Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cửa Lò - Pdf 36

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT I
DANH MỤC BẢNG BIỂU II
DANH MỤC SƠ ĐỒ II
Quá trình hình thành và phát triển 33
Mục tiêu của ngân hàng 35


i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

KÝ HIỆU
CBTD

Rủi ro tín dụng
Tổ chức tín dụng
Vốn huy động


ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
2
3

Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 2012 – 2014
43
Bảng 3.2: Báo cáo kinh doanh năm 2012 – năm 2014
44
Bảng 3.3: Công tác tín dụng của Ngân hàng NN&PT NTVN46
Chi nhánh Cửa Lò năm 2012- 2014

DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT
1
2
3

Tên sơ đồ, đồ thị
Trang


hàng NN&PT NTVN- Chi nhánh Cửa Lò
Sơ đồ 3.7: Sơ đồ quy trình kiểm soát xét duyệt cho vay tại NH

61

8

NN&PTNTVN- Chi nhánh Cửa Lò
Sơ đồ 3.8: Sơ đồ quy trình kiểm soát giải ngân

62


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết
quả nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận của các tác giả khác đã được
tôi xin ý kiến sử dụng và được chấp nhận. Các số liệu trong khóa luận là kết
quả khảo sát thực tế từ đơn vị thực tập. Tôi xin cam kết về tính trung thực
của những luận điểm trong khóa luận này.
Sinh viên

Lê Thị Như Ý


1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1.


2
1.2.

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

nghiên cứu
Cho đến nay, việc nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến công tác KSNB
của ngân hàng thương mại (NHTM) của các học giả Việt Nam và nước ngoài
liên quan đến luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể phân thành 2 vấn đề
được nghiên cứu chủ yếu là:
a, Nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến kiểm soát nội bộ
b, Nghiên cứu việc nhận diện và phòng ngừa rủi ro tín dụng
Trong nhóm công trình thứ nhất đề cập đến hệ thống KSNB của các ngân
hàng thương mại Việt Nam nhưng cũng chỉ ở mức độ giới thiệu chứ không đi
sâu vào phân tích, nghiên cứu.
Trong nhóm công trình thứ hai tập trung vào phân tích rủi ro các hoạt
động của các ngân hàng thương mại nói chung và rủi ro tín dụng của các Ngân
hàng thương mại nói riêng.
Các luận văn có liên quan đến công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động
tín dụng:
- Luận văn thạc sĩ về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng như: “Hoàn thiện
công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội” của tác giả Đoàn Văn Phú. Trong
bài luận văn, tác giả đã nêu ra được những mặt ưu điểm và tồn tại trong
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội để đưa ra được những giải
pháp hoàn thiện hợp lý và thiết thực để ngân hàng có thể áp dụng thực tế.
- Luận văn “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHNN& PTNT thành
phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc. Trong luận văn của
mình, tác giả nghiên cứu đề tài công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam mới

- Chuyên đề "Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội" (Trần
Thanh Hà). Trong bài luận văn đã nêu ra được các khái niệm về rủi ro tín
dụng và các nguyên nhân chính trong rủi ro tín dụng rất cụ thể. Từ đó rút
ra những giải pháp hợp lý để nâng cao lợi nhuận từ hoạt động tín dụng tại


4
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Nam Hà Nội. Chỉ ra
những ưu điểm và hạn chế để ngân hàng tiếp tục phát huy và hoàn thiện
công tác quản trị rủi ro tín dụng.
Như vậy, tình hình nghiên cứu từ trước đến nay tập trung vào công tác
kiểm toán nội bộ hoặc rủi ro tín dụng tại các NHTM. Tại ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (NH NN&PT NTVN)- Chi nhánh Cửa
Lò từ trước đến giờ vẫn chưa có đề tài nào nghiên cứu về hệ thống KSNB đối
với hoạt động tín dụng. Vì vậy việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt
động tín dụng của NH NN&PT NTVN- Chi nhánh Cửa Lò là đối tượng nghiên
cứu chính và khoá luận sẽ là một công trình nghiên cứu hệ thống toàn diện về
vấn đề này.
1.3.

Mục tiêu nghiên cứu

Khoá luận sẽ tập trung nghiên cứu hệ thống KSNB hoạt động tín dụng của
NH NN&PT NTVN từ trước khi hiện đại hóa đến khi đã thực hiện hiện đại hóa
đối với rủi ro tín dụng. Đề tài sẽ xem xét nghiên cứu một cách có hệ thống
những luận cứ, cơ sở khoa học về hệ thống KSNB ngân hàng thương mại nói
chung và NH NN&PT NTVN- Chi nhánh Cửa Lò nói riêng trong hoạt động
ngăn ngừa rủi ro tín dụng. Những đề xuất, giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu
quả và khắc phục những khuyết điểm trong hoạt động kiểm soát nội bộ hoạt


Phương pháp nghiên cứu

Trong khoá luận, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên
cứu khoa học xã hội cũng như kinh tế học, các tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
•Phương pháp chung là phương pháp phân tích, so sánh nhằm tìm ra căn
cứ, số liệu minh họa cho luận điểm được nêu ra.
•Phương pháp bổ trợ như phương pháp phân kỳ, thống kê, tổng hợp và
toán học nhằm nêu rõ đặc thù từng giai đoạn khác nhau của hệ thống KSNB
hoạt động tín dụng tại NH NN&PT NTVN. Đồng thời, các bảng, biểu thị,... có
thể được sử dụng trong khoá luận để minh họa cho vấn đề nghiên cứu.
•Phương pháp phân tích và so sánh báo cáo KSNB qua các kì, các năm và
đánh giá tính hiệu quả và thành tựu đạt được của hệ thống KSNB.
1.6.

Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Tôi mong rằng khoá luận sẽ có những đóng góp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, tổng hợp các cơ sở pháp lý, các chuẩn mực và thông lệ liên
quan đến hệ thống KSNB và vai trò của hệ thống KSNB đối với hoạt động tín


6
dụng của các ngân hàng thương mại.
Thứ hai, hệ thống hóa một cách có chọn lọc các công trình nghiên cứu của
các học giả Việt Nam và nước ngoài về hệ thống KSNB ngân hàng thương mại
trên thế giới và của Việt Nam đối với phòng ngừa rủi ro tín dụng.
Thứ ba, phân tích tác động và sự thay đổi của hệ thống KSNB đối với
hoạt động tín dụng sau khi thực hiện hiện đại hóa ngân hàng để đánh giá những

Fraudulent Financial Reporting) đưa ra đã được thừa nhận rộng rãi thì hệ thống
KSNB được xác định như sau:
Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, người điều hành
và các nhân viên chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:
(a) Báo cáo tài chính đáng tin cậy
(b) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
(c) Các luật lệ và các quy định được tuân thủ
Viện kế toán quốc tế đưa ra định nghĩa “ Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập
hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ
chức được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của
tổ chức và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra”
Trong báo cáo đặc biệt về kiểm soát nội bộ do Ủy ban AICPA phát hành
năm 1949 về các thủ tục làm việc đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ: “
Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối
hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để đảm bảo an toàn tài sản
của họ, kiểm tra sự phù hợp và đáng tin cậy của dữ kiệu kế toán, tăng cường tính
hiệu quả của hoạt động, và thực hiện các chính sách quản lý lâu dài ”
Theo Balse: “ Kiểm soát nội bộ là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng
quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc
một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất


8
cả các cấp trong ngân hàng. Hội đồng quản trị và Ban điều hành thiết lập môi
trường văn hoá tạo lợi nhuận cho quá trình kiểm soát nội bộ được hiệu quả và
việc theo dõi sự hiệu quả đó được diễn ra liên tục. Mỗi cá nhân trong tổ chức
phải tham gia vào quá trình đó. Những mục tiêu chủ yếu của quá trình kiểm soát
nội bộ có thể được phân loại như sau:
• Những hoạt động có hữu hiệu và hiệu quả (mục tiêu hoạt động)

 Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người. Hệ thống
KSNB không chỉ đơn thuần chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu các quy
định mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị,
Ban giám đốc, các thành viên trong tổ chức. Chính con người định ra mục tiêu,
thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
 KSNB đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt đối là các mục
tiêu sẽ được thực hiện. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát những yếu kém có
thể xảy ra do các sai lầm của con người hoặc sự khiếm khuyết trong bản thân hệ
thống KSNB nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu đề ra. Ngoài ra, hệ
thống KSNB chỉ có thể ngăn chặn và phát hiện những rủi ro sai phạm nhưng
không thể đảm bảo rằng nó không bao giờ xảy ra. Hơn nữa nguyên tắc cơ bản
trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể
vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó, tùy người quản
lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì họ vẫn
không áp dụng các biện pháp rủi ro tương ứng.
 Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội bộ.
Theo hiệp hội kiểm toán viên nội bộ 2A thì “ Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm
bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiếp lập nhằm tăng thêm giá
trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ
chức hoàn thành mục tiêu thông qua việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống
và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm
soát và giám sát ”. Như vậy, kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ đánh giá hệ thống
kiểm soát nội bộ. Trên cơ đó đó có các kiến nghị với các cấp quản trị của tổ
chức để hoàn thiện hệ thống KSNB. Hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ được
thiết lập và vận hành nhằm mục đích cuối cùng là kiểm soát và phòng ngừa rủi
ro trong hoạt động là việc quản trị rủi ro của các tổ chức. Trong khi kiểm toán
nội bộ chỉ tập trung vào việc đánh giá quản trị rủi ro sau khi các hoạt động đã


10

lãnh đạo
Môi trường kiểm soát là nền móng cho toàn bộ các yếu tố còn lại của hệ
thống KSNB, quy định nguyên tắc và cơ cấu.
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối
ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ
phận khác của KSNB. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là:
• Tính trung thực và giá trị đạo đức


11
• Đảm bảo về năng lực
• Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán (hay kiểm soát)
• Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
• Cơ cấu tổ chức
• Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm
• Chính sách nhâm sự
2.1.2.2. Hệ thống thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc
thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc
hình thành các báo cáo cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ,
bao gồm cả nội bộ và bên ngoài.
Thông tin và truyền thông là hai bộ phận gắn kết với nhau. Đó là hệ thống
thu nhận, xử lý, ghi chép thông tin và hệ thống báo cáo thông tin trong nội bộ và
bên ngoài.
 Thông tin:
Thông tin cần thiết cho mọi cấp trong doanh nghiệp để sản xuất kinh
doanh và thoả mãn các mục tiêu về hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính và
tính tuân thủ. Mọi thông tin được sử dụng trong doanh nghiệp có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau.
• Hệ thống thông tin:

KSNB là hữu hiệu khi các thông tin trung thực, đánh tin cậy và quá trình truyền
thông được thực hiện chính xác, kịp thời.
Các phương tiện dùng trong truyền thông rất đa dạng như: Bản chỉ dẫn
thực hiện, thư báo, thông báo, băng hình, truyền miệng qua các kỳ họp, các buổi
hội thảo…Một phương tiện truyền thông khác có tác động mạnh là hành động
của những nhà quản lý.
• Truyền thông bên trong doanh nghiệp:
Nhiệm vụ quản lý tài chính và các hoạt động quan trọng đòi hỏi thông tin
được cung cấp một cách rõ ràng và chính xác từ các nhà quản lý cấp cao để các
nhân viên cấp dưới thực hiện nghiêm túc.


13
Song song với phương tiện truyền thông từ trên xuống, các nhà quản lý
cũng cần phải lắng nghe các thông tin phản hồi từ dưới lên để hoạt động của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
• Truyền thông bên ngoài doanh nghiệp:
Việc truyền thông không chỉ cần thiết bên trong doanh nghiệp mà còn cả
bên ngoài doanh nghiệp. Cổ đông, người phân tích tài chính, người lập pháp
cung cấp những yêu cầu của họ và họ có thể hiểu được những khó khăn mà
doanh nghiệp phải đối phó. Khách hàng và người cung cấp có thể cung cấp
những thông tin quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho doanh
nghiệp có khả năng đáp ứng những nhu cầu ngày càng phát triển của thị trường.
2.1.2.3. Các hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chi
phí, các yêu cầu của ban lãnh đạo được thực hiện đúng và đầy đủ. Các chính
sách và thủ tục này giúp thực thi những hành động với mục đích chính là giúp
kiểm soát các rủi ro mà đơn vị đang hoặc có thể gặp phải. Có nhiều loại hoạt
động kiểm soát khác nhau có thể thực hiện, dưới đây là một số hoạt động kiểm
soát chủ yếu của đơn vị:

định được mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể
kiểm soát được rủi ro.
Xác định mục tiêu của đơn vị: mục tiêu tuy không phải là bộ phận của
kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để xác định rủi ro.
•Nhận dạng rủi ro: để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu
quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động.
•Phân tích và đánh giá rủi ro: một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro
thường bao gồm các bước sau đây: Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng
có thể có của nó đến mục tiêu của đơn vị xem xét khả năng xảy ra rủi ro và
những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro.
2.1.2.5. Giám sát
Đây là bộ phận cuối cùng của KSNB. Giám sát là một quá trình mà người
quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát. Điều quan trọng trong giám
sát là phải xác định được hệ thống KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay
không và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn phát


15
triển của tổ chức hay không. Thông thường các nhà quản lý thực hiện giám sát
thường xuyên hay định kỳ.
•Giám sát thường xuyên đạt được thông qua hệ thống báo cáo hoạt động
nội bộ; các ý kiến, thông tin bên ngoài như ý kiến khách hàng, đánh giá của các
cơ quan quản lý là nước... để đánh gia hoạt động của tổ chức và phát hiện những
bất thường.
•Giám sát định kỳ được thực hiện thông qua các cuộc kiểm toán định kỳ do
kiểm toán viên nội bộ hoặc kiểm toán độc lập thực hiện.
2.1.3. Hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ
Qua thực tiễn về rủi ro, tổn thất mà các ngân hàng thương mại gặp phải
trong những năm gần đây chúng ta nhận thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của các

pháp ngăn chặn và giải quyết phù hợp.
Hai là, hệ thống kiểm soát- bộ phận cấu thành quan trọng của cơ chế
KSNB của Ngân hàng vẫn đang ở trong quá trình chuyển đổi. Hoạt động kinh
doanh trong một lĩnh vực đặc thù, các Ngân hàng áp dụng một hệ thống kế toán
tương đối khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam đã ban hành chưa tính đến những yếu tố đặc thù
này và vẫn khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Mặc dù tổ chức hoạt
động theo mô hình tổng công ty nhưng hệ thống kế toán chưa lập được các báo
cáo bộ phận và báo cáo tổng thể bằng cách sử dụng phương pháp kế toán hợp
nhất. Vì vậy, vai trò KSNB của hệ thống kế toán còn rất hạn chế.
Ba là, cơ chế KSNB tại các NHTM của nhà nước mới chỉ chú trọng đến
công tác kiểm soát bảo vệ tài sản mà chưa chú ý đến công tác kiểm soát quản lý
cũng như kiểm soát tổng quát. Nói cách khác, KSNB chưa làm tốt chức năng
ngăn chặn và giám sát mà mới chỉ thực hiện chức năng kiểm tra phát hiện và xử
lý các vấn đề phát sinh. Cơ chế kiếm soát quá tập trung vào các cuộc kiểm tra,
kiểm toán đột xuất, trong khi đáng ra cơ chế kiểm soát thường xuyên cần được
xây dựng và thực hiện.
 Về phía ngân hàng thương mại
Với những NHTM mại nói chung, ngoài những bất cập nêu trên còn một
số các hạn chế khác:


17
Một là, những vi phạm (vi phạm đạo đức hành nghề- thoái hóa biến chất,
trình độ nghiệp vụ yếu kém- bị khách hàng lừa đảo, sự câu kết thông đồng...)
của một số cán bộ, nhân viên ngân hàng không được hệ thống KSNB phát hiện
kịp thời hoặc đã phát hiện nhưng không được Ban lãnh đạo ngân hàng xử lý kịp
thời có những trường hợp vi phạm được phát hiện sau khi kiểm toán (do các cơ
quan kiểm toán bên ngoài thực hiện) đã khuyến cáo cho ban lãnh đạo ngân hàng
biết nhưng cũng không được xử lý kịp thời dẫn đến thất thoát hàng nghìn tỷ đồng

hiệu quả hoạt động của Ban điều hành hay Ban giám đốc đối với chi nhánh một
cách khách quan và hiệu quả.
•Để khắc phục điểm yếu trong quy trình nghiệp vụ cho vay, NHTM cần tổ
chức riêng một bộ phận thu nhận, quản lý thông tin khách hàng, theo dõi và
đánh giá quan hệ kinh tế giữa đơn vị ngân hàng với khách hàng. Bộ phận này
cũng có quyền nhận báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân của
CBTD. Bộ phận thu nhận quản lý thông tin khách hàng cần có một giám đốc
phụ trách, không phải là phó giám đốc phụ trách lao động tín dụng để thực hiện
phân tách chức năng trong hoạt động từ cấp cơ sở đến cấp lãnh đạo cao nhất.
•Hiện nay, còn nhiều quy trình nghiệp vụ quan trọng vẫn chưa được ban
hành hoặc đã có nhưng chưa đầy đủ và bao quát hết được các bước thực hiện
của từng nghiệp vụ cụ thể. Điều này đã gây khó khăn cho Ban kiểm soát và các
phòng ban kiểm toán nội bộ, các bộ phận này không có cơ sở chính thức để đánh
giá hiệu quả của nhiều hoạt động, nghiệp vụ trong Ngân hàng thương mại nhà
nước. Hơn nữa, công tác kiểm toán là chủ yếu sử dụng phương pháp kiểm toán
tuân thủ và kiểm toán chi tiết, với các công cụ và phương tiện thủ công lại chỉ
chú trọng vào các sự việc, các kết quả đã xảy ra, chứ không tiếp cận một cách có
hệ thống và tổng thể trên cơ sở định hướng rủi ro nhằm phát hiện các rủi ro tiềm
ẩn hay những điểm yếu trong quy trình để có những đề xuất kiến nghị sửa đổi
khắc phục. Đồng thời, nếu chỉ đi vào chi tiết thì khi khối lượng công việc tăng
nhanh, bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ bị quá tải không thể đảm đương được nhiệm
vụ của mình.
•Như trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế, có
những nhóm khách hàng mà giữa họ có những mối quan hệ rất đặc biệt chi phối
về quan hệ gia đình thân thiết của các thành viên ban lãnh đạo, chi phối về thị


19
trường... Do những mối quan hệ đặc biệt như vậy, rủi ro trong quá trình hoạt
động có thể xảy ra hàng loạt, hoặc dây chuyền ở tất cả các khách hàng trong

bất hợp lý, thiếu khoa học dẫn đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động còn thấp,
chưa đáp ứng được nhu cầu giám sát và tư vấn quản lý ngân hàng trong điều
kiện các ngân hàng thương mại đang đứng trước thử thách khắc nghiệt của quá
trình hội nhập với khu vực và thế giới.
2.2. Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.2.1. Đặc điểm hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại ảnh
hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2.1.1. Sơ lược về Ngân hàng thương mại
a. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí
quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm
khác nhau về NHTM:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ
đầu tư.
Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “NHTM là một tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các tổ chức Tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998:
“ NHTM là lại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm: NHTM, ngân hàng đầu tư, ngân hàng
phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại ngân hàng khác”.
Trong các ngân hàng trung gian, NHTM là loại hình kinh doanh điển
hình. Hệ thống các NHTM chiếm vị trí quan trọng nhất về quy mô tài sản và về
thành phần các nghiệp vụ. Hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực: nghiệp vụ
nợ (huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới


tiền khi phát tín dụng. Bút tệ hay tiền ghi sổ chỉ tạo ra khi phát tín dụng và thông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status