khoá luận tốt nghiệp Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tiêu dùng tại ngân hàng thương mại cổ phần việt nam thịnh vượng - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đã trải qua một quá trình phát triển vô cùng ấn tượng trong
hai thập niên gần đây, chính sự chuyển dịch từ một nền kinh tế kế hoạch hóa
tập trung truyền thống sang nền kinh tế thị trường định hướng Xã Hội Chủ
Nghĩa từ năm 1986 đã mang lại những cải thiện sâu sắc về hiệu quả kinh tế và
đời sống nhân dân. Hiện nay, nền kinh tế đang trên đà phát triển mạnh mẽ với
sự đồng hành của nhiều thành phần kinh tế khác nhau, chúng ta đang có rất
nhiều điều kiện thuận lợi để tiến lên một nước công nghiệp tiến tiến. Trong
những năm vừa qua, cùng với sự đổi mới và phát triển của đất nước, hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những thay đổi sâu sắc, đóng góp một
vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Đứng trước xu thế hội
nhập kinh tế của khu vực và toàn cầu - nhất là sau khi Việt Nam chính thức
trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì sự cạnh tranh
ngày càng trở lên khốc liệt không chỉ với các ngân hàng trong nước mà còn
với cả các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài, đó là sự ra đời của một
loạt các ngân hàng thương mại cổ phần mới và sự hiện diện của các ngân
hàng nước ngoài.
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, các sản phẩm dịch vụ
ngân hàng còn nghèo nàn thì tín dụng được coi là hoạt động sinh lời chủ yếu,
đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ (thu nhập từ tín dụng chiếm từ 1/2 đến 2/3
thu nhập của ngân hàng).
Phát triển hoạt động tín dụng trong đó có tín dụng tiêu dùng đã và đang
là xu hướng chung không chỉ của các ngân hàng trên thế giới mà cả các ngân
hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam
Thịnh Vượng – VPBank cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên nói
tới tín dụng là nói tới rủi ro tín dụng, đặc biệt là tín dụng tiêu dùng luôn ẩn



phương pháp hệ thống, phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh giữa các
năm, các chỉ tiêu … để thấy được những kết quả đạt được trong công tác
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dùng tiêu dùng tại VPBank. Bên cạnh đó, đề


3
tài còn sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, đánh giá thực trạng phát
triển, rút ra nguyên nhân và tìm hướng giải quyết.
4.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín

dụng tiêu dùng của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tiêu dùng
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
Chương 3: Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tiêu dùng
tại Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh Vượng
5.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng tiêu

dùng và rủi ro tín dụng tiêu dùng của các ngân hàng thương mại. Đánh giá
ưu nhược điểm trong hoạt động phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tiêu
dùng tại VPBank và đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm phòng ngừa và
hạn chế rủi ro tín dụng tiêu dùng tại VPBank.




5
ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã cho phép các ngân hàng cung ứng “tài
khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới.
Cũng trong giai đoạn này, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã
tạo ra nhiều phương tiện máy móc hiện đại như: máy tính nối mạng, máy rút
tiền tự động v.v..., đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ giữa
các ngân hàng mà còn với các tổ chức tài chính khác. Cùng với các tiến bộ
đó, hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM đã có sự thay đổi. Nếu như trước
đây, các ngân hàng chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động tín dụng thương
mại, thì đến giai đoạn này họ đã mở rộng lĩnh vực hoạt động bằng việc triển
khai hoạt động tín dụng tiêu dùng, đặc biệt là sau cuộc khủng hoảng vào
những năm 1980.
Một yếu tố khách quan thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển
mạnh đó là xuất phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. Thông
qua mối quan hệ này, ngân hàng thấy được nhu cầu tín dụng theo hình thức
này từ cả phía người sản xuất lẫn người tiêu dùng. Các nhà sản xuất cần có sự
hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng hoá, còn người tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ
cho các nhu cầu mà hiện tại sự tích luỹ của họ chưa đáp ứng được.
Ngày nay, lĩnh vực tín dụng tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ. Nhiều
công ty chuyên môn hoá đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện
đang mở rộng dần ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch
vụ. Lĩnh vực này cũng không còn chỉ do các ngân hàng và công ty tài chính
thực hiện nữa mà các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, ngân hàng tiết
kiệm bưu điện...cùng tham gia cung cấp dịch vụ này.
Tại Việt Nam, hoạt động tín dụng tiêu dùng của NHTM đã phát triển
vào những năm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho
vay trả góp, các sản phẩm cung ứng còn rất đơn điệu. Tuy nhiên, do chưa có



7
mở rộng và giảm đi khi kinh tế suy thoái. Nói một cách chi tiết, khi nền kinh
tế tăng trưởng làm thu nhập của người tiêu dùng tăng lên, nhu cầu tiêu dùng
cũng tăng lên theo, vì vậy số người đi vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cũng
tăng lên. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đầu tư giảm dẫn đến lạm phát
và thất nghiệp tăng theo, nhu cầu tiêu dùng của người dân giảm dẫn đến nhu
cầu tín dụng tiêu dùng cũng giảm theo.
 Mặt khác, người tiêu dùng thường ít nhạy cảm với lãi suất, họ quan
tâm đến khoản tiền phải trả và việc làm sao để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng
của họ một cách tốt nhất hơn là mức lãi suất ghi trong hợp đồng.
 Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng có quan hệ mật thiết tới thu
nhập và trình độ văn hóa của họ. Nếu thu nhập của khách hàng càng cao, họ
sẽ có xu hướng tăng tiêu dùng và ngược lại. Cũng như vậy, nếu trình độ học
vấn cao, khách hàng sẽ hướng nhu cầu của họ đến những hàng hóa cao cấp,
do vậy nhu cầu vay tiêu dùng cũng tăng lên.
 Về thẩm định tín dụng: Việc thẩm định tín dụng của ngân hàng
thường gặp nhiều khó khăn do đặc điểm của TDTD như:
Chất lượng thông tin mà khách hàng vay tiêu dùng cung cấp thường
không cao, nhất là những thông tin về tài chính.
Nguồn trả nợ cho ngân hàng thường là từ thu nhập của người vay.
Nguồn thu nhập này thường không ổn định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
chu kì kinh tế, cơ cấu kinh tế, thu nhập của khách hàng, tư cách khách hàng.
Nếu một trong các nhân tố trên biến động ngược lại với dự đoán của Ngân
hàng sẽ gây ra những rủi ro cho hoạt động TDTD.
Việc thẩm định tư cách người vay rất khó xác định một cách chính xác,
nếu cán bộ tín dụng không thẩm định kĩ sẽ dẫn đến đanh giá sai lầm về khách
hàng, rủi ro mất vốn sẽ rất cao.
Hơn thế, nghề nghiệp, kỹ năng, sức khỏe, thu nhập,… của người vay



9
nhất định trong thời hạn cho vay. Phương thức cho vay này thường được áp
dụng cho các khoản vay có giá trị lớn, thu nhập định kì của người vay không
đủ để thanh toán hết 1 lần số nợ vay.
Phương thức này thường đòi hỏi khách hàng phải ứng trước một phần
giá trị của tài sản. Tùy theo loại tài sản mà số tiền ứng trước có thể thay đổi.
Khách hàng vay cũng có thể trả nợ trước hạn mà không bị phạt trả trước hạn
sau khi đạt tới thời gian tối thiểu theo quy định của hợp đồng tín dụng
TDTD phi trả góp: Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền vay của
khách hàng sẽ được thanh toán một lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn. Đặc
điểm của các khoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay
ngắn. Ngân hàng áp dụng hình thức này bởi đây là biện pháp sẽ giúp ngân
hàng không mất nhiều thời gian như khi phải tiến hành thu nợ làm nhiều kỳ,
Trong thực tế, khoản TDTD cấp theo hình thức này là rất ít vì hầu hết nguồn
thu nhập của khách hàng phát sinh hàng tháng nên việc trả nợ thường được
thực hiện vào định kì hàng tháng hay hàng quý.
TDTD tuần hoàn: là phương thức TDTD theo đó ngân hàng cho phép
khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc phát hành loại séc được thấu chi dựa
trên tài khoản vãng lai. Trong thời hạn tín dụng được thỏa thuận trước, căn cứ
vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho
phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn
mức tín dụng cho trước.
1.1.3.3. Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ
TDTD trực tiếp: Đây là hình thức trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc
với khách hàng của mình, việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính
ngân hàng.
Hình thức tài trợ này có ưu điểm là rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực
tiếp giữa ngân hàng và khách hàng, quyết định cho vay hay không hoàn toàn



11
muốn tiêu thụ được sản phẩm nên không xem xét kỹ lưỡng về khách hàng khi
tài trợ. Bởi vậy, chỉ những nhà cung cấp thật sự tin cậy thì ngân hàng mới ký
hợp đồng kiểu này, và những khoản nợ được mua theo điều kiện này cũng
được lựa chọn rất kỹ càng.
1.1.4. Vai trò của tín dụng tiêu dùng
 Đối với NHTM.
Cuộc cạnh tranh để giành thị phần thị trường ngày càng trở lên khốc
liệt, các ngân hàng thương mại không chỉ phải cạnh tranh với chính các ngân
hàng trong hệ thống, mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi
ngân hàng, trong khi đó thị trường tín dụng tiêu dùng lại đang có xu thế lên
cao. Do vậy, các ngân hàng đã và đang hướng mục tiêu của mình vào lĩnh vực
này, và tín dụng tiêu dùng đã trở thành một loại hình sản phẩm phổ biến trong
các ngân hàng thương mại, một loại sản phẩm mang lại thu nhập tương đối
cao trong tổng doanh thu của các ngân hàng.
Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ,
nhưng số lượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu
dùng bao gồm tất cả các thành phần trong xã hội), vì thế tổng quy mô tài trợ
là rất lớn. Bên cạnh đó, lãi suất của các khoản tài trợ theo hình thức này là khá
cao (bởi người nhận tài trợ họ chỉ quan tâm đến thoả mãn nhu cầu trước mắt
mà họ được hưởng, họ không mấy quan tâm đến lãi suất phải trả) nên đã
mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đối lớn trong tổng lợi
nhuận của ngân hàng. Đặc biệt, với ngân hàng có quy mô nhỏ, uy tín chưa
cao...vv, khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, uy tín
cao trong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ chức mà nhu cầu
vay vốn đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh), thì thị trường tín dụng
tiêu dùng là vô cùng quan trọng đối với các ngân hàng này.
 Đối với người tiêu dùng.



1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng tiêu dùng
RRTD là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho
một khách hàng, hay có thể hiểu là khả năng khách hàng không trả được nợ
theo hợp đồng tín dụng. Xét về khía cạnh của ngân hàng thì RRTD đồng
nghĩa với thu nhập dự tính của ngân hàng từ các tài sản có sinh lời không
được hoàn trả đầy đủ cả về mặt số lượng và thời hạn.
Theo Ủy ban Basel thì “RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên
đối tác không thực hiện được các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản
đã thỏa thuận”. Cũng theo Ủy ban này, một định nghĩa khác được nêu ra là
“Rủi ro thất thoát đối với một NH là sự vỡ nợ của người giao ước trong hợp
đồng, trong đó sự vỡ nợ được xác định là bất kỳ sự vi phạm nghiêm trọng nào
đối với nghĩa vụ hợp đồng khi hoàn trả gốc và/hoặc lãi”
Theo World Bank: “RRTD tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ
hơn là không chi trả được toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu
chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng”.
Ở Việt Nam, căn cứ vào Khoản 1, Điều 2 trong quyết định
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD thì :

“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất trong
hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả
năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về RRTD, song các
quan niệm về RRTD đều hội tụ với nhau về bản chất, đó là: RRTD là khả
năng (xác suất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NH phải gánh chịu do
khách hàng vay vốn thanh toán nợ không đúng hạn hoặc không hoàn trả
được nợ vay (gồm gốc và/hoặc lãi). RRTD có thể gây tổn thất về tài chính
cho ngân hàng đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của



15
ro của ngân hàng sẽ tăng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến sản
xuất đình trệ, năng lực tài chính suy giảm, tất yếu ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của khách hàng, dẫn tới khả năng gặp rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Sức khỏe của nền kinh tế thể hiện thông qua các chỉ số kinh tế vĩ mô,
như tăng trưởng, lạm phát, tỷ giá, lãi suất, … tất cả đều có những tác động
tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như
NH, thông qua đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, gây ra
RRTD đối với ngân hàng. Cụ thể là lạm phát tăng cao trong nhiều kỳ liên
tiếp, làm giá cả các loại hàng hóa khác tăng theo, ảnh hưởng đến chi phí đầu
vào của doanh nghiệp, lợi nhuận giảm, làm giảm khả năng trả nợ của khách
hàng. Hoặc tỷ giá biến động sẽ ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu, làm tăng chi phí đầu vào hoặc giảm giá đầu ra của doanh nghiệp, qua đó
làm giảm khả năng trả nợ của khách hàng.
Môi trường kinh tế, chính trị ổn định là tiền đề để doanh nghiệp phát
triển lành mạnh, bền vững, trong đó có ngân hàng. Hiện nay môi trường vĩ
mô chưa thật ổn định nên rủi ro trong hệ thống ngân hàng còn rất lớn.
 Ảnh hưởng của nhân tố công nghệ.
Yếu tố công nghệ hiện nay đang là yếu tố rất quan trọng quyết định đến
sức cạnh tranh trên thị trường cuả mỗi ngân hàng. Trên thực tế, sự thay đổi của
công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và tới cả quá trình cấp tín dụng. Qua đó góp phần làm hạn chế rủi ro trong
hoạt động kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động TDTD nói riêng.
 Ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sự
giám sát chặt chẽ của luật pháp. Môi trường pháp lý sẽ mang đến cho ngân
hàng một loạt các cơ hội mới cũng như thách thức mới. Điều này được thể
hiện rõ trong hoạt động tín dụng, như việc dỡ bỏ các hạn chế trong cho vay




17
cho các cá nhân giảm hoặc mất khả năng thanh toán cho ngân hàng.
1.2.2.1.2 Nguyên nhân từ phía người vay
Nguyên nhân từ phía người vay có thể dẫn đến rủi ro trong TDTD là:
+ Do tình trạng sức khoẻ, bệnh tật, hoặc mâu thuẫn trong gia đình.
+ Người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu nhập.
+ Do người đi vay hoạch định ngân sách không chính xác, hoặc có thể
do người đi vay dụng tiền vay sai mục đích, hoặc chưa có kinh nghiệm trong
việc tổ chức sản xuất, quản lý kinh doanh… dẫn đến trả nợ không đúng hạn
cho ngân hàng.
RRTD còn liên quan tới đạo đức của người sử dụng vốn vay ngân
hàng. Họ sử dụng với mục đích lừa đảo, chiếm đoạt vốn tín dụng của ngân
hàng thông qua việc tạo ra những dự án ảo. Những trường hợp này hiện nay
đang tồn tại rất nhiều, đòi hỏi phải nâng cao công tác thẩm định khách hàng
nhằm hạn chế rủi ro.
Trong tương lai nhu cầu vay tiêu dùng trong dân cư có khả năng tăng
mạnh, do mức sống của các tầng lớp dân cư ngày càng tăng cao cả về vật chất
lẫn tinh thần. Vì vậy, bản thân các ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng
thích hợp để hạn chế rủi ro trong cho vay, đồng thời góp phần nâng cao hiệu
quả tín dụng.
1.2.2.1.3 Về phía ngân hàng
Ngoài những nguyên nhân xuất phát từ phía người vay, từ môi trường
khách quan có thể gây ra tình trạng RRTD, còn có những nguyên nhân chủ
quan từ phía các ngân hàng:
 Do chính sách và quy trình tín dụng của ngân hàng không phù hợp
với đặc điểm, thực trạng của nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của
Chính phủ. Chính sách tín dụng được hiểu đầy đủ bao gồm định hướng chung
trong cho vay, chế độ tín dụng ngắn, trung và dài hạn, các quy định về bảo



19
Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó
là chất lượng và số lượng thông tin. Bởi vì bản thân hoạt động ngân hàng luôn
trong tình trạng thông tin không cân xứng, cho nên đòi hỏi công tác thẩm định
phải sàng lọc thông tin một cách kỹ càng, chính xác. Các ngân hàng chưa
được cung cấp đầy đủ và chính xác, mặc dù Trung tâm thông tin tín dụng CIC
đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao,
chưa cập nhật. Trong nhiều trường hợp ngân hàng không nắm được đầy đủ
thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổ chức tín dụng khác
nên có thể phán quyết sai lầm khi cho vay.
 Cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành.
Ngoài các nguyên nhân gây ra RRTD trên, Ngân hàng cũng có thể gặp
RRTD do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khu vực, một ngành
nghề nên đã hạn chế sự linh hoạt của ngân hàng trước những biến động của thị
trường cạnh tranh, dễ gây ra tổn thất cho ngân hàng. Có thể do công tác thiết kế
sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểm của người vay, hoặc
do vẫn còn nặng tính chất quan liêu, quan cách trong hoạt động giao dịch với
khách hàng, hoặc có thể do cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức nghề nghiệp,
thông đồng với khách hàng, nhận hối lộ, cố tình làm sai nguyên tắc.
1.2.2.1.4 Nguyên nhân RRTD từ phía các tài sản đảm bảo (TSĐB).
 Sự sụt giảm giá trị của TSĐB.
- Do tác động của yếu tố mang tính vĩ mô như biến động của tình hình
giá cả thị trường nên các cán bộ thẩm định cần phải đánh giá chính xác giá trị
của TSĐB qua các thời kỳ biến động khác nhau, nếu không sẽ dẫn tới tình
trạng cấp tín dụng vượt mức so với quy định an toàn trong việc cấp tín dụng.
- Sự sụt giảm giá trị của TSĐB cũng có thể do sự hao mòn trong quá
trình người vay sử dụng TSĐB. Các tài sản nói chung luôn chịu tác động của
thời gian, của môi trường đòi hỏi công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ để hạn



21
trả các khoản tiền gửi tới hạn. Bên cạnh đó, RRTD tiêu dùng gây ảnh hưởng
tới kế hoạch sử dụng vốn của ngân hàng, điều này làm hạn chế khả năng
thanh toán của ngân hàng.
Gây ảnh hưởng tới uy tín và hoạt động kinh doanh của ngân hàng: Khi
một ngân hàng gặp nhiều rủi ro, khách hàng sẽ mất lòng tin vào sự hoạt động
hiệu quả của ngân hàng đó. Rủi ro khiến khách hàng e dè hơn trong việc tới
gửi tiền tại ngân hàng. Đây là một vấn đề hết sức nghiêm trọng vì ngân hàng
là loại hình doanh nghiệp kinh doanh dựa trên uy tín và lòng tin. Thiếu hụt đi
những khoản tiền gửi sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng, trực tiếp tác động tới khả năng thanh khoản, khả năng cho
vay... gây suy giảm thị phần cũng như quy mô hoạt động của ngân hàng và
thậm chí là dẫn tới phá sản.
Hậu quả của RRTD đối với ngân hàng là rất lớn, vì vậy mà phát hiện
sớm để có các biện pháp xử lý khi có dấu hiệu rủi ro là vấn đề mang tính sống
còn với các NHTM.
1.2.3. Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng tiêu dùng
Trong quá trình hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, và thường có
một vài dấu hiệu để nhận biết RRTD tiêu dùng. Có dấu hiệu thì biểu hiện mờ
nhạt, có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng. Ngân hàng cần có biện pháp để nhận
ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết
để ngăn ngừa, hạn chế, xử lý chúng. Nhưng cần phải chú ý, vì các dấu hiệu
này đôi khi chỉ được nhận ra trong cả một quá trình chứ không hẳn là một
thời điểm. Do vậy cán bộ tín dụng cần phải nhận biết chúng một cách có hệ
thống.
Vậy dấu hiệu nhận biết RRTD tiêu dùng có thể bao gồm:
 Phát hành séc quá hạn mức, hoặc rút tiền quá hạn mức thấu chi.
 Giảm sút số dư tài khoản tiền gửi một cách bất thường và không có



23
Để nhận biết RRTD tiêu dùng, các ngân hàng luôn phải làm tốt công
tác nhận biết và đo lường rủi ro thông qua các chỉ tiêu, nhóm chỉ tiêu để kịp
thời phát hiện và giải quyết các rủi ro có thể xảy tới với ngân hàng.
1.2.4. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng tiêu dùng
Rủi ro gây thiệt hại lớn cho bất cứ ai phải đương đầu với nó. Muốn tồn
tại và phát triển, các doanh nghiệp nói chung và các NHTM nói riêng cần ý
thức được rằng rủi ro trong kinh doanh là một điều tất yếu, nó có thể xuất
hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau trong các khâu khác nhau. Vì vậy trong
kinh doanh ngân hàng nhất thiết phải đo lường rủi ro. Có nhiều chỉ tiêu để
đánh giá RRTD và RRTD tiêu dùng, tuy nhiên các nhóm chỉ tiêu quan trọng
nhất là nhóm chỉ tiêu về NQH, nhóm chỉ tiêu về nợ xấu, các chỉ tiêu về tình
hình rủi ro mất vốn và khả năng bù đắp rủi ro.
1.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá về nợ quá hạn trong tín dụng tiêu dùng
1.2.4.1.1. Chỉ tiêu dư nợ quá hạn tín dụng tiêu dùng
Nợ quá hạn TDTD là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc
và/hoặc lãi đã quá hạn. Đây là một chỉ tiêu, thước đo quan trọng đánh giá
RRTD tiêu dùng của một ngân hàng. Dư nợ quá hạn càng cao thì RRTD và
những thiệt hại có thể xảy đến cho ngân hàng càng lớn. Càng nhiều dư nợ
không thu hồi được đúng hạn hoặc thất thoát trong khi ngân hàng vẫn luôn
phải trả lãi cho các khoản huy động khi đến hạn sẽ là gánh nặng cho ngân
hàng, gây ảnh hưởng tiêu cực tới kế hoạch sử dụng vốn và khả năng tạo tiền
của ngân hàng. Chính vì thế mà dư nợ quá hạn TDTD là một chỉ tiêu quan
trọng để đánh giá rủi ro của ngân hàng.
1.2.4.1.2. Tỷ lệ nợ quá hạn tín dụng tiêu dùng
Tỷ lệ nợ quá hạn TDTD là một chỉ tiêu đánh giá về RRTD của một
ngân hàng, bằng thương số của nợ quá hạn TDTD so với dư nợ TDTD.
Tỷ lệ nợ quá hạn TDTD =


đó là ngắn, trung và dài hạn. Từ đó, ngân hàng sẽ xác định được RRTD tiêu
dùng đang tiềm ẩn ở những kì hạn nào, chủ yếu ở kỳ hạn ngắn, trung hay dài
hận để đưa ra được những biện pháp thích hợp.
Cơ cấu nợ quá hạn TDTD theo nguyên nhân
Nguyên nhân của RRTD tiêu dùng được phân chia theo các chủ thể gây
ra như nguyên nhân từ phía khách hàng, nguyên nhân từ tài sản đảm bảo,


25
nguyên nhân do chính ngân hàng hay nguyên nhân xuất phát từ điều kiện
khách quan. Cơ cấu này giúp ngân hàng phát hiện nguồn nào gây ra nhiều rủi
ro nhất, do nguyên nhân chủ quan hay khách quan, từ đó đưa ra biện pháp
kiểm soát, ngăn chặn, hạn chế NQH phát sinh nhằm hạn chế RRTD tiêu dùng
cho ngân hàng.
1.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình nợ xấu tín dụng tiêu dùng
1.2.4.2.1. Dư nợ xấu tín dụng tiêu dùng
Nợ xấu là những khoản nợ đã quá hạn từ 90 ngày trở lên và/hoặc có
bằng chứng rằng khoản nợ không có khả năng được hoàn trả trong tương lai.
Trong TDTD, một khoản nợ chưa quá hạn cũng có thể bị xếp vào nợ xấu
trong trường hợp khách hàng mất khả năng lao động, chết, vào tù,…Dư nợ
xấu càng cao thì rủi ro cho ngân hàng càng lớn, chi phí ngân hàng phải bỏ ra
cho việc thu hồi khoản vay sẽ tăng lên đáng kể.
Tại Việt Nam, theo quyết định 493 của NHNN về phân loại nợ thì dư
nợ được phân thành 5 nhóm:
 Nhóm 1( Nợ đủ tiêu chuẩn): là các khoản nợ trong hạn là ngân hàng
đánh giá có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn hoặc các
khoản NQH dưới 10 ngày mà có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi quá
hạn và thu hồi đủ gốc và lãi còn lại khi tới hạn.
 Nhóm 2( Nợ cần chú ý): là các khoản nợ qua hạn từ 10 tới 90 ngày
và các khoản nợ điều chỉnh kì hạn lần đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status