A.
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội dân sự hiện đang là vấn đề được cả giới nghiên cứu khoa học lẫn các
nhà hoạch định chính sách quan tâm. Hiện nay, không một tư duy về hoạch định
chính sách phát triển nào có thể tránh bàn luận tới vấn đề "xã hội dân sự". Xã hội
dân sự trở thành một điểm then chốt trong các cuộc thảo luận của cả giới nghiên
cứu khoa học lẫn các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt tại các nước đang ở trong
quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Tuy nhiên, cho tới nay, chưa có một
quan niệm thống nhất nào về xã hội dân sự được đưa ra bởi lẽ bình diện để xem xét
và nhận diện về nó là vô cùng đa dạng. Với đề tài “Xã hội dân sự là gì? Phân loại
các tổ chức xã hội dân sự và vấn đề xã hội dân sự ở Việt Nam”, bài viết này sẽ
trình bày những nội dung chủ yếu liên quan tới vấn đề xã hội dân sự, tổ chức xã hội
dân sự và vấn đề xã hội ở Việt Nam.
B. NỘI DUNG
I. Xã hội dân sự
1. Những quan niệm trong lịch sử về xã hội dân sự
Nhìn một cách tổng quát, xã hội dân sự ban đầu hình thành tự phát từ những
nhóm, cộng đồng người có chung lợi ích nhu cầu, sở thích, giới tính, chính kiến,
nghề nghiệp... Từ đó có thấy, trên thực tế xã hội dân sự đã xuất hiện từ rất lâu – từ
khi con người biết kết nối tụ tập kiểu phường hội. Người ta nói nhiều đến xã hội
dân sự trong thời gian gần đây là sản phẩm thời kì phát triển tư bản chủ nghĩa với
các quan hệ dân sự như là một đối tác, đối trọng với nhà nước pháp quyền. Xét
theo khía cạnh nội hàm cơ bản của thuật ngữ “xã hội dân sự” thì ở Phương Tây, xã
hội dân sự có nguồn gốc từ đời sống xã hội ở Hy Lạp cổ đại. Các polis Hy Lạp cổ
và các đô thị La Mã cổ với những “công dân tự do” xuất hiện lần đầu trong lịch sử
(xã hội dân sự theo tiếng Hy Lạp là koinonia politiké). Do đó, Xã hội dân sự ban
đầu được hiểu là đồng nhất với xã hội công dân. Tuy nhiên khái niệm xã hội công
dân thường được hiểu là một chỉnh thể, quốc gia được hình thành từ nhiều loại
quyền, các công dân, các luật lệ và các quy tắc nhà nước của đời sống xã hội. Và
2
cho đến nay, người ta vẫn luôn cố gắng để tạo cho được một hệ thống đầy đủ các
tiêu chí mang tính quy phạm về một xã hội dân sự. Vì vậy, ở mỗi thời đại, mỗi thế
hệ lại có những quan niệm, định nghĩa mới và đặt ra những yêu cầu riêng về một xã
hội dân sự.
2. Khái niệm xã hội dân sự
Hiện nay, chưa có một cách hiểu đồng nhất về xã hội dân sự. Từ góc độ đối
xứng tương tác, người ta cho rằng xã hội dân sự là tổ chức ngoài nhà nước, bên
cạnh nhà nước, không thuộc nhà nước. Từ góc độ xác định chủ thể thì xã hội dân
sự là thuộc về cộng đồng, nhân dân, quần chúng. Từ góc độ về tinh thần tự nguyện
của công dân trong việc bảo vệ các quyền lợi hợp pháp và giá trị của mình cũng có
thể hiểu: “Xã hội dân sự là xã hội phi nhà nước, trong đó mối quan hệ giữa con
người với nhau dựa trên sự tự thỏa thuận và tạo sự đồng thuận trên các vấn đề của
cuộc sống, và không có sự can thiệp của Nhà nước”. Tổ chức phi Chính phủ quốc
tế CIVICUS (Liên minh thế giới về sự tham gia của người dân) lại đưa ra một quan
điểm khác: “Xã hội dân sự là lĩnh vực vượt ra ngoài phạm vi gia đình, nhà nước và
thị trường, mà ở đó người dân thành lập các hiệp hội để thúc đẩy những lợi ích
chung”. Quan điểm phổ biến tại các thảo luận về chính sách phát triển trong những
năm qua là quan điểm nhìn nhận xã hội dân sự từ góc độ tổ chức. Theo nghĩa đó xã
hội dân sự được coi là một trong hai yếu tố của quản trị hiện đại. Một yếu tố được
đại diện bởi những thiết chế cai trị cơ bản bao gồm cơ quan hành pháp, lập pháp và
tư pháp. Một yếu tố được đại diện bởi những thiết chế thực hiện chức năng của
mình là xã hội dân sự.
Và chung quy lại, có thể hiểu: Xã hội dân sự là xã hội của những người dân
với những giao dịch, những liên kết, hay các mối quan hệ tương tác ngoài gia đình,
nhà nước và thị trường, nhằm đáp ứng những sở thích, sự quan tâm, lợi ích của
các thành viên”.
đồng, các mối quan hệ này không mang tính chất quyền lực công cộng;
4
+ Trong xã hội dân sự các mối quan hệ diễn ra thông qua các liên kết chính thức
hoặc phi chính thức dưới dạng các tổ chức xã hội, câu lạc bộ, đoàn thể,… thường
được gọi là tổ chức phi chính phủ (non – govermental organizations);
+ Các tổ chức xã hội được coi là thành phần chủ yếu của xã hội dân sự. Đánh giá
về xã hội dân sự ở một quốc gia dựa vào những nghiên cứu về các tổ chức xã hội
tại quốc gia đó.
II. Phân loại các tổ chức xã hội dân sự
1.Tổ chức xã hội dân sự
Theo cách hiểu đơn giản: “tổ chức là một nhóm người làm việc chung với
nhau”. Hiểu rộng hơn: “tổ chức là nhiều người tập hợp thành một nhóm, ban, hội,
đoàn nhằm mục đích điều hành hay quản lý một công việc nào đó”.
Theo CIVICUS, muốn cải thiện tính hiệu quả của Nhà nước cần phải dựa
vào sức mạnh tương đối của thị trường và các tổ chức xã hội, các tổ chức xã hội có
thể vừa là cộng sự vừa là đối thủ cạnh tranh trong việc cung ứng các dịch vụ công
cộng; các tổ chức này có thể gây áp lực có ích đối với chính quyền để cải thiện việc
cung cấp và chất lượng các dịch vụ công cộng.
Cũng giống như xã hội dân sự, hiện nay, khái niệm về tổ chức xã hội dân sự
được xem xét và tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ như: theo TS.Irenne
Norlund, có ba cách tiếp cận với các tổ chức xã hội dân sự (Thuyết tân tự do cho
rằng các tổ chức xã hội tồn tại một cách độc lập, thuộc “khu vực thứ ba”, “khu vực
tự nguyện”, ở đó các công dân tổ chức thành nhóm và giải quyết các vấn đề phát
sinh thông qua đối thoại dân sự và biện pháp phi bạo lực; Mô hình xã hội tốt lành,
các tổ chức xã hội là một bộ phận cấu thành xã hội, không hoàn toàn tách biệt với
nhà nước, thị trường và gia đình mà nằm ở khu vực giao nhau của ba bộ phận này,
ranh giới của nó cũng không rạch ròi, luôn có sự tương tác giữa nhà nước, thị
Văn học Nghệ thuật, Hội Nhà báo; và các tổ chức dân sự như các tổ chức phi chính
phủ, các quỹ tự trang trải, các tổ chức cộng đồng.
Theo tài liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á ADB năm 2009, tổ chức xã
hội dân sự được chia ra thành 9 loại dựa trên tính chất hoạt động bao gồm:
6
+ Các tổ chức phi chính phủ (NGO): là các tổ chức chuyên môn, trung gian và phi
lợi nhuận cung cấp hoặc hỗ trợ việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến phát triển
kinh tế xã hội, nhân quyền, phúc lợi công cộng hoặc cứu trợ khẩn cấp.
+ Hiệp hội nghề nghiệp: Đây là tổ chức đại diện cho quyền lợi của các thành viên
là những người hoạt động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định hoặc làm những
nghề đặc biệt nào đó. Các hiệp hội nghề nghiệp có thể tạo ra những chuẩn mực liên
quan đến ngành nghề của các thành viên ví dụ như hội kiến trúc sư, kế toán công,
…;
+ Các quỹ: là tổ chức từ thiện được thành lập bởi các cá nhân hay đơn bị nào đó với
tư cách là một thực thể pháp lý (một tập đoàn hoặc một quỹ ủy thác) ủng hộ những
sự nghiệp phù hợp với mục tiêu của quỹ. Ví dụ: Quỹ Ford (Mỹ), Quỹ Aga Khan
(Thụy Sĩ)…;
+ Các viện nghiên cứu độc lập: là những tổ chức chủ yếu thực hiện các hoạt động
nghiên cứu và phân tích liên quan đến các vấn đề chính sách công và truyền bá
những kết quả nghiên cứu và khuyến nghị của mình với hy vọng có thể gây ảnh
hưởng lên các nhà hoạch định quyết sách và những người xác lập chủ trương;
+ Các tổ chức cộng đồng (CBO): Các tổ chức thường giải quyết ngay những mối
quan tâm của các thành viên. Đặc tính cơ bản của CBO là chúng có thể huy động
các cộng đồng thông qua việc thể hiện các nhu cầu, tổ chức và thực hiện những quá
trình có sự tham gia, tiếp cận các dịch vụ phát triển từ bên ngoài, chia sẻ lợi ích
giữa các thành viên;
+ Các tổ chức tín ngưỡng: Những nhóm có cơ sở tôn giáo được thành lập quanh
kinh tế Việt Nam, các cải cách pháp luật và hình thành song hành với quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa. Trong những năm 1990, một số lượng đáng kể các tổ chức phi chính phủ,
quốc tế bắt đầu hoạt động trong nước.
Như vậy, cùng với bối cảnh lịch sử trên, xã hội dân sự Việt Nam dần được
hình thành, khôi phục, mở rộng và phát triển không ngừng.
8
Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam năm 1946 và các Hiến pháp 1959, 1980,
1992 và 2013 đều thừa nhận công dân Việt Nam có quyền hội họp, lập hội theo quy
định của pháp luật. Theo Sắc lệnh số 52-SL ngày 22/04/1946 của Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa quy định việc thành lập hội: “Hội là một đoàn thể có tính cách
vĩnh cửu gồm hai hoặc nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục
đích chung, mục đích chung ấy không phải để chia lợi tức”.
Thực tế, các tổ chức xã hội mang tính xã hội dân sự ở Việt Nam hoạt động
trên cơ sở tự nguyện của người dân đã tồn tại qua nhiều đời nay. Đặc biệt khi thiên
tai, lũ lụt, chiến tranh xảy ra thì các hoạt động của các tổ chức xã hội này lại càng
thể hiện rõ tinh thần tự nguyện, cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau của người
dân để thoát khỏi hoạn nạn. Các tổ chức xã hội phát triển rất phong phú và đa dạng
với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như: liên hiệp, hiệp hội, hội, liên đoàn, câu
lạc bộ, quỹ, viện, trung tâm, hội đồng, ủy ban, nhóm tình nguyện,… Cụ thể theo
tiến trình lịch sử của Việt Nam qua các giai đoạn:
+ Nếu trước năm 1986 các tổ chức xã hội chủ yếu bao gồm các tổ chức quần
chúng (các tổ chức chính trị - xã hội) như Công đoàn, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội
nông dân và Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thì từ đầu thập niên 90 việc
mở cửa xã hội cho các thành phần kinh tế khác cũng tạo điều kiện cho các tổ chức
xã hội và việc phục hồi các tập quán liên quan đến sinh hoạt hàng ngày, một phần
theo các hình thức mới. Một xã hội dân sự rộng lớn hơn đã xuất hiện và nở rộ các
tổ chức.
khoảng 500 tổ chức phi chính phủ quốc tế đã hoạt động ở Việt Nam nhưng phần
lớn chỉ tài trợ hoặc thực hiện các dự án mà không thành lập văn phòng đại diện, các
tổ chức này đóng vai trò về cung cấp các dịch vụ chuyên ngành và kỹ thuật so với
các nước khác. Nhiều tổ chức liên kết mạnh mẽ với các tổ chức địa phương và
tuyển dụng nhân viên là công dân Việt Nam, một số đang tiến tơi trở thành tổ chức
phi chính phủ Việt Nam. Một điểm mốc quan trọng trong hợp tác giữa tổ chức phi
chính phủ Việt Nam với Chính phủ là Nghị định dân chủ cơ sở được thông qua năm
1998, được sửa đổi vào năm 2005 theo đó Nghị định này đã tạo điều kiện thuận lợi
10
cho sự tham gia tích cực của tổ chức phi chính phủ Việt Nam trong các quyết định
ở cấp xã và thôn, đồng thời trao quyền cho người dân nông thôn được biết, được
bàn, được làm, được kiểm tra các quyết đin quan trọng đối với cộng đồng của họ...
Về hội nghề nghiệp thì trong năm 2006, có 320 hội nghề nghiệp bao gồm Hiệp hội
doanh nghiệp và các nhóm đầu mối, mạng lưới.
2.Đánh giá khái quát về xã hội dân sự ở Việt Nam
a) Những thành tựu đạt được:
Có thể thấy chỉ trong một thời gian ngắn, xã hội dân sự ở Việt Nam đã phát
triển nhanh chóng không chỉ ở mặt tư duy mà còn thể hiện ở thực tiễn thông qua sự
phát triển của các tổ chức xã hội dân sự. Các tổ chức xã hội này ngày càng đóng
một vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ nhân quyền, phát triển kinh tế và
giải quyết các vấn đề xã hội. Tại thời điểm hiện tại, dự án Luật về Hội đã và đang
được Quốc hội xem xét, hoàn thiện. Theo dự kiến, Luật này sẽ được chính thức
thông qua tại kỳ họp thứ hai của nhiệm kì Quốc hội mới (tháng 10/2016). Đây là cơ
sở pháp lý có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động của các tổ chức xã hội nói riêng
và góp phần xây dựng và hoàn thiện xã hội dân sự ở Việt Nam nói chung.
Tựu chung lại, xã hội dân sự trong quá trình hình thành thể hiện các đặc
điểm như sau:
- Thấm nhuần về mặt văn hóa cộng đồng, tính đoàn kết, tương trợ và tính đồng
nghĩa là tổ chức phi chính phủ Việt nam để được công nhận về pháp lý có thể mất
nhiều thời gian vì thủ tục hành chính rườm rà. Thậm chí khi đã được đăng ký hợp
pháp họ cũng có thể vẫn gặp khó khăn trong việc xin phê duyệt cho dự án của
mình.
Thời gian tới, cần thúc đẩy thực hiện nâng cao hơn nữa nhận thức của một số
ngành, cấp về vai trò, vị trí của xã hội dân sự; thực hiện công khai, minh bạch trong
hoạch định thể chế, chính sách; thực hiện trách nhiệm giải trình của các cơ quan
công quyền; khuyến khích phản biện xã hội, v.v... tạo thuận lợi hơn nữa cho sự phát
triển lâu dài của xã hội dân sự. Cụ thể cần ưu tiên bốn lĩnh vực như sau:
+ Thúc đẩy một môi trường thuận lợi cho các tổ chức Xã hội dân sự ở Việt Nam.
12
+ Thúc đẩy sự tham gia có ý nghĩa của Xã hội dân sự trong việc hoạch định chính
sách trong nước.
+ Tăng cường năng lực cho các tổ chức Xã hội dân sự để các tổ chức Xã hội dân sự
thực hiện vai trò của mình hiệu quả hơn.
+ Hợp tác với các tổ chức bên ngoài để đảm bảo hỗ trợ từ bên ngoài cho các tổ
chức Xã hội dân sự ở Việt Nam.
C.
KẾT LUẬN
Việc xây dựng và hoàn thiện một xã hội dân sự là điều cần thiết. Đây
chính là kết quả của sự liên kết tự nhiên của các cá nhân con người trong một xã
hội. Trong tiến trình phát triển của các nền văn minh, Nhà nước được hình thành
như một tất yếu lịch sử. Đồng hành với sự phát triển của Nhà nước, ở Việt Nam
cũng như các quốc gia trên thế giới, các quan hệ hội, phường trong nhân dân được
hình thành và phát triển. Về sự cần thiết của xã hội dân sự, GS. Phan Đình Diệu đã
khẳng định: "ta cần thừa nhận rằng ngày nay xã hội càng ngày càng phức tạp,