ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN TIỀN PHONG
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ 60 34 05 Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Nguyễn Thị Thư
HÀ NỘI- 2007
Thực hiện hiện đại hoá mà điểm cốt lõi là việc ứng dụng công nghệ
thông tin vào toàn bộ quá trình xử lý nghiệp vụ ngân hàng. Kết quả của
2
việc ứng dụng công nghệ thông tin vào xử lý nghiệp vụ là các ngân
hàngthương mại có thể thực hiện được tập trung được cơ sở dữ liệu tại Hội
sở chính nhưng hạch toán phân tán tại các chi nhánh và đơn vị thành viên.
Điều này cũng đồng nghĩa với việc quản trị điều hành của các ngân hàng
thương mại về bản chất là tiếp nhận và xử lý thông tin đã có sự thay đổi
mang tính hệ thống. Về mặt lý thuyết tại Hội sở chính của các ngân hàng
thương mại có thể kiểm soát và can thiệp trực tuyến (online) các với quá
trình xử lý nghiệp vụ của các đơn vị thành viên ngay cả lúc họ đang thao
tác nghiệp vụ, không phụ thuộc vào không gian và thời gian cụ thể. Chính
vì vậy, hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại sẽ phải
được thay đổi một cách căn bản để có thể đáp ứng được sự thay đổi của
công nghệ nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro và an toàn hệ thống.
Mặt khác, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức
tín dụng (được Quốc hội thông qua ngày 15/06/2004) đã quy định các tổ
chức tín dụng phải thiết lập một hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ, hiệu
quả. Theo quy định cũ và thực tế đang áp dụng hiện nay thì hệ thống kiểm
tra, kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng được xây dựng theo mô hình các
phòng ban chuyên trách từ trên xuống dưới. Vì vậy, tính chất thường
xuyên, liên tục và kịp thời của của việc kiểm tra, kiểm soát đối với nghiệp
vụ phát sinh hàng ngày không được bảo đảm. Hệ thống kiểm soát nội bộ
của các ngân hàng thương mại hiện nay chưa tiến kịp tiến trình hiện đại
hoá ngân hàng, chưa phù hợp với thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Việc
kiểm tra, kiểm soát chủ yếu là kiểm tra sau và kiểm tra tại chỗ, thực chất là
hậu kiểm, do đó không đáp ứng được yêu cầu ngăn ngừa, phát hiện và xử
lý kịp thời các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động của các ngân hàng
thương mại.
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay công nghệ còn
thống kê – Vương Đình Huệ - Giáo trình Kiểm toán – Nhà xuất bản thống
kê xuất bản năm 2004; Vữ Hữu Đức, Nguyễn Phan Quang, Diệp Quốc
Huy ( 1999) - Kiểm toán nội bộ - Khái niệm và quy trình – Nhà xuất bản
thống kê, Hà nội. Những ấn phấm này đã giới thiệu khái niệm về kiểm
toán, kiểm toán nội bộ, cũng như bước đầu nghiên cứu vai trò, chức năng
của hệ thống kiểm soát nội bộ nhưng không đi sâu vào nghiên cứu hệ
thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàngthương mại. Ngoài ra, trong
quyển “ Năng lực cạnh tranh của các ngân hàngthương mại trong xu thế
hội nhập” của tác giả Nguyễn Thị Quy cũng đề cập đến hệ thống kiểm soát
nội bộ của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhưng cũng chỉ ở mức độ
giới thiệu chứ không đi sâu vào phân tích, nghiên cứu.
Trong nhóm công trình thứ 2 có các bài viết như “Cảnh báo rủi ro tín
dụng khi cho vay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ vốn vay” của tác giả
Việt Thắng và bài “ Rủi ro tín dụng Ngân hàngtrên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh- Nguyên nhân và một số giải pháp” của tác giả Nguyễn Đức
Lệnh đăng trên tạp chí Tài chính tiền tệ số 18/2005; Học viện Ngân hàng–
“Ngân hàngthương mại” – NXB Thống kê năm 2003; PGS, TS Lê Văn Tư
“Quản trị ngân hàngthương mại” NXB Thống kê năm 2004; Các bài “Bàn
về rủi ro và biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng “ của tác
giả Nguyễn Thị Thu Hương đăng trên tạp chí Ngân hàngsố 10/2005 Các
ấn phẩm này đã tập trung vào phân tích rủi ro tín dụng trong hoạt động của
các Ngân hàng thương mại nói chung và rủi ro tín dụng của các ngân hàng
thương mại Việt Nam nói riêng nhưng vẫn tách rời rủi ro tín dụng trong
công tác kiểm soát nội bộ của các ngân hàngthương mại.
Như vậy, tình hình nghiên cứu từ trước đến nay chỉ đơn thuần tập
trung vào công tác kiểm soát nội bộ hoặc rủi ro tín dụng, chưa có công
trình nào nghiên cứu một cách toàn diện những khía cạnh của công tác
kiểm soát nội bộ đối với việc ngăn ngừa rủi ro tín dụng tại các ngân hàng
5
thương mại. Đặc biệt chưa có công trình nào nghiên cứu tác dụng của hệ
ngừa rủi ro tín dụng của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
4/Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về tổ chức và hoạt động của hệ
thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàngthương mại đối với việc phòng
ngừa rủi ro tín dụng, trong đó đi sâu vào nghiên cứu mô hình và tổ chức
hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàngĐầu tư và Phát
triển Việt Nam sau khi đã thực hiện hiện đại hoá.
Ngoài ra luận văn cũng nghiên cứu một số vấn đề nhằm nhận diện rủi
ro tín dụng đối với các ngân hàngthương mại và Ngân hàngĐầu tư vfa
Phát triển Việt Nam.
Về không gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những cơ sở pháp lý
để hình thành hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại nói
chung cũng như của ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam nói riêng
cũng nghiên cứu các chuẩn mực, thông lệ quốc tế áp dụng cho hệ thống
kiểm soát nội bộ các ngân hàngthương mại. Luận văn cũng nghiên cứu ảnh
hưởng của công nghệ ngân hànghiện đại đối với công tác kiểm soát nội bộ
và hệ thống phương pháp kỹ thuật chuyên môn, nghiệp vụ nhằm phòng
ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng.
5/ Phƣơng pháp nghiên cứu
7
Trong luận văn, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong
việc nghiên cứu khoa học xã hội cũng như kinh tế học, các tác giả sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp chung là phương pháp phân tích, so sánh nhằm tìm ra
những căn cứ, số liệu minh hoạ cho luận điểm được nêu ra.
- Phương pháp bổ trợ như phương pháp phân kỳ, thống kê, tổng hợp và
toán học nhằm nêu rõ đặc thù từng giai đoạn khác nhau của hệ thống kiểm
soát nội bộ ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam . Đồng thời, các
bảng, biểu, đồ thị…. có thể được sử dụng trong luận văn để minh hoạ cho
vấn đề được nghiên cứu.
9 Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ NHẰM
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA NÓ ĐẾN
PHÒNG NGỪA RỦI RO TÍN DỤNG TẠI CAC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1.1 KHÁI NIỆM, CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA HỆ THỐNG
KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1.1.1 Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Việc nghiên cứu và áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ đã đi đến việc
nhận thức và định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ theo nhiều mức độ
khác nhau. Theo định nghĩa do COSO ( Committee of Sponsoring
Orgnization) là một Uỷ ban thuộc hội đồng quốc gia Hoa kỳ về chống gian
lận báo cáo tài chính (National Commission on Fraudulent Financial
Reporting) đưa ra đã được thừa nhận rộng rãi thì hệ thống kiểm soát nội bộ
được xác định như sau:
“ Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, người điều
hành và các nhân viên khác chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự
đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện được các mục tiêu sau đây: (a) Báo cáo
tài chính đáng tín cậy, (b) hoạt động hữu hiệu và hiệu quả, (c) các luật lệ
và các quy định được tuân thủ.”
liên tục, là phương tiện để các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt
động của tổ chức mình đồng thời nó đảm bảo hiệu quả, an toàn cho hoạt
động, tuân thủ các quy định của luật pháp và đảm bảo sự tin cậy của
những thông tin tài chính.
- Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế và vận hành bởi con người.
Hệ thống kiểm soát nội bộ không chỉ đơn thuần chỉ là những chính sách,
thủ tục, biểu mẫu, các quy định mà phải bao gồm cả những con người
trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các thành viên trong
tổ chức. Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở
mọi nơi và vận hành chúng.
- Kiểm soát nội bộ đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt
đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát,
những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người hoặc sự khiếm
khuyết trong bản thân hệ thống kiểm soát nội bộ nên dẫn đến không thực
hiện được các mục tiêu đề ra. Ngoài ra, hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có
thể ngăn chặn và phát hiện những rủi ro, sai phạm nhưng không thể đảm
bảo rằng nó không bao giờ xảy ra. Hơn nữa, nguyên tắc cơ bản trong việc
đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể
vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó, tuy người
quản lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì
họ vẫn không áp dụng các biện pháp để kiểm soát rủi ro tương ứng.
Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội
bộ. Theo hiệp hội kiểm toán viên nội bộ IIA thì “ Kiểm toán nội bộ là hoạt
động bảo đảm và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiết lập
nhằm tăng thêm giá trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm
toán nội bộ giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu thông qua việc đưa ra
12
một cách tiếp cận có hệ thống và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính
hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm soát và giám sát”. Như vậy, kiểm toán
nội bộ có nhiệm vụ đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm phát hiện
cách kinh doanh (hoạt động) của Ban lãnh đạo, sự tham gia của những
người chịu trách nhiệm quản trị doanh nghiệp hoặc điều hành tổ chức, hiệu
quả của cơ cấu tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tin cậy
của các ước tính của ban lãnh đạo
Môi trường kiểm soát là nền móng cho toàn bộ các yếu tố còn lại của
hệ thống kiểm soát nội bộ, quy định nguyên tắc và cơ cấu.
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi
phối ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối
với các bộ phận khác của kiểm soát nội bộ. Các nhân tố chính thuộc về
môi trường kiểm soát là:
- Tính trung thực và giá trị đạo đức: sự hiệu quả của hệ thống kiểm
soát nội bộ trước tiên phụ thuộc vào tính trung thực và sự tôn trọng các giá
trị đạo đức của những người liên quan đến quá trình kiểm soát. Để đáp ứng
yêu cầu này, nhà quản lý cao cấp phải xây dựng những chuẩn mực đạo đức
trong tổ chức và có những xử lý thích hợp nhằm đảm bảo ngăn ngừa các
thành viên có hành vi thiếu đạo đức hoặc phạm pháp.
- Đảm bảo về năng lực: là đảm bảo cho nhân viên có được những kỹ
năng và hiểu biết cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ của mình. Nhân tố
này có thể đạt được và duy trì với điều kiện nhà quản lý thực hiện tuyển
dụng nhân viên có trình độ đào tạo và kinh nghiệm phù hợp với yêu cầu vị
14
trí công việc mà họ dự kiến được đảm nhiệm. Ngoài ra, việc đào tạo lại,
huấn luyện và truyền thụ những bí quyết kinh nghiệm thực hiện công việc
của tổ chức cũng rất quan trọng.
- Hội đồng quản trị và uỷ ban kiểm toán ( ban kiểm soát): Đối với
các công ty đại chúng ( công ty cổ phần) theo quy định phải có Ban kiểm
soát, nếu Công ty có quy mô ở mức độ nhất định hoặc các định chế tài
chính như ngân hàng thương mại thì có uỷ ban kiểm toán. Đây là uỷ ban
gồm có một số thành viên trong, hoặc ngoài Hội đồng quản trị nhưng
không trực tiếp điều hành đơn vị. Ủy ban này giám sát sự tuân thủ pháp
- Chính sách nhân sự: là các chính sách và thủ tục của nhà quản lý về
tuyển dụng, huấn luyện, sa thải, đề bạt, khen thưởng và kỷ luật nhân viên.
Chính sách nhân sự có ảnh hưởng đáng kể đến sự hữu hiệu của môi trường
kiểm soát thông qua các tác động của các yếu tố khác trong môi trường
kiểm soát như bảo đảm về năng lực, tính chính trực và các giá trị đạo đức.
b)Đánh giá rủi ro
Để giới hạn rủi ro ở mức chấp nhận được, người quản lý phải xác
định mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể
kiểm soát được rủi ro.
- Xác định mục tiêu của đơn vị: mục tiêu tuy không phải là bộ phận
của kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để
đánh giá rủi ro. Bởi lẽ một sự kiện có thể trở thành một rủi ro quan trọng
đối với tổ chức hay không sẽ phụ thuộc vào mức độ tác động tiêu cực của
nó đến mục tiêu của đơn vị. Xác định mục tiêu bao gồm việc đưa ra sứ
mệnh, hoạch định các mục tiêu chiến lược cũng như những chỉ tiêu phải
16
đạt được trong ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Việc xác định mục tiêu có
thể được thực hiện qua việc ban hành các văn bản hoặc đơn giản hơn, qua
nhận thức và phát biểu hàng ngày của người quản lý.
- Nhận dạng rủi ro: rủi ro có thể tác động đến toàn bộ tổ chức hay chỉ
ảnh hưởng đến từng hoạt động cụ thể. Để nhận dạng rủi ro, người quản lý
có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng phương tiện
dự báo, phân tích dữ liệu quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các
hoạt động. Trong doanh nghiệp nhỏ, công việc này có thể tiến hành dưới
dạng những cuộc tiếp xúc với khách hàng, ngân hàng… hoặc các buổi họp
giao ban trong nội bộ.
- Phân tích và đánh giá rủi ro: vì rủi ro rất khó định lượng nên đây là
một công việc khá phức tạp và có nhiều phương pháp khác nhau. Tuy
nhiên, một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro thường bao gồm các bước
sau đây : Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng có thể có của nó đến
thể được áp dụng cho những nghiệp vụ phát sinh không thường xuyên. Phê
chuẩn cụ thể cũng có thể được áp dụng đối với những nghiệp vụ thường
xuyên nhưng vượt ra khỏi giới hạn cho phép của chính sách chung.
Các cá nhân hoặc bộ phận được uỷ quyền để thực hiện phê chuẩn phải
có chức vụ tương xứng với tính chất và tầm quan trọng của nghiệp vụ.
Trong môi trường xử lý dữ liệu bằng phương pháp điện tử, việc kiểm soát
quá trình xử lý thông tin cũng thường được chia thành kiểm soát chung và
kiểm soát ứng dụng với những đặc thù riêng.
18
- Kiểm soát vật chất: hoạt động này được thực hiện cho các loại sổ
sách và tài sản, cũng như các chương trình phần mềm tin học và những hồ
sơ, dữ liệu nhằm đảm bảo rằng tài sản không bị mất mát, đánh cắp hoặc sử
dụng trái với thẩm quyền.
- Kiểm soát độc lập việc thực hiện: là việc kiểm tra được tiến hành
bởi các cá nhân (hoặc bộ phận) khác với cá nhân ( hoặc bộ phận) đang
thực hiện nghiệp vụ, thực chất đây là yêu cầu kiểm tra chéo giữa các bộ
phận, cá nhân trong tổ chức. Nhu cầu kiểm tra độc lập xuất phát từ hệ
thống kiểm soát nội bộ thường có khuynh hướng giảm sút tính hữu hiệu
trừ phi có một cơ chế thường xuyên kiểm tra soát xét lại.
Yêu cầu quan trọng đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là họ
phải độc lập với đối tượng bị kiểm tra. Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ
mất đi nếu người thực hiện thẩm tra lại là nhân viên cấp dưới hoặc là
người có quyền lợi liên quan đến người bị kiểm tra.
d) Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc
thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua
việc hình thành các báo cáo cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và
sự tuân thủ, bao gồm cả cho nội bộ và bên ngoài.
Thông tin cần thiết cho mọi cấp của tổ chức vì giúp việc đạt được các
mục tiêu kiểm soát khác nhau. Thông tin được cung cấp qua hệ thống
1.1 .2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàngthƣơng mại
20
1.1.2.1Một số đặc trưng của các ngân hàngthương mại
a) Khái niệm ngân hàng thương mại
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá đã là điều kiện phát triển cho
hoạt động ngân hàng. Trên thế giới cũng đã có nhiều kiến giải khác nhau
về sự ra đời của ngân hàngcũng như nguồn gốc của thuật ngữ “ngân
hàng”. Về ngôn ngữ, thuật ngữ “ngân hàng” bắt nguồn từ Châu Âu. Cả
tiếng Pháp cổ Banque và tiếng Ý Banca đã được sử dụng từ nhiều thế kỷ
trước để chỉ “cái ghế dài” hay “bàn của người đổi tiền” [10]. Các ngân
hàng đầu tiên có thể dùng vốn tự có để tài trợ cho hoạt động của họ, nhưng
điều đó không kéo dài trước khi ý tưởng về thu hút tiền gửi và cho vay
ngắn hạn đối với những khách hàng giầu có trở thành nội dung quan trọng
của hoạt động ngân hàng.
Ngành ngân hàng nhanh chóng phát triển cùng với sự phát triển kinh
tế và công nghệ. Hoạt động ngân hàngngày càng được đa dạng hoá và mở
rộng, biến ngân hàngthành trung gian tài chính có vị trí quan trọng nhất
trong nền kinh tế thị trường. Việc đưa ra khái niệm “ngân hàngthương
mại” cũng theo đó mà trở nên phức tạp, nhất là hiện nay có xu hướng kinh
doanh đa lĩnh vực, ngân hàngcó thể tham gia vào kinh doanh các lĩnh vực
mới mẻ như bảo hiểm, bất động sản,… ngược lại các định chế tài chính
khác và các tập đoàn kinh tế lớn lại có xu hướng hoạt động sang lĩnh vực
ngân hàng.
Tại khoản 2, điều 20 luật các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông
qua ngày 15/4/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín
dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997, phần giải thích từ ngữ
định nghĩa “ Ngân hàng là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các
nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” tại
khoản 7 cũng tại điều này xác định “ hoạt động ngân hàng là hoạt động
kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
tài khoản vãng lai và các tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Tài khoản vãng lai dành cho tiền gửi nhằm mục đích thanh toán đối với
người khác. Đối với tiền gửi có kỳ hạn, người gửi không được sử dụng các
hình thức thanh toán như đối với tiền gửi thanh toán nhưng sẽ được hưởng
lãi suất cao hơn. Nếu cần tiền, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền tạm thời chưa sử dụng, được gửi vào ngân
hàng nhằm mục tiêu bảo toàn và sinh lời.
Tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản nhất của ngân
hàngthương mại, là việc ngân hàngcung cấp cho khách hàng một khoản
tiền, khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và hoàn trả gốc theo đúng thời
hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
Trung gian thanh toán là hoạt động truyền thống của ngân hàng,
tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện các khoản thanh toán bằng phương
thức giấy tờ hoặc điện tử mà không phải mang đi mang lại một lượng lớn
tiền mặt.
Hoạt động khác của ngân hàng thương mại:
Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại thường gồm ba hoạt
động chính là đầu tư ngân quỹ, đầu tư hưởng lợi và đầu tư nắm quyền
kiểm soát. Đầu tư ngân quỹ là một hình thức đầu tư tài chính nhằm mục
đích quản lý dòng tiền, duy trì khả năng thanh toán cho ngân hàng. Đầu tư
hưởng lợi (đầu tư tài chính và chiến lược) chủ yếu để hưởng lợi tức. Lợi
tức thu được từ đầu tư loại này có thể từ chênh lệch giá chứng khoán, từ
lợi tức được trả cho việc nắm giữ chứng khoán (lãi trái phiếu, cổ tức) hoặc
lợi nhuận được chia từ góp vốn liên doanh. Đầu tư nắm quyền kiểm soát là
một hình thức đầu tư chiến lược, với mục tiêu dài hạn, nhằm mục đích
nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp, mở rộng lĩnh vực kinh doanh của
ngân hàng.
23
Ngoài hai loại hình sử dụng vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong sử
dụng vốn của ngân hàngthương mại, các ngân hàngcòn phải sử dụng một
phiếu cũng được sử dụng để tăng vốn cho ngân hàng, nhưng không phải là
hoạt động thường xuyên. Ngoài ra, các ngân hàng còn thực hiện bổ sung
vốn thông qua lợi nhuận để lại hoặc nhận vốn từ ngân sách.
b) Hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng
thương mại
- Khái niệm tín dụng
Tín dụng là khoản mục tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn
các ngân hàngthương mại, phản ánh hoạt động cơ bản của ngân hàng. Tín
dụng (credit) xuất phát từ tiếng la tinh là credo (có nghĩa là tin tưởng, tín
nhiệm). Hoạt động tín dụng, trong khuôn khổ của luận văn này được hiểu
đơn thuần là hoạt động cho vay của ngân hàng. Tiếp cận theo chức năng
hoạt động của ngân hàngthì tín dụng được hiểu như sau: “tín dụng là một
giao dịch về tài sản ( tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay ( ngân hàngvà
các định chế tài chính khác), trong đó bên vay chuyển giao tài sản cho bên
đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận, bên đi vay
có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán”[1] tức là ngân hàng cung cấp cho khách hàng một
khoản tiền, khách hàng có trách nhiệm phải trả lãi và hoàn trả gốc theo
đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.
- Phân loại hoạt động tín dụng
Tín dụng được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, tuỳ thuộc
mục đích quản trị.