỏi quy trình tác nghiệp để bảo đảm tính khách quan, hiệu quả.
1.1.1. 2 Các bộ phận cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ
Mặc dù có sự khác biệt đáng kể về tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ giữa các đơn vị vì phụ
thuộc vào nhiều yếu tố như quy mô, tính chất hoạt động, mục tiêu của tổ chức nhưng hệ thống
kiểm soát nội bộ muốn vận hành hiệu quả phải có những bộ phận cấu thành cơ bản. Theo mô hình do tổ chức COSO đưa ra và cũng được coi là quan điểm cơ bản, phổ biến hiện nay thì hệ
thống kiểm soát nội bộ phải gồm những bộ phận chủ yếu sau:
- Môi trường kiểm soát
- Đánh giá rủi ro
- Hoạt động kiểm soát
- Thông tin và trao đổi thông tin
- Giám sát
a) Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm phương châm quản lý và phong cách kinh doanh (hoạt
động) của Ban lãnh đạo, sự tham gia của những người chịu trách nhiệm quản trị doanh nghiệp
cầu của Ban lãnh đạo được thực hiện đúng và đầy đủ. Các chính sách và thủ tục này giúp thực thi
những hành động với mục đích chính là giúp kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hoặc có thể
gặp phải. Có nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau có thể thực hiện, dưới đây là một số hoạt
động kiểm soát chủ yếu của đơn vị:
- Phân chia trách nhiệm đầy đủ: Phân chia trách nhiệm là không cho phép một thành
viên nào được giải quyết mọi mặt nghiệp vụ từ khi hình thành cho đến khi kết thúc.
- Kiểm soát quá trình xử lý thông tin và các nghiệp vụ: để thông tin đáng tin cậy cần phải
thực hiện nhiều hoạt động kiểm soát nhằm kiểm tra tính xác thực, đầy đủ và việc phê chuẩn các
nghiệp vụ.
Cần đảm bảo rằng tất cả các nghiệp vụ hoặc hoạt động phải được phê chuẩn bởi một nhân
viên quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép. Sự phê chuẩn được chia làm hai loại là phê
chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể.
Các cá nhân hoặc bộ phận được uỷ quyền để thực hiện phê chuẩn phải có chức vụ tương
xứng với tính chất và tầm quan trọng của nghiệp vụ. Trong môi trường xử lý dữ liệu bằng
phương pháp điện tử, việc kiểm soát quá trình xử lý thông tin cũng thường được chia thành kiểm
soát chung và kiểm soát ứng dụng với những đặc thù riêng.
- Kiểm soát vật chất: hoạt động này được thực hiện cho các loại sổ sách và tài sản, cũng
như các chương trình phần mềm tin học và những hồ sơ, dữ liệu nhằm đảm bảo rằng tài sản
không bị mất mát, đánh cắp hoặc sử dụng trái với thẩm quyền.
- Kiểm soát độc lập việc thực hiện: là việc kiểm tra được tiến hành bởi các cá nhân (hoặc
bộ phận) khác với cá nhân ( hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ, thực chất đây là yêu cầu
kiểm tra chéo giữa các bộ phận, cá nhân trong tổ chức. - Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ phải độc lập với
đối tượng bị kiểm tra. Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ mất đi nếu người thực hiện thẩm tra lại
là nhân viên cấp dưới hoặc là người có quyền lợi liên quan đến người bị kiểm tra.
d) Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc thiết lập, duy trì và
nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc hình thành các báo cáo cung cấp thông
ngân hàngcung cấp cho khách hàng một khoản tiền, khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và
hoàn trả gốc theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
Trung gian thanh toán là hoạt động truyền thống của ngân hàng, tạo điều kiện cho
khách hàng thực hiện các khoản thanh toán bằng phương thức giấy tờ hoặc điện tử mà không
phải mang đi mang lại một lượng lớn tiền mặt.
Hoạt động khác của ngân hàng thương mại:
Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại thường gồm ba hoạt động chính là đầu tư
ngân quỹ, đầu tư hưởng lợi và đầu tư nắm quyền kiểm soát.
Bảo lãnh là cam kết của ngân hàng về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên thứ
ba nếu người được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đầy đủ thoả thuận ban
đầu với bên thứ ba đó.
Bảo hiểm là các ngân hàng thương mại cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các khách hàng
thông qua các công ty con hoặc thông qua các nhà môi giới bảo hiểm trên cả hai lĩnh vực bảo
hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.
Cho thuê tài sản (Leasing) là việc ngân hàng sẽ mua tài sản theo nhu cầu sử dụng của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải trả tiền thuê hàng năm và hết thời hạn thuê thì được quyền
mua lại tài sản đó.
Hoạt động môi giới và kinh doanh chứng khoán ngân hàng thương mại thực hiện việc
kinh doanh, môi giới, tư vấn, … chứng khoán thông qua việc lập các công ty chứng khoán.
b) Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại
- Khái niệm tín dụng
“tín dụng là một giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân
hàngvà các định chế tài chính khác), trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều
kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán” - Phân loại hoạt động tín dụng
Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc mục đích quản trị.
- Theo thời gian:
kém.
Thứ sáu, ngân hàng chưa thiết lập được hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu quả trong hoạt
động tín dụng, trong đó có việc xây dựng mô hình tổ chức, quy trình tín dụng thiếu chặt chẽ và
không phù hợp.
Ngoài rủi ro tín dụng, ngân hàng thương mại còn phải đối mặt với những rủi ro bắt nguồn
từ thao tác nghiệp vụ cho vay khách hàng. Rủi ro tác nghiệp là khả năng xảy ra những tổn thất
khi các nhân viên ngân hàng thực hiện sai quy trình, không tuân thủ chính sách và các quy định
của ngân hàng; khi các chính sách, quy trình nghiệp vụ không phù hợp với thực tiễn. Rủi ro tác
nghiệp cũng có thể phát sinh do chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo, phương pháp xem xét,
phân tích còn hạn chế.
1.1.2.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thƣơng mại đối với việc phòng
ngừa rủi ro tín dụng
a)Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại
Theo điều 2, phần giải thích từ ngữ tại quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín
dụng ban hành kèm theo quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 đã định nghĩa hệ
thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ như sau “Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ
chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng được thiết lập
trên cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và được tổ chức thực hiện nhằm bảo
đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các rủi ro và đạt được các mục tiêu và tổ chức tín
dụng đã đề ra”. Cũng theo quy chế này, tại điều 3 quy định mục tiêu của hệ thống kiểm tra, kiểm
soát nội bộ đã xác định các mục tiêu cụ thể, chủ yếu của hệ thống kiểm tra, kiểm soat của tổ chức
tín dụng như sau:
1. Hiệu quả và an toàn trong hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng tài sản và các nguồn lực
kinh tế, an toàn, có hiệu quả (mục tiêu hoạt động)
2. Bảo đảm hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và
kịp thời ( Mục tiêu thông tin)
3. Bảo đảm tuân thủ pháp luật và và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ ( Mục tiêu tuân
thủ)
Một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt có khả năng đánh giá được khả năng đạt được mục tiêu
đồng thời vẫn đảm bảo khả năng vững mạnh về tài chính của ngân hàng.
mới cũng như đối với việc thay đổi, gia hạn và tái cơ cấu các khoản tín dụng hiện có. Quy trình
cố định này bao gồm cả hệ thống đánh giá tin dụng nội bộ. Duy trì một quy trình ổn định về quản lý tín dụng, tính toán và giám sát rủi ro tín
dụng:
- Các ngân hàng phải có hệ thống quản lý thường xuyên các danh mục khác nhau có hàm
chứa rủi ro tín dụng. Cần phải có một hệ thống để giám sát hiện trạng các khoản tín dụng đơn lẻ,
hệ thống đó cũng bao gồm cả việc xác định tính phù hợp của các khoản trích lập dự phòng rủi ro
tín dụng.
- Các ngân hàng thương mại nên xây dựng và thiết lập một hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng
nội bộ nhằm khắc phục rủi ro tín dụng. Hệ thống đánh giá này phù hợp với thể thức, quy mô và
sự đa dạng trong các nghiệp vụ của từng ngân hàng.
- Các ngân hàng phải có các hệ thống thông tin và các phương pháp phân tích để tạo điều
kiện cho cấp quản lý lượng hoá được các rủi ro tín dụng.
Đảm bảo sự kiểm soát phù hợp đối với rủi ro tín dụng: Để đảm bảo sự kiểm soát phù hợp
với rủi ro tín dụng ngân hàng phải thiết lập một hệ thống để đánh giá một cách độc lập và thường
xuyên các quá trình quản lý rủi ro của mình và các kết quả của việc rà soát này phải được thông
báo trực tiếp cho cơ quan quản lý cao nhất và ban giám đốc ngân hàng. Các ngân hàng phải có
một hệ thống các phương pháp phục hồi kịp thời đối với các khoản nợ xấu để giải quyết các
khoản nợ xấu và các tình huống có thể xảy ra tương tự. Chương 2
THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ
PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
2.1.1Khái quát về quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng Đầu tƣ và Phát
triển Việt Nam
NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIÊN VIỆT NAM
2.2.1. Các văn bản quy phạm pháp luật về Hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân
hàng thƣơng mại
Hệ thống kiểm soát nội bộ của các tổ chức tín dụng ( bao gồm cả các ngân hàngthương
mại) xây dựng trên cơ sở vận hành của luật các tổ chức tín dụng số 10/1997/QH10 ban hành ngày 12/12/1997 và luật số 20/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về sửa đổi, bổ sung một số điều của
luật tín dụng;
Hiện nay, để hướng dẫn thực hiện các quy định trong Luật sử đổi, bổ sung một số điều của
luật tín dụng, Thống đốc ngân hàng Nhà nước đã ban hành quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ
của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo quyết định số 36/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006 và
quy chế kiểm toán nội bộ ban hành kèm theo quyết định số 37/2006/QĐ-NHNN ngày 01/8/2006.
2 2.2 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín
dụng tại ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
2.2.2.1 Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
Để hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội
bộ chuyên trách thì ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã ban hành quy chế tổ chức và
hoạt động của hệ thống kiểm tra nội bộ của Ngân hàngĐầu tư và Phát triển Việt Nam kèm theo
quyết định số 7046/QĐ-KTNB4 ngày 06/12/2004 của Tổng giám đốc.
Hệ thống kiểm tra nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được tổ chức, chỉ
đạo theo ngành dọc. Các chức danh từ kiểm tra viên đến phó, trưởng phòng và phó đốc, giám
đốc ban kiểm tra nội bộ do Tổng giám đốc bổ nhiệm. Cán bộ làm công tác kiểm tra nội bộ không
kiêm nhiệm các công tác khác của ngân hàng.
Hệ thống kiểm tra nội bộ ( kiểm soát nội bộ chuyên trách) thực hiện kiểm tra, kiểm soát
toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong đó có nghiệp vụ
tín dụng. Hiện nay, việc kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách khi thực hiện kiểm tra nghiệp vụ
tín dụng chủ yếu là kiểm tra tại chỗ, hậu kiểm.
2.2.2.2 Kiểm soát nội bộ trong quy trình nghiệp vụ tín dụng
Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng do Tổng giám đốc chịu trách nhiệm
hàng thương mại quốc doanh trong điều kiện Việt Nam khi mà hoạt động của các ngân hàng
thương mại quốc doanh chỉ mới được thành lập, chuyển sang hoạt động kinh doanh từ mô hình
ngân hàng một cấp (chỉ có ngân hàng Nhà nước), đặc biệt với ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam chỉ được thực sự chuyển sang kinh doanh như ngân hàng thương mại quốc doanh khác
từ 1995. (Khác hẳn với sự ra đời và hoạt động của các NHTM các nước có nền kinh tế thị trường
trên Thế giới).
2.2.3.2 Một số hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của
Ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam hiện nay
a) Hạn chế của mô hình kiểm soát nội bộ chuyên trách Hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
hiện nay bị đồng nhất, chưa tách bạch rõ giữa kiểm tra và kiểm toán nội bộ. Thực chất, hệ thống
kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách hiện nay của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
thực hiện một phần chức năng kiểm toán tuân thủ của kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, hệ thống
kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trực thuộc Tổng giám đốc (đối với Hội sở chính) và
Giám đốc các đơn vị thành viên (đối với các chi nhánh và công ty trực thuộc) nên hoạt động
chưa thể đảm bảo được tính độc lập, khách quan (độc lập với hệ điều hành và các bộ phận nghiệp
vụ) nhất là bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách tại các đơn vị thành viên.
Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ hiện nay chưa được cài đặt một cách có hệ thống trong
các quy định, quy trình, quy chế và chưa được coi là nhiệm vụ của từng nhân viên, các cấp quản
lý trong quy trình giải quyết nghiệp vụ.
Ngoài ra, hệ thống kiểm soát nội bộ chưa xây dựng và áp dụng được phương pháp nghiệp vụ
giám sát, kiểm tra, kiểm soát tiên tiến nào để phục vụ cho công tác mà chủ yếu vẫn sử dụng các
phương pháp cũ dẫn đến hiệu quả kiểm soát thấp.
b)Hạn chế của của hoạt động kiểm soát nội bộ trong quy trình tín dụng
Hiện nay, tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam quá trình xử lý nghiệp vụ tín dụng
chưa có sự tách bạch giữa khởi tạo tín dụng, quản lý rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong suốt quá
trình thực hiện.
Việc xác lập và quản lý danh mục rủi ro tín dụng chưa được xây dựng đầy đủ và hiệu quả.
các Ngân hàng thương mại phải tuân theo thì những điểm quan trọng của hệ thống kiểm soát nội
bộ trong hoạt động tín dụng là:
- Thực hiện quản lý các nghiệp vụ tín dụng một cách tập trung, thống nhất
- Mở rộng việc nhận dạng và kiểm soát hệ thống giám sát rủi ro tín dụng của khách hàng
- Hoàn thiện việc ra quyết định và cải thiện hệ thống phát triển tín dụng
- Ngăn ngừa việc tập trung những rủi ro đáng chú ý vào một khách hàng đơn lẻ, các khách
hàng doanh nghiệp liên kết và/hoặc rủi ro của một nhóm khách hàng.
- Ngăn ngừa việc cho vay đối với các cá nhân liên kết hoặc các món vay có liên quan với
nhau, ngăn chặn việc vi phạm nguyên tắc tín dụng.
- Ngăn ngừa việc vốn đầu tư cho hoạt động tín dụng đổ vào lĩnh vực rủi ro cao và/hoặc sử
dụng cho các hoạt động bất hợp pháp.
Để thực hiện các điểm quan trọng trên, các ngân hàngthương mại phải thực hiện:
- Thiết lập một bộ phận quản trị rủi ro độc lập với hoạt động tín dụng để quản lý tập trung
đối với các hoạt động kinh doanh tín dụng. - Xây dựng bộ phận nghiệp vụ tín dụng các ngân hàng thương mại phải có nhân sự phù hợp,
có nghĩa vụ và trách nhiệm rõ ràng.
- Các ngân hàng thương mại phải phòng ngừa tránh việc tập trung quá mức dẫn đến việc rủi
ro vốn cho vay.
- Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện tập trung, thống nhất đối với các quy định, tiêu
chuẩn công việc và quy trình làm việc đối với kiểm tra trước, kiểm tra trong quy trình và kiểm
tra bất thường, cũng như việc kiểm tra các trình tự hoạt động.
- Các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện các biện pháp quản trị tập trung đối với tất cả các
trường hợp uỷ quyền phán quyết tín dụng, công bố công khai các điều kiện của việc cung cấp tín
dụng, bao gồm tất cả những điều kiện cụ thể như tiêu chuẩn chọn dự án, thời hạn vay, lãi xuất
và phí, điều kiện bảo đảm, quyền xét duyệt, thông tin công bố, quản trị và quá trình giải quyết
công việc nội bộ.
2.2.4.2 Mô hình hoạt động kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng
thƣơng mại nhà nƣớc tại Việt Nam
tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách, các hệ thống các quy chế, quy trình nghiệp vụ cần được từng
cá nhân, bộ phận có liên quan của quy trình nghiệp vụ cần tuân thủ.
- Mô hình tổ chức của các ngân hàng thương mại phải được cơ cấu lại bảo đảm có sự tách
bạch giữa bộ phận khởi tạo tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng. Phải có bộ phận và quy trình đo
lường, định dạng rủi ro tín dụng hiệu quả phù hợp với các thông lệ tiên tiến trên Thế giới. Xây
dựng được hệ thống thông tin quản lý trong hoạt động tín dụng tin cậy, chính xác và hiệu quả.
Hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách phải được tổ chức lại với mô hình tổ chức phù
hợp, có các phương pháp kiểm tra, giám sát hiện đại, hiệu quả.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, chuẩn mực và thông lệ quốc tế được thừa nhận và đáp ứng
được yêu cầu quản lý của Nhà nước và bản thân Ngân hàng đầu tư và Phát triển Việt nam.
Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ PHÒNG
NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM Hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển
Việt Nam đã từng bước được hình thành và phát huy tác dụng. Tuy nhiên việc tiếp tục hoàn thiện
hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng là rất cần thiết bởi các lý do sau:
Thứ nhất, xuất phát từ yêu cầu khách quan của đời sống kinh tế, xã hội và sự đòi hỏi của
cơ chế, chính sách của Nhà nước
Thứ hai, do yêu cầu phải nâng cao năng lực quản lý và điều hành để tồn tại và đứng vững
trong cơ chế thị trường với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Thứ ba, do đặc điểm hoạt động kinh doanh đa dạng và phức tạp của ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
mà Ban lãnh đạo ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam cần sớm xem xét là:
- Thay đổi cơ cấu tổ chức, cải tiến quy trình tín dụng theo thông lệ tiên tiến nhất là có sự
phân tách giữa các chức năng khởi tạo tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong suốt
quá trình thực hiện.
- Xây dựng một môi trường quản trị rủi ro tín dụng thích hợp, trong đó Hội đồng quản trị
chịu trách nhiệm phê duyệt và rà soát các chính sách và các chiến lược liên quan đến quản lý rủi
ro tín dụng còn Ban Tổng giám đốc chịu trách nhiệm triển khai các chiến lược và chính sách rủi
ro mà Hội đồng quản trị phê duyệt. Chức năng tác nghiệp thực hiện theo các thủ tục và quy trình
thích hợp sao cho có thể phát hiện và xác định rõ rang các rủi ro tín dụng đi liền với các sản
phẩm và các hoạt động trên cơ sở riêng rẽ và tổng hợp.
- Bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong hoạt động tín dụng nói riêng và hệ
thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách nói chung cần được tổ chức lại theo mô hình
phòng kiểm tra, kiểm soát nội bộ khu vực phân chia theo địa lý, xóa bỏ bộ phận kiểm tra, kiểm
soát nội bộ chuyên trách tại các chi nhánh, đơn vị thành viên nhằm tăng tính độc lập và hiệu quả
của Bộ phận kiểm soát nội bộ.
3.3 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM TRA, KIỂM SOÁT NỘI
BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
3.3.1 Hoàn thiện quy trình tín dụng và mô hình quản trị rủi ro tín dụng
3.3.1.1Hoàn thiện quy trình tín dụng
Theo thông lệ tiên tiến nhất thường được các ngân hàng thương mại các nước phát triển áp
dụng thì quá trình tín dụng được đặc trưng bởi sự phân tách giữa các chức năng khởi tạo tín
dụng, quản lý rủi ro tín dụng và tác nghiệp trong toán bộ quá trình nhằm đảm bảo tính độc lập và kiểm soát lẫn nhau trong các khâu trong quá trình tín dụng. Quá trình này được chia thành một
số giai đoạn, mỗi giai đoạn tiến hành một hoặc một vài chức năng như sau:
- Chức năng quản lý quan hệ khách hàng (phòng quản lý khách hàng doanh nghiệp, phòng
quản lý khách hàng cá nhân) chịu trách nhiệm khởi tạo và lập đề xuất tín dụng, bao gồm cả việc
thẩm định ban đầu.
Một là, ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam là một trong những ngân hàng thương
mại lớn nhất Việt Nam, là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt có tổng tài sản lớn giữ vai trò
quan trọng đối với tình hình kinh tế xã hội nên việc cải cách, hoàn thiện phải có những bước đi
cẩn trọng tránh những xáo trộn lớn.
Hai là, hiện nay ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã có bộ phận kiểm tra, kiểm
soát nội bộ chuyên trách tuy nhiên mô hình chưa phù hợp, có thể hoàn thiện mô hình tổ chức bộ
phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách với chi phí thấp và hiệu quả để đáp ứng cho yêu
cầu công việc trong giai đoạn trước mắt.
Ba là, hiện nay ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đang trong quá trình cơ cấu lại
ngân hàng, việc xây dựng các quy trình nghiệp vụ nói chung và nghiệp vụ tín dụng nói riêng vẫn
chưa hoàn thành nên yêu cầu kiểm tra, kiểm soát trong quy trình nghiệp vụ vẫn đạt hiệu quả
thấp.
Bốn là, kiểm toán nội bộ thuộc Hội đồng quản trị đã được thành lập và hoạt động nhưng
đạt hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu kiểm toán, đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nên
vẫn cần thiết duy trì bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách để thực hiện một số chức
năng của kiểm toán nội bộ như kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động,…
Mô hình bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong nghiệp vụ tín dụng nên vận
dụng theo mô hình hỗn hợp (tập trung về tổ chức hoạt động, phân tán về bố trí địa lý).
3.3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn, trách nhiệm và quyền hạn của bộ phận kiểm tra nội bộ
chuyên trách Ngân hàngĐầu tƣ và Phát triển Việt Nam
- Về trách nhiệm của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách trong nghiệp vụ tín
dụng
- Về quyền hạn của bộ phận kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
- Về công tác đào tạo cán bộ kiểm tra, kiểm soát nội bộ chuyên trách
3.3.2.3 Áp dụng chuẩn mực, quy trình và phƣơng pháp kiểm tra, kiểm soát nội bộ
phù hợp với yêu cầu tổ chức và đặc điểm của ngân hàng Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam
a)Kiểm tra, kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng dựa trên phương pháp kiểm tra,
kiểm soát căn cứ vào rủi ro (phương pháp ORCA)