Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của cây bương tại địa bàn xã púng bánh – huyện sốp cộp – tỉnh sơn la - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------------

QUÀNG THỊ MINH

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH TRƯỞNG
CỦA CÂY BƯƠNG TẠI ĐỊA BÀN XÃ PÚNG BÁNH
HUYỆN SỐP CỘP – TỈNH SƠN LA”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Nông lâm kết hợp

Khoa

: Lâm nghiệp

Khóa học

: 2010 - 2014

Thái Nguyên, 2014


Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Cá số liệu
và kết quả nêu trong Khoá luận là trung thực và chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu được trích dẫn trong nghiên cứu
đều được chỉ rõ nguốn gốc.

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Sinh viên thực hiện

ThS. Đặng Thị Thu Hà

Quàng Thị Minh

Xác nhận của GV chấm phản biện
Xác nhận đã chỉnh sửa sau khi Hội đồng đánh giá chấm
(Ký, họ và tên)


LỜI CẢM ƠN
Để kết thúc khóa học 2010 – 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp tôi tiến
hành đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm phân bố và sinh trưởng của
cây Bương tại địa bàn xã Púng Bánh – Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La”.
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước tiên tôi xin chân thành
cảm ơn cô giáo ThS. Đặng Thị Thu Hà người đã hướng dẫn trực tiếp tận tình
giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin cảm ơn các Bác, các cô chú tại địa bàn xã Púng Bánh đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do còn hạn chế về nhiều mặt, lần
đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, vì vậy khoá luận tốt

Hình 4.5. Biểu đồ xác định thời vụ trồng Bương ................................................. 26
Hình 4.6. Biểu đồ so sánh mật độ trồng của các hộ ............................................. 27
Hình 4.7. Biểu đồ so sánh kích thước hố trồng của các hộ ................................. 28


MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU.......................................................................................... 1
1.1.Tính cấp thiết của đề tài .............................................................................. 1
1.2. Mục tiêu của đề tài ..................................................................................... 2
1.2.1. Về lý luận ................................................................................................ 2
1.2.2. Về thực tiễn ............................................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài ....................................................................................... 2
1.3.1. Ý nghĩa lý luận: ...................................................................................... 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn: .................................................................................... 2
PHẦN 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ...................................... 3
2.1. Những nghiên cứu ở trên thế giới .............................................................. 3
2.2.Những nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................... 6
2.3. Điều kiện khu vực nghiên cứu ................................................................... 9
2.3.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................... 9
2.3.2. Dân sinh – kinh tế ................................................................................. 14
2.3.3. Tình hình phát triển cây Bương ............................................................ 15
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU ................................................................................................................ 16
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 16
3.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 16
3.2.1. Về nội dung .......................................................................................... 16
3.2.2. Về địa điểm ........................................................................................... 16
3.3. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 16
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 17
3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu ................................................................. 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 35


1

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.Tính cấp thiết của đề tài
Cây Bương (họ tre nứa) còn có tên gọi khác như Mạy Púa, là một trong
những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15-20m, đường
kính gốc 20-30cm, có vách dày chiều dài đốt từ 25-30cm, ít cành nhánh, khả
năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiêp chế biến rất cao. Thân Bương to
lớn, dài chắc bền thường được dùng làm cột nhà, các dân tộc vùng cao dùng
thân Bương làm máng dẫn nước cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất, chế biến
thay thế cho gỗ có hiệu qủa rất cao. Măng Bương ăn ngon có thể ăn tươi hoặc
làm khô và măng chua được thị trường ưa chuộng do có vị đắng đặc biệt. Mặt
dù là loài cây đa tác dụng, có giá trị kinh tế cao nhưng Bương vẫn chưa được
quan tâm đúng mức. Hiện nay diện tích rừng Bương tại xã Púng Bánh –
Huyện Sốp Cộp – Tỉnh Sơn La đang bị thu hẹp, chất lượng giảm sút nghiêm
trọng. Nguyên nhân do hiện tượng khai thác quá mức. Đặc biệt là việc khai
thác măng với số lượng lớn vào mùa măng mọc. Mặt khác việc kinh doanh
Bương chưa được chú trọng đầu tư nhiều vẫn theo hình thức quảng canh, dựa
vào kinh nghiệm vốn có của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn
có nên năng suất không cao như giá trị vốn có của nó. Đặc biệt việc phát triển
và mở rộng diện tích trồng cây Bương rất khó khăn do nhân rộng giống bằng
gốc và số lượng giống còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu nhân rộng
mô hình. Đặc biệt ở vùng cao nhiều người ít biết đến giá trị của nó, họ sử
dụng măng để làm thực phẩm cung cấp cho gia đình như những măng tre
khác. Do vậy, không được chú trọng nhiều đến việc nhân giống để phát triển
và mở rộng diện tích trồng. Nhiều hộ gia đình đã thay thế trồng bằng một loài

2.1. Những nghiên cứu ở trên thế giới
Cây Bương thuộc họ tre trúc. Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ
(LSNG) rất có giá trị, có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm
tài nguyên này. Tre thuộc phân họ tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với
khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có
14 triệu ha rừng tre phân bố từ 51 độ vĩ Bắc đến 47 độ vĩ Nam đều có tre phân
bố. Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Nước nhiều tre nhất là Trung
Quốc với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nước
nhiều tre thứ 2 là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha
rừng tre. Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong
đó có Việt Nam. [3]
Tre phát triển chủ yếu ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và một số ít
phát triển ở vùng ôn đới khu vực Đông Nam Châu Á bao gồm: Đông Nam và
Tây Nam Trung Quốc, Đông Dương, Lục địa ấn Độ là nơi tập trung tre lớn
nhất thế giới với diện tích lên tới 90% tổng diện tích rừng tre trên thế giới,
khoảng 80% loài tre thế giới. Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ được đánh giá là
những nước tốt nhất cho sản xuất và phát triển nguồn tài nguyên tre. Sự phân
bố tre trên thế giới, căn cứ vào sự phân bố về mặt địa lí của tre, thì sự phân bố
tre trên thế giới được chia thành 3 khu vực gồm: Châu Á – Thái Bình Dương,
Châu Mỹ và Châu phi.
Tre khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đây là khu vực phân bố tre
lớn nhất thế giới từ 42 độ Nam tới 51 độ Bắc, phía Đông kéo dài ra biển Thái
Bình Dương, còn phía tây thi kéo dài ra Tây Nam của Ấn Độ Dương phân bố


4

khoảng 50 chi và 900 loài tre, chiếm 80% diện tích rừng tre nứa trên toàn thế
giới.[10]
Tre Khu vực Châu Mỹ, từ 47 độ Nam thuộc miền nam argentina tới 40

quả. Hai ông đã đưa ra 54 chi tre được sắp xếp trong 9 nhóm phụ và 5 chi
chưa xác định chính xác. Theo Huberman(1959) Tre là một quần hợp sống
thành cụm ở rừng ẩm thường xanh, rừng ẩm và rừng khô rụng lá. Nhưng thực
tế các loài tre có tầm quan trọng trong đời sống của nhiều triệu dân địa
phương. Ở nhiều vùng nhiệt đới của Châu Á mức độ quan trọng của tre được
xếp ngay sau gạo. Công dụng của tre rất đa dạng từ việc thỏa mãn nhu cầu
thức ăn cho con người, đến việc sử dung trong xây dựng và sản xuất giấy…
Theo Wang, K và C. Hsueh. (1994) tóm lược các hiểu biết về sinh thái và môi
trường sống của tre là yêu cầu cơ bản để phát triển phương thức lâm sinh và
khai thác bền vững nguồn tài nguyên nay. Thêm vào đó thông tin về sinh thái
và quần thể cung cấp cơ sở cho những cải thiện về lâm sinh. Tre có 2 loại
thân rễ chính là thuộc theo cụm hoặc mọc đơn. Thân rễ là cấu trúc tự nhiên
bền vững được sử dụng để phân loại tre. Tre nhiệt đới hầu hết thuộc hệ thống
cụm và tre ôn đới thường mọc đơn dựa vào tiêu chí này tác giả phân rừng tre
ở Yunnan Trung Quốc thành 3 dạng rừng tre ôn đới, rừng tre Á nhiệt đới và
nhiệt đới. [7]
Theo công bố về hiện trạng rừng toàn quốc của Bộ Nông Nghiệp và
Phát Triển Nông Thôn năm 2009, diện tích rừng gỗ là 8.235.838 ha. Như vậy,
trong năm 2009 đã có thêm 29.202ha diện tích rừng này so với năm 2008.
Tuy nhiên, diện tích rừng tre nứa bị thay đổi trong năm 2009 là : 11.809 ha,
chỉ còn 621.454 ha. Với diện tích như vậy sẽ là thách thức lớn cho việc cung
cấp nguyên liệu cho khoảng 200 nhà máy như: Nhà máy giấy Bãi Bằng, nhà
máy giấy Lửa Việt ở Phú Thọ, nhà máy giấy Sơn La, nhà máy giấy Sông
Lam Nghệ An, nhà máy giấy Thái Nguyên… Ngày 21-2 Chính phủ đã ban
hành chính sách khuyến khích phát triển ngành mây tre, trong đó có biện pháp


6

miễn giảm thuế sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng

học mới, đặc biệt đưa ra được 6 chi và 22 loài tre lần đầu được định tên khoa
học ở Việt Nam bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam; đưa ra 22 loài cần được
xem xét để xác nhận loài mới. Trong 2 năm 2004 – 2005, PGS.TS Nguyễn
Hoàng Nghĩa cùng hai chuyên gia phân loại tre Trung Quốc là GS. Li Dezhu,
Phó Viện trưởng Viện thực vật học Côn Minh, Vân Nam (chuyên gia
chi Dendrocalamus) và GS. Xia Nianhe (chuyên gia chi Bambusa) tiếp tục
cộng tác nghiên cứu với các nhà nghiên cứu tre trúc ở nước ta tiếp tục nghiên
cứu định danh các loài tre nứa hiện có ở Việt Nam ban đầu đã đưa ra danh
sách gồm 194 loài của 26 chi tre trúc Việt Nam. Phần lớn trong số đó là chưa
có tên. Một số chi có nhiều loài là chi Tre gai (Bambusa) có 55 loài thì có tới
31 loài chưa có tên, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài với 5 loài chưa
định tên, chi Le (Gigantochloa) có 16 loài với 14 loài chưa có tên, chi Vầu
đắng (Indosasa) có 11 loài với 8 loài chưa có tên và chi Nứa (Schizostachyum)
có 14 loài thì có tới 11 loài chưa có tên. [5]
Quá trình khảo sát đã phát hiện ra một số chi được coi là mới đối với
nước ta như chi Giang (Maclurochloa) với 17 loài, chi tre quả thịt
(Melocamus) với 10 loài, chi Tre Bidoup (Kinabaluchloa) có một loài. Một số
loài mới được phát hiện là tre long Bidoup (Kinabaluchloa) có đặc điểm
ngoại hình giống loài cùng chi Malaixia (wong,1995), Trúc dây Bidoup
(Ampelocalamus), Le (Gigantochloa) và lồ ô (Bianbusa). Một số chi có nhiều
loài là chi Tre (Bambusa) có 55 loài, chi Luồng (Dendrocalamus) có 21 loài,
chi Le (Gigantochloa) có 16 loài, chi Nứa (Schizostachyum) có 14 loài và chi
Vầu đắng (Indosasa) có 11 loài. [5]
Bên cạnh đó các nhà hoa học việt Nam đã tìm ra được nhiều chi, loài
mới cho nước nhà. Năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự đã công bố 7
loài nứa mới thuộc chi nứa (Schizostachyum) như: Khốp Cà Ná, Nứa Núi
Dinh, Nứa đèo Lò xo, Nứa bảo lộc, Nứa có tai Côn Sơn. Đồng thời phát hiện


8

9

càng giảm đi nhanh chóng do khai khai thác quá mức tài nguyên tre nứa. Hơn
nữa một số vùng chưa trú trọng đầu tư để phát triển. Đỗ Văn Bản (2006) đã
giới thiệu một số loài tre thông dụng cho trồng rừng như: Dendrocalamus aff
giganteurs, Dendrocalamus aff latifflorus, Dendrocalamus aff pachuystachys,
Dendrocalamus aff pachuystachys, Dendrocalamus longivaginus sp.nov.,
Bambusa sinospinosa, Dendrocalamus minor, Phyllostachys hetercycla,
Bambusa bicorniculata sp. nov., Dendrocalamus barbatus, Dendrocalamus
yunnanicus,…
Các nghiên cứu về kỹ thuật lâm sinh tương đối phong phú. Các nghiên
cứu tập trung các vấn đề nhân giống, khảo nghiệm, kỹ thuật gây trồng, kỹ
thuật chăm sóc và khai thác các loại riêng biệt. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ
chú trọng vào một số loài có giá trị kinh tế cao và trồng tập trung (ví dụ:
Luồng, Tre Điền Trúc...), trong khi còn rất nhiều loài rất có tiềm năng phân
bố trong rừng hỗn giao tre nứa khắp Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu vì
các mục tiêu khai thác sử dụng, cũng như đa dạng sinh học và bảo tồn.
2.3. Điều kiện khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lí
Xã Púng Bánh là xã vùng III của huyện Sốp Cộp, tổng diện tích tự nhiên
toàn xã là 15.160,0 ha; Cách trung tâm huyện Sốp Cộp 15 km về phía Tây
Bắc. Với các vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc giáp huyện Sông Mã.
+ Phía Đông Bắc giáp huyện Sông Mã.
+ Phía Nam giáp xã Dồm Cang.
+ Phía Tây và Tây Nam giáp xã Mường Lèo, Sam Kha.
2.3.1.2.Địa chất thổ nhưỡng
- Đặc điểm địa hình




11

+ Nhóm đất vàng nhạt trên đá cát.
+ Nhóm đất màu nâu đỏ trên đá Macma Bazơ trung tính.
+ Nhóm đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ.
2.3.1.3. Khí hậu thủy văn
* Khí hậu
Nằm trong vùng Tây Bắc, nên xã Púng Bánh có khí hậu nhiệt đới gió
mùa vùng núi có mùa đông lạnh, suốt mùa đông lạnh và khô hanh, còn mùa
hè mưa nhiều. Khí hậu phân hóa theo địa hình và theo mùa.
- Chế độ bức xạ, nắng, mây
Chế độ bức xạ khá dồi dào, khá nhiều nắng và ít mây. Lượng bức xạ
tổng cộng đạt khoảng 130-132 kcal/cm2/năm. Tháng 5 có lượng bức xạ lớn
nhất, đạt 13,2-13,4 kcal/cm2/tháng. Tháng 1 có lượng bức xạ thấp nhất là 7,67,8 kcal/cm2/tháng. Trung bình mỗi năm có 1880-1900 giờ nắng. Tháng 5 có
nhiều nắng nhất đạt 198-200 giờ/tháng. Tháng 1 có ít nắng nhất, là 134-136
giờ/tháng. Lượng mây tổng quan trung bình năm 6,8-6,9/10 BT. Hai tháng 3,4
có ít mây nhất, là 5,2-5,4/10 BT. Ba tháng (11,12,1) có nhiều mây nhất, đạt
8,2-8,3/10 BT.
- Chế độ gió
Chế độ gió nhìn chung phụ thuộc vào điều kiện địa hình địa phương.
Hướng gió chủ yếu phụ thuộc vào hướng của thung lũng suối chính. Tốc độ
gió trung bình năm đạt 1,1-1,2 m/s ở vùng thấp trong thung lũng suối Nậm
Ban còn trên các sườn núi đạt 1,5-2,5 m/s. Tốc độ gió mạnh nhất thường dao
động trong khoảng 12-25 m/s, tuy nhiên vào thời kỳ chuyển tiếp từ Đông sang
Hè (4,5) có thể đạt 30-35 m/s trong các cơn dông.


12

thấp nhất song vẫn đạt 14-16 mm/tháng. Số ngày mưa năm dao động trong
khoảng 100–110 ngày. Trong mùa mưa có khoảng 10-19 ngày mưa/tháng;
vào mùa khô (11-3) chỉ có 2-4 ngày mưa/tháng.
* Thủy văn
- Mạng lưới suối
Xã Púng Bánh có nhiều con suối, khe suối như suối Nậm Ban, suối
Huổi Púa và hệ thống các con suối, khe suối nhỏ... Do địa hình bị chia cắt
mạnh bởi các dãy núi cao với độ dốc chênh lệch lớn đã tạo ra các khe suối
nhỏ và ngắn, mùa khô thì cạn kiệt, mùa mưa lưu lượng dòng chảy lớn, đã tạo
ra cho lưu lượng nước giữa hai mùa chênh lệch lớn, vì vậy thường xảy ra
những cơn lũ cục bộ làm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống của nhân
dân trong xã.
- Chế độ thủy văn
Dòng chảy trong khu vực được nghiên cứu phân hóa sâu sắc theo mùa
phụ thuộc vào sự phân hóa của chế độ mưa.
♦ Mùa lũ: Mùa lũ trung bình khu vực xã Púng Bánh thường kéo dài 5
tháng từ tháng 5 đến tháng 9, với lưu lượng nước chiếm khoảng 66-79% tổng
lưu lượng dòng chảy năm. Tháng 7, 8 có lưu lượng dòng chảy lớn nhất, đạt
48,12 m3/s, chiếm khoảng 23% tổng lưu lượng dòng chảy năm. Tuy nhiên,
mùa lũ hàng năm dao động trong khoảng 3-5 tháng, vào các tháng (5,6,7,8),
với lưu lượng dòng chảy đạt khoảng 60-75% tổng lưu lượng dòng chảy năm.
Do xã nằm khuất sâu trong lục địa nên ảnh hưởng của mưa bão tới khu
vực không lớn. Tuy nhiên, do xã Púng Bánh nằm ở vùng có địa hình thấp của
huyện Sốp Cộp khi có mưa bão xảy ra sẽ gây những tác động không nhỏ đến
sản xuất nông nghiệp của xã.
♦ Mùa kiệt: Mùa kiệt trung bình khu vực xã Púng Bánh thường kéo
dài 7 tháng (10-4) với lưu lượng nước chiếm khoảng 30-32% tổng lưu lượng


14

3,9%

- Dân tộc Hmông chiếm:

3,0%


15

2.3.3. Tình hình phát triển cây Bương
Trước đây 5 đến 10 năm cây Bương có xu hướng phát triển mạnh, do
điều kiện sinh sống của người dân nơi đây còn gặp nhiều khó khăn. Cây đã bị
khai thác nhiều để làm nhà, làm chuồng trại chăn nuôi. Đến nay cây Bương đã
bị suy giảm nhiều, nhiều nhà cho rằng không có giá trị kinh tế nhiều đã chặt
phá để trồng cây gỗ khác, chỉ còn lại số ít hộ để lại sử dụng. Hơn nữa, ở vùng
cao nhiều người ít biết đến giá trị của nó, họ sử dụng măng để làm thực phẩm
cung cấp cho gia đình như những măng tre khác. Do vậy, không được trú
trọng nhiều đến việc nhân giống để phát triển và mở rộng diện tích trồng. Và
người dân chưa nắm được phương pháp nhân giống như giâm hom, chiết cành
mà họ thường đào cả gốc đem trồng. Bên cạnh đó cái khó ở đây là không có
thị trường tiêu thụ các sản phẩm từ cây Bương. Qua khảo sát thực tế thấy rằng
cây Bương đã bị suy giảm nhiều, cây không phát triển tốt chủ yếu toàn cây
xấu và trung bình và không được nhân giống để trồng lại. Đặc biệt việc phát
triển và mở rộng diện tích trồng cây bương rất khó khăn do nhân rộng giống
bằng gốc và số lượng giống còn rất hạn chế, người dân chưa nắm được kỹ thuật
nhân giống bằng phương pháp chiết cành và giâm hom cành nên chưa được phát
triển rộng. Do vậy, tại khu vực điều tra cây bương chưa phát triển mạnh.

Hình 2.3: Bương phát triển trung bình


3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp kế thừa số liệu
Thu thập các số liệu có sẵn: Kế thừa số liệu từ báo cáo, đề tài liên quan
đến loài, các tài liệu nghiên cứu liên quan đến loài, điều kiện khu vực nghiên
cứu, các dự án liên quan.
3.4.2. Phương pháp thu thập số liệu
Địa điểm điều tra khảo sát phân bố Bương tại xã: Púng Bánh – Huyện
Sốp cộp – Tỉnh Sơn La.
- Lập phiếu điều tra phỏng vấn hộ gia đình theo dạng câu hỏi bán định
hướng, phiếu điều tra sinh thái loài, về đất, về sinh trưởng, tiềm năng cung
cấp nguyên liệu và giá trị sử dụng.
- Điều tra nguồn nguyên liệu: Diện tích (tổng diện tích ước tính , quy mô
trồng( tập trung hay phân tán), sản lượng khai thác hàng năm; điều kiện khai
thác , chất lượng nguyên liệu (chiều dài, đường kính, tuổi cây, khuyết tật).
Kết quả điều tra ghi vào phụ biểu 01( số hộ phỏng vấn ít nhất là 30 hộ).
3.4.3. Phương pháp điều tra theo tuyến ngẫu nhiên
Khảo sát bằng phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình tạm thời
hoặc khảo sát các hộ gia đình điển hình trên những diện tích trồng Bương
hiện có ở các dạng lập địa khác nhau, diện tích mỗi OTC 500 – 1000m2
(thuần loài 500m2, không thuần loài 1000m2) trên đó điều tra đo đếm:
- Xác định một số đặc điểm sinh thái nơi trồng: Vị trí gây trồng (chân,
sườn, đỉnh, khe), độ dốc, hướng dốc.
- Xác định sinh trưởng: Đo toàn bộ số khóm trong OTC, mỗi khóm đo
2/3 số cây trong khóm, đo đường kính ở lóng thứ 5 và đo chiều cao cây bằng
thước đo cao, số cây trong bụi, số cây 1 tuổi, mật độ hiện tại, biện pháp kỹ
thuật trồng, chăm sóc, khai thác. Kết quả ghi vào phụ biểu 02.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status