Hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Cửa Lò - Pdf 36

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT I
DANH MỤC BẢNG BIỂU II
DANH MỤC SƠ ĐỒ II
Quá trình hình thành và phát triển 33
Mục tiêu của ngân hàng 35


i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16

KÝ HIỆU
CBTD

Rủi ro tín dụng
Tổ chức tín dụng
Vốn huy động


ii

DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT
1
2
3

Tên bảng
Trang
Bảng 3.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 2012 – 2014
43
Bảng 3.2: Báo cáo kinh doanh năm 2012 – năm 2014
44
Bảng 3.3: Công tác tín dụng của Ngân hàng NN&PT NTVN46
Chi nhánh Cửa Lò năm 2012- 2014

DANH MỤC SƠ ĐỒ
STT
1
2
3

Tên sơ đồ, đồ thị
Trang


hàng NN&PT NTVN- Chi nhánh Cửa Lò
Sơ đồ 3.7: Sơ đồ quy trình kiểm soát xét duyệt cho vay tại NH

61

8

NN&PTNTVN- Chi nhánh Cửa Lò
Sơ đồ 3.8: Sơ đồ quy trình kiểm soát giải ngân

62


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, những kết
quả nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận của các tác giả khác đã được
tôi xin ý kiến sử dụng và được chấp nhận. Các số liệu trong khóa luận là kết
quả khảo sát thực tế từ đơn vị thực tập. Tôi xin cam kết về tính trung thực
của những luận điểm trong khóa luận này.
Sinh viên

Lê Thị Như Ý


1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày nay, nước ta đang trong giai đoạn chuyển sang nền kinh tế thị trường,

Cho đến nay, việc nghiên cứu các lĩnh vực liên quan đến công tác KSNB
của ngân hàng thương mại (NHTM) của các học giả Việt Nam và nước ngoài
liên quan đến luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể phân thành 2 vấn đề
được nghiên cứu chủ yếu là:
a, Nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến kiểm soát nội bộ
b, Nghiên cứu việc nhận diện và phòng ngừa rủi ro tín dụng
Trong nhóm công trình thứ nhất đề cập đến hệ thống KSNB của các ngân
hàng thương mại Việt Nam nhưng cũng chỉ ở mức độ giới thiệu chứ không đi
sâu vào phân tích, nghiên cứu.
Trong nhóm công trình thứ hai tập trung vào phân tích rủi ro các hoạt
động của các ngân hàng thương mại nói chung và rủi ro tín dụng của các Ngân
hàng thương mại nói riêng.
Các luận văn có liên quan đến công tác kiểm soát nội bộ đối với hoạt động
tín dụng:
- Luận văn thạc sĩ về kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng như: “Hoàn thiện
công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội” của tác giả Đoàn Văn Phú. Trong
bài luận văn, tác giả đã nêu ra được những mặt ưu điểm và tồn tại trong
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội để đưa ra được những giải
pháp hoàn thiện hợp lý và thiết thực để ngân hàng có thể áp dụng thực tế.
- Luận văn “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NHNN& PTNT thành
phố Đà Nẵng” của tác giả Nguyễn Thị Bích Ngọc. Trong luận văn của
mình, tác giả nghiên cứu đề tài công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín
dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam mới
chỉ giới hạn trong nội dung cụ thể là hoàn thiện những mặt còn hạn chế
của công tác kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại NH NN&PTNTVN.


3
- Luận văn "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín

một số ngân hàng thương mại các nước trên thế giới đối với phòng ngừa rủi ro


5
tín dụng.
 Qua nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác KSNB đối với hoạt động tín dụng của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là về tổ chức và hoạt động của hệ
thống KSNB của các NHTM đối việc phòng ngừa rủi ro tín dụng, trong đó đi
sâu vào nghiên cứu mô hình và tổ chức hoạt động của hệ thống KSNB của NH
NN&PT NTVN.
Về không gian luận văn sẽ tập trung nghiên cứu những cơ sở pháp lý để
hình thành hệ thống KSNB của các NHTM nói chung cũng như của NH
NN&PT NTVN- Chi nhánh Cửa Lò nói riêng và nghiên cứu các chuẩn mực,
thông lệ quốc tế áp dụng cho hệ thống KSNB của các NHTM.
1.5. Phương pháp nghiên cứu
Trong khoá luận, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong nghiên
cứu khoa học xã hội cũng như kinh tế học, các tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
•Phương pháp chung là phương pháp phân tích, so sánh nhằm tìm ra căn
cứ, số liệu minh họa cho luận điểm được nêu ra.
•Phương pháp bổ trợ như phương pháp phân kỳ, thống kê, tổng hợp và
toán học nhằm nêu rõ đặc thù từng giai đoạn khác nhau của hệ thống KSNB
hoạt động tín dụng tại NH NN&PT NTVN. Đồng thời, các bảng, biểu thị,... có
thể được sử dụng trong khoá luận để minh họa cho vấn đề nghiên cứu.
•Phương pháp phân tích và so sánh báo cáo KSNB qua các kì, các năm và
đánh giá tính hiệu quả và thành tựu đạt được của hệ thống KSNB.
1.6. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu


CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI
VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. Khái quát chung về kiểm soát nội bộ
2.1.1. Bản chất và vai trò của kiểm soát nội bộ
Viện nghiên cứu và áp dụng hệ thống KSNB đã đi đến việc nhận thức và
định nghĩa hệ thống KSNB theo nhiều mức độ khác nhau. Theo định nghĩa do
COSO (Committe of Sponsoring Organization) là một Ủy ban thuộc hội đồng
quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (National Commission on
Fraudulent Financial Reporting) đưa ra đã được thừa nhận rộng rãi thì hệ thống
KSNB được xác định như sau:
Kiểm soát nội bộ là một quá trình do Hội đồng quản trị, người điều hành
và các nhân viên chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý
nhằm thực hiện các mục tiêu sau đây:
(a) Báo cáo tài chính đáng tin cậy
(b) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả
(c) Các luật lệ và các quy định được tuân thủ
Viện kế toán quốc tế đưa ra định nghĩa “ Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập
hợp bao gồm các chính sách, quy trình, quy định nội bộ, các thông lệ, cơ cấu tổ
chức được thiết lập và được tổ chức thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu của
tổ chức và đảm bảo phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro xảy ra”
Trong báo cáo đặc biệt về kiểm soát nội bộ do Ủy ban AICPA phát hành
năm 1949 về các thủ tục làm việc đã đưa ra khái niệm về kiểm soát nội bộ: “
Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối
hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để đảm bảo an toàn tài sản
của họ, kiểm tra sự phù hợp và đáng tin cậy của dữ kiệu kế toán, tăng cường tính
hiệu quả của hoạt động, và thực hiện các chính sách quản lý lâu dài ”
Theo Balse: “ Kiểm soát nội bộ là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng
quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên. Đó không chỉ là một thủ tục hoặc
một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất

trong quá trình quản trị và vận dụng tổ chức nhưng các khâu được kết hợp với
nhau thành một thể thống nhất tạo nên hệ thống kiểm soát nội bộ.
 Hệ thống KSNB là một quá trình giám sát thường xuyên, liên tục là


9
phương tiện để các cấp quản lý trong tổ chức kiểm soát hoạt động của tổ chức
mình đồng thời nó đảm bảo hiệu quả an toàn cho hoạt động, tuân thủ các quy
định của pháp luật và đảm bảo sự tin cậy của những thông tin tài chính.
 Hệ thống KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người. Hệ thống
KSNB không chỉ đơn thuần chỉ là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu các quy
định mà phải bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị,
Ban giám đốc, các thành viên trong tổ chức. Chính con người định ra mục tiêu,
thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi và vận hành chúng.
 KSNB đảm bảo một sự hợp lý, chứ không phải là tuyệt đối là các mục
tiêu sẽ được thực hiện. Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát những yếu kém có
thể xảy ra do các sai lầm của con người hoặc sự khiếm khuyết trong bản thân hệ
thống KSNB nên dẫn đến không thực hiện được các mục tiêu đề ra. Ngoài ra, hệ
thống KSNB chỉ có thể ngăn chặn và phát hiện những rủi ro sai phạm nhưng
không thể đảm bảo rằng nó không bao giờ xảy ra. Hơn nữa nguyên tắc cơ bản
trong việc đưa ra quyết định quản lý là chi phí cho quá trình kiểm soát không thể
vượt quá lợi ích được đem lại bởi quá trình kiểm soát đó. Do đó, tùy người quản
lý có thể nhận thức được rủi ro nhưng chi phí kiểm soát quá cao thì họ vẫn
không áp dụng các biện pháp rủi ro tương ứng.
 Có một khái niệm dễ nhầm lẫn với kiểm soát nội bộ là kiểm toán nội bộ.
Theo hiệp hội kiểm toán viên nội bộ 2A thì “ Kiểm toán nội bộ là hoạt động đảm
bảo và tư vấn mang tính độc lập, khách quan được thiếp lập nhằm tăng thêm giá
trị và cải thiện cho các hoạt động của tổ chức. Kiểm toán nội bộ giúp cho tổ
chức hoàn thành mục tiêu thông qua việc đưa ra một cách tiếp cận có hệ thống
và kỷ cương nhằm đánh giá và cải thiện tính hữu hiệu trong quản trị rủi ro, kiểm

Các hoạt động kiểm soát
Đánh giá rủi ro
Giám sát

2.1.2.1. Môi trường kiểm soát
Môi trường kiểm soát bao gồm những phương châm quản lý và phong cách
kinh doanh (hoạt động) của Ban lãnh đạo, sự tham gia của những người chịu
trách nhiệm quản trị doanh nghiệp hoặc điều hành tổ chức, hiệu quả của cơ cấu
tổ chức, tính hợp lý của các kế hoạch và mức độ tịn cậy của các ước tính của ban
lãnh đạo
Môi trường kiểm soát là nền móng cho toàn bộ các yếu tố còn lại của hệ
thống KSNB, quy định nguyên tắc và cơ cấu.
Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một đơn vị, nó chi phối
ý thức kiểm soát của mọi thành viên trong đơn vị và là nền tảng đối với các bộ
phận khác của KSNB. Các nhân tố chính thuộc về môi trường kiểm soát là:
• Tính trung thực và giá trị đạo đức


11
• Đảm bảo về năng lực
• Hội đồng quản trị và Ủy ban kiểm toán (hay kiểm soát)
• Triết lý quản lý và phong cách điều hành của nhà quản lý
• Cơ cấu tổ chức
• Cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm
• Chính sách nhâm sự
2.1.2.2. Hệ thống thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông chính là điều kiện không thể thiếu cho việc
thiết lập, duy trì và nâng cao năng lực kiểm soát trong đơn vị thông qua việc
hình thành các báo cáo cung cấp thông tin về hoạt động, tài chính và sự tuân thủ,
bao gồm cả nội bộ và bên ngoài.

Việc cải tiến và phát triển hệ thống thông tin phải dựa vào kế hoạch chiến
lược liên quan đến toàn bộ chiến lược của doanh nghiệp và đáp ứng các mục tiêu
ngày càng phát triển.
Hệ thống thông tin sẽ phát triển nếu có sự hỗ trợ cụ thể của nhà quản lý
bằng các nguồn lực thích hợp bao gồm nhân lực và tài chính.
 Truyền thông:
Truyền thông là thuộc tính vốn có của hệ thống thông tin. Truyền thông là
việc cung cấp thông tin trong đơn vị (từ cấp trên xuống cấp dưới, từ cấp dưới lên
cấp trên, hoặc giữa các bộ phận có quan hệ hàng ngang) và với bên ngoài.
KSNB là hữu hiệu khi các thông tin trung thực, đánh tin cậy và quá trình truyền
thông được thực hiện chính xác, kịp thời.
Các phương tiện dùng trong truyền thông rất đa dạng như: Bản chỉ dẫn
thực hiện, thư báo, thông báo, băng hình, truyền miệng qua các kỳ họp, các buổi
hội thảo…Một phương tiện truyền thông khác có tác động mạnh là hành động
của những nhà quản lý.
• Truyền thông bên trong doanh nghiệp:
Nhiệm vụ quản lý tài chính và các hoạt động quan trọng đòi hỏi thông tin
được cung cấp một cách rõ ràng và chính xác từ các nhà quản lý cấp cao để các
nhân viên cấp dưới thực hiện nghiêm túc.


13
Song song với phương tiện truyền thông từ trên xuống, các nhà quản lý
cũng cần phải lắng nghe các thông tin phản hồi từ dưới lên để hoạt động của
doanh nghiệp đạt hiệu quả cao.
• Truyền thông bên ngoài doanh nghiệp:
Việc truyền thông không chỉ cần thiết bên trong doanh nghiệp mà còn cả
bên ngoài doanh nghiệp. Cổ đông, người phân tích tài chính, người lập pháp
cung cấp những yêu cầu của họ và họ có thể hiểu được những khó khăn mà
doanh nghiệp phải đối phó. Khách hàng và người cung cấp có thể cung cấp

•Kiểm soát độc lập việc thực hiện là kiểm tra được tiến hành bởi cá nhân
(hoặc bộ phận) đang thực hiện nghiệp vụ, thực chất đây là yêu cầu kiểm tra chéo
giữa các bộ phận, cá nhân trong tổ chức.
•Yêu cầu quan trọng nhất đối với những thành viên thực hiện kiểm tra là
họ phải độc lập với đối tượng bị kiểm tra. Sự hữu hiệu của hoạt động này sẽ mất
đi nếu người thực hiện kiểm tra lại là nhân viên cấp dưới hoặc là có quyền lợi
liên quan đến người bị kiểm tra.
2.1.2.4. Đánh giá rủi ro
Để giới hạn rủi ro ở mức thấp nhất chấp nhận được, người quản lý phải xác
định được mục tiêu của đơn vị, nhận dạng và phân tích rủi ro từ đó mới có thể
kiểm soát được rủi ro.
Xác định mục tiêu của đơn vị: mục tiêu tuy không phải là bộ phận của
kiểm soát nội bộ nhưng việc xác định nó là điều kiện tiên quyết để xác định rủi ro.
•Nhận dạng rủi ro: để nhận dạng rủi ro, người quản lý có thể sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau, từ việc sử dụng phương tiện dự báo, phân tích dữ liệu
quá khứ, cho đến việc rà soát thường xuyên các hoạt động.
•Phân tích và đánh giá rủi ro: một quy trình phân tích và đánh giá rủi ro
thường bao gồm các bước sau đây: Ước lượng tầm cỡ của rủi ro qua ảnh hưởng
có thể có của nó đến mục tiêu của đơn vị xem xét khả năng xảy ra rủi ro và
những biện pháp có thể sử dụng để đối phó với rủi ro.
2.1.2.5. Giám sát
Đây là bộ phận cuối cùng của KSNB. Giám sát là một quá trình mà người
quản lý đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát. Điều quan trọng trong giám
sát là phải xác định được hệ thống KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay
không và có cần thiết phải sửa đổi chúng cho phù hợp với từng giai đoạn phát


15
triển của tổ chức hay không. Thông thường các nhà quản lý thực hiện giám sát
thường xuyên hay định kỳ.

hiện toàn diện hoạt động KSNB. Tuy nhiên, ban kiểm soát về thực chất vẫn
chưa có được sự độc lập tương đối với bộ phận kiểm tra, đặc biệt là hội đồng
quản trị và tổng giám đốc.
•Ban kiểm tra nội bộ thuộc Tổng giám đốc được tổ chức thống nhất từ Hội
sở chính đến các đơn vị thành viên. Tuy vậy, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán
hoạt động cũng chưa được triển khai thực hiện, tính độc lập của các cuộc kiểm
tra không cao, chưa đạt được mục tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của
Ngân hàng. Điều này có nguy cơ dẫn đến rủi ro kiểm soát- tức là báo cáo kiểm
toán hoặc không đủ, không đúng, không kịp thời hoặc không đưa ra được biện
pháp ngăn chặn và giải quyết phù hợp.
Hai là, hệ thống kiểm soát- bộ phận cấu thành quan trọng của cơ chế
KSNB của Ngân hàng vẫn đang ở trong quá trình chuyển đổi. Hoạt động kinh
doanh trong một lĩnh vực đặc thù, các Ngân hàng áp dụng một hệ thống kế toán
tương đối khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống
chuẩn mực kế toán Việt Nam đã ban hành chưa tính đến những yếu tố đặc thù
này và vẫn khác biệt so với chuẩn mực kế toán quốc tế. Mặc dù tổ chức hoạt
động theo mô hình tổng công ty nhưng hệ thống kế toán chưa lập được các báo
cáo bộ phận và báo cáo tổng thể bằng cách sử dụng phương pháp kế toán hợp
nhất. Vì vậy, vai trò KSNB của hệ thống kế toán còn rất hạn chế.
Ba là, cơ chế KSNB tại các NHTM của nhà nước mới chỉ chú trọng đến
công tác kiểm soát bảo vệ tài sản mà chưa chú ý đến công tác kiểm soát quản lý
cũng như kiểm soát tổng quát. Nói cách khác, KSNB chưa làm tốt chức năng
ngăn chặn và giám sát mà mới chỉ thực hiện chức năng kiểm tra phát hiện và xử
lý các vấn đề phát sinh. Cơ chế kiếm soát quá tập trung vào các cuộc kiểm tra,
kiểm toán đột xuất, trong khi đáng ra cơ chế kiểm soát thường xuyên cần được
xây dựng và thực hiện.
 Về phía ngân hàng thương mại
Với những NHTM mại nói chung, ngoài những bất cập nêu trên còn một
số các hạn chế khác:


khách hàng. Với quy trình nghiệp vụ này, trường hợp một khoản cho vay sai do


18
trình độ nghiệp vụ yếu kém, do thông đồng giữa cán bộ tín dụng và cán bộ lãnh
đạo ngân hàng duyệt khoản vay sẽ không được ngăn ngừa, không sớm được
phát hiện và không sửa sai kịp thời. Điều này đã làm giảm tính độc lập, khách
quan của kiểm tra, kiểm toán nội bộ. Do đó, kiểm toán nội bộ không thể thực
hiện chức năng kiểm toán tổng thể hoạt động, trong đó bao gồm cả việc xem xét
hiệu quả hoạt động của Ban điều hành hay Ban giám đốc đối với chi nhánh một
cách khách quan và hiệu quả.
•Để khắc phục điểm yếu trong quy trình nghiệp vụ cho vay, NHTM cần tổ
chức riêng một bộ phận thu nhận, quản lý thông tin khách hàng, theo dõi và
đánh giá quan hệ kinh tế giữa đơn vị ngân hàng với khách hàng. Bộ phận này
cũng có quyền nhận báo cáo kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân của
CBTD. Bộ phận thu nhận quản lý thông tin khách hàng cần có một giám đốc
phụ trách, không phải là phó giám đốc phụ trách lao động tín dụng để thực hiện
phân tách chức năng trong hoạt động từ cấp cơ sở đến cấp lãnh đạo cao nhất.
•Hiện nay, còn nhiều quy trình nghiệp vụ quan trọng vẫn chưa được ban
hành hoặc đã có nhưng chưa đầy đủ và bao quát hết được các bước thực hiện
của từng nghiệp vụ cụ thể. Điều này đã gây khó khăn cho Ban kiểm soát và các
phòng ban kiểm toán nội bộ, các bộ phận này không có cơ sở chính thức để đánh
giá hiệu quả của nhiều hoạt động, nghiệp vụ trong Ngân hàng thương mại nhà
nước. Hơn nữa, công tác kiểm toán là chủ yếu sử dụng phương pháp kiểm toán
tuân thủ và kiểm toán chi tiết, với các công cụ và phương tiện thủ công lại chỉ
chú trọng vào các sự việc, các kết quả đã xảy ra, chứ không tiếp cận một cách có
hệ thống và tổng thể trên cơ sở định hướng rủi ro nhằm phát hiện các rủi ro tiềm
ẩn hay những điểm yếu trong quy trình để có những đề xuất kiến nghị sửa đổi
khắc phục. Đồng thời, nếu chỉ đi vào chi tiết thì khi khối lượng công việc tăng
nhanh, bộ phận kiểm toán nội bộ sẽ bị quá tải không thể đảm đương được nhiệm

kiểm toán của kiểm toán nhà nước và theo Luật các tài chính tín dụng, hàng năm
báo cáo quyết toán của đơn vị ngân hàng thương mại còn phải được kiểm toán
bởi một công ty kiểm toán độc lập. Mỗi đơn vị này có chương trình và nội dung
kiểm tra riêng đòi hỏi ngân hàng thương mại phải tiếp ứng.
- Có thể kết luận rằng hoạt động công tác kiểm tra nội bộ và kiểm toán nội
bộ tại các NHTM tuy đã đạt được kết quả ban đầu, nhưng vẫn còn nhiều điểm


20
bất hợp lý, thiếu khoa học dẫn đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động còn thấp,
chưa đáp ứng được nhu cầu giám sát và tư vấn quản lý ngân hàng trong điều
kiện các ngân hàng thương mại đang đứng trước thử thách khắc nghiệt của quá
trình hội nhập với khu vực và thế giới.
2.2. Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
2.2.1. Đặc điểm hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại ảnh
hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ
2.2.1.1. Sơ lược về Ngân hàng thương mại
a. Khái niệm Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí
quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm
khác nhau về NHTM:
Ở Mỹ: NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài
chính và hoạt động trong ngành dịch vụ tài chính.
Ở Ấn Độ: NHTM là cơ sở nhận các khoản ký thác để cho vay hay tài trợ
đầu tư.
Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: “NHTM là một tổ
chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết
khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Theo Luật các tổ chức Tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng 10/1998:

Nó tạo ra mối quan hệ khăng khít giữa ngân hàng và khách hàng. Vì vậy, quan
hệ này đã tạo ra những mối quan hệ tích cực đối với tiến trình tăng trưởng và
phát triển kinh tế. Qua việc thực hiện nghiệp vụ thanh toán hộ thì ngân hàng đã
trở thành thủ quỹ cho khách hàng thông qua việc mở tài khoản tiền gửi thanh
toán cho khách hàng tại ngân hàng. Việc thanh toán giữa các khách hàng được
thực hiện bằng cách trích chuyển tiền từ tài khoản của người này sang tài khoản
của người khác thông qua nghiệp vụ kế toán ngân hàng.
• Chức năng tạo tiền:
NHTM ngoài việc thu hút tiền gửi và cho vay trên số tiền gửi đó còn tạo
tiền khi phát tín dụng. Bút tệ hay tiền ghi sổ chỉ tạo ra khi phát tín dụng và thông



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status