ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ TỚI
TÊN ĐỀ TÀI:
“NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH DO GIUN TRÒN
TRICHOCEPHALUS SPP GÂY RA Ở LỢN TẠI HUYỆN YÊN
THẾ, TỈNH BẮC GIANG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành
: Thú y
Khoa
: Chăn nuôi thú y
Khóa học
: 2009 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : TS. Lê Minh
TS. Hồ Thị Bích Ngọc
nhà trường, là thời gian giúp sinh viên tiếp cận trực tiếp với thực tiễn sản xuất,
củng cố tay nghề, học hỏi kinh nghiệm, nắm vững phương pháp nghiên cứu khoa
học, ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất. Đồng thời tạo cho sinh viên sự tự
lập, tự tin vào bản thân, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, có lối
sống lành mạnh để trở thành người cán bộ chuyên môn có năng lực làm việc đáp
ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất.
Được sự đồng ý của trạm thú y huyện Yên thế, tỉnh Bắc Giang và cô giáo
hướng dẫn, em được về thực tập tại trạm thú y từ ngày 03/06/2013 đến ngày
18/11/2013 thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn
Trichocephalus spp. gây ra ở lợn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và biện pháp
phòng trị.”.
Trong thời gian thực tập, được sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo Trạm
thú y huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang cùng toàn thể cán bộ công nhân viên, sự
hướng dẫn tận tình của thầy, cô giáo cùng với sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em
đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng nhưng do thời gian có hạn, kinh nghiệm còn thiếu trong
thực tiễn sản xuất, kiến thức còn hạn hẹp nên khóa luận của em không tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến quý báu của thầy
cô và ác bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Tới
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
%
:
Micrômét
mg
:
Miligam
TT
:
Thể trọng
CS
:
Cộng sự
NXB :
Nhà xuất bản
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp, có hơn 80% dân
số sống bằng nghề nông, vì vậy phát triển kinh tế không thể không nói đến ngành
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu tình hình nhiễm và sự phát triển của trứng giun Trichocephalus
spp. ở lợn tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn Trichocephalus spp. gây
ra ở lợn.
- Nghiên cứu biện pháp phòng trị bệnh Trichocephalus spp. cho lợn.
- Đề xuất quy trình phòng trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài là những thông tin bổ sung về khoa học về đặc điểm
dịch tễ và quy trình phòng chống bệnh giun tròn Trichocephalus spp. cho lợn.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để giúp người chăn nuôi xác định
được bệnh và áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun Trichocephalus spp. cho lợn,
nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm giun ở lợn, hạn chế tác hại đối với lợn, góp
phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn phát triển.
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Đặc điểm sinh học của giun T. suis lợn
2.1.1.1. Vị trí của giun T. suis trong hệ thống phân loại động vật học
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [33], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20] vị
trí của giun Trichocephalus suis (T. suis) trong hệ thống phân loại động vật như
sau:
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Enoplia Chitwood, 1933
Bộ Trichocephalida Skrjabin et Schulz, 1928
Phân bộ Trichocephalata Skrjabin et Schulz, 1928
đực có một đầu bao gai gập hình cổ tay áo hay là hình bao tay, bao này một phần
hay toàn bộ bao phủ phần bao gai lồi ra khỏi thân. Chiều dài của chỗ gập là 0,242
- 0,330 mm; chiều rộng là 0,290 - 0,352 mm.
Con cái: Chiều dài thân trung bình 45,55 mm; tối thiểu 38 mm và tối đa
53 mm. Chiều dài phần trước mỏng của thân trung bình là 30,55 mm (25 - 35
mm); chiều dài phần sau dày là 15 mm (13 - 18 mm). Như vậy tỷ lệ giữa phần
trước và phần sau là 2,04 : 1. Trên ranh giới chỗ chuyển tiếp của phần thân trước
và phần thân sau, hơi dịch về phía sau cách đầu cuối của thực quản có âm hộ. Âm
hộ này nhô ra ngoài, dạng hình trụ hơi cong về phía sau (0,037 - 0,61 mm) và hơi
rộng ở chỗ cạnh tự do (0,050 - 0,075 mm). Chỗ này được phủ rất nhiều gai nhỏ
hình lưới (3 - 4 µ m). Ngay trước âm hộ, tử cung có hình ống thẳng hay hơi cong,
dài 0,92 - 1,28 mm; trong tử cung có trứng xếp thành một hàng. Đuôi con cái tù.
Trứng dài 0,056 - 0,066 mm và rộng 0,025 - 0,030 mm.
Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [20], con đực dài 37,52 - 40,63 mm;
rộng nhất 0,634 - 0,713 mm. Phần trước cơ thể dài 23,48 - 25,75 mm; phần sau dài
14,00 - 15,00 mm; có dạng xoắn lò xo. Gai sinh dục dài 1,70 - 2,55 mm; rộng 0,07 0,10 mm; mút cuối gai nhọn. Bao gai phủ đầy gai nhỏ. Lỗ huyệt nằm ở mút cuối
đuôi. Con cái dài 37,89 - 50,60 mm; rộng 0,734 - 1,012 mm; phần trước cơ thể dài
23 - 33 mm. Ống sinh dục đơn. Âm đạo có thành cơ dày, chứa đầy trứng. Kích
thước trứng 0,024 - 0,027 x 0,056 - 0,061 mm.
Phan Địch Lân và cs (2005) [19] cho biết: Hình thể giun T. suis giống roi ngựa
hoặc sợi tóc màu trắng, cơ thể chia thành hai phần rõ rệt, thực quản có các tế bào xếp
thành chuỗi hạt dài 2/3 cơ thể. Phần sau ngắn và to, bên trong là ruột và cơ quan sinh
sản. Giun đực dài 20 - 52 mm, đuôi hơi tù, phần đuôi cuộn tròn lại, chỉ có một gai giao
hợp dài 5 - 7 mm, được bọc trong một cái màng có nhiều gai nhỏ bao phủ. Lỗ sinh tiết
thông với ngoài ở phần cuối của giun. Giun cái dài 39 - 53 mm, đuôi thẳng. Hậu môn ở
đoạn cuối cùng, âm hộ ở đoạn cuối thực quản.
Trứng của giun của hình hạt chanh, màu vàng nhạt, kích thước
0,052 - 0,061 x 0,027 - 0,03 mm. Hai cực có hai nút trong, vỏ dày gồm 2 lớp.
chủ trung gian. Trứng được bài tiết cùng với phân lợn ra môi trường ngoại cảnh.
Ở môi trường thuận lợi, thời gian để trứng phát triển thành dạng cảm nhiễm từ 3
đến 4 tuần. Trong thời gian này, có thể thấy ấu trùng đã hình thành hoàn toàn và
chuyển động bên trong trứng.
Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [29], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5], cho
rằng: Tuổi thọ của giun T. suis ở lợn từ 4 - 5 tháng. Chu kỳ sinh học của giun T.
suis gồm hai giai đoạn: Một giai đoạn ở ngoài ngoại cảnh, phát triển từ trứng đến
ấu trùng cảm nhiễm; giai đoạn thứ hai ở ký chủ, trứng cảm nhiễm phát triển thành
giun trưởng thành. Không có thời kỳ di hành trong cơ thể ký chủ.
Theo Lương Văn Huấn và cs (1990) [7], giun T. suis sống được trong cơ thể
lợn 114 ngày.
Bonner Stewart T. và cs (2000) [34] cho biết: Những ấu trùng này nằm sâu
trong niêm mạc 2 tuần, nhô ra khỏi niêm mạc ở tuần thứ 3 và phát triển thành giun
trưởng thành trong khi bám vào niêm mạc ruột già.
Theo Phan Địch Lân và cs (2005) [19], giun cái đẻ trứng trong ruột già
ký chủ, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua 15 - 28 ngày trứng
phát triển thành trứng cảm nhiễm.
Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17] cho biết: Điều kiện thuận lợi nhất cho
sự phát triển của trứng giun T. suis thành trứng cảm nhiễm ở ngoài môi trường là
nhiệt đột từ 18 - 30 0 C, ẩm độ 80 - 85% sẽ phát triển thành trứng cảm nhiễm sau
15 - 28 ngày.
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [16] cho biết: Sau khi thụ tinh, giun cái đẻ
trứng trong ruột già ký chủ. Trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi qua
15 - 28 ngày trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm. Trứng này theo thức ăn,
nước uống vào đường tiêu hóa của ký chủ, ấu trùng được nở ra, chui sâu vào niêm
mạc ruột già, tiếp tục phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành
vòng đời trong cơ thể tùy loài, nhưng đối với T. suis cần 30 ngày.
2.1.1.4. Sự phát triển, sức đề kháng của trứng giun T. suis lợn ở ngoại cảnh
Theo Nguyễn Phước Tương (2002) [32], người nhiễm bệnh khi nuốt phải
trứng giun T. suis lẫn trong nước hay trong thức ăn thực vật chưa được nấu chín.
Sau khi vào ruột người, ấu trùng phát triển thành giun T. suis trưởng thành, khu
trú ở ruột thừa và gây bệnh cho người. Giun đẻ trứng, trứng này được bài xuất ra
ngoài qua phân người, sau khi phát triển và chứa ấu trùng thì có khả năng gây
nhiễm cho lợn (tuy nhiên tỷ lệ trứng phát triển chỉ có 11%, trong khi giun T. suis
ở lợn có tỷ lệ phát triển là 86 %).
Phan Địch Lân và cs (2005) [19] đã điều tra trên các giống lợn Yorkshire,
Landrace nhập nội, lợn lai F 1 (ngoại x nội) và giống lợn nội ở vùng đồng bằng
(Hà Nội, Hà Tây) cho biết: thành phần các loại giun sán chính ở lợn ngoại, lợn lai
và lợn nội khác nhau không nhiều; các loài giun sán phổ biến ở lợn ngoại và lợn
lai cũng là: T. suis, A. suum, O. ransomi…
Bùi Qúy Huy (2006) [8] cho biết, giun T. suis ở lợn và giun Trichuris
trichiura ở người có nhiều điểm giống nhau về hình thái, hóa học và kháng
nguyên, do đó bệnh giun T. suis dễ lây sang người.
* Đường lây nhiễm
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2009) [18], bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hóa
do lợn nuốt phải trứng cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống.
Lây nhiễm trực tiếp: lợn bệnh bài xuất trứng giun T. suis qua phân, những
trứng này phát tán trên nền chuồng, máng ăn, máng uống. Vì vậy, lợn khỏe dễ
dàng bị nhiễm trứng giun tóc. Lây nhiễm trực tiếp chủ yếu giữa lợn bệnh và lợn
khỏe trong cùng một ô chuồng. Lợn con nhiễm bệnh chủ yếu khi bú sữa mẹ, nuốt
phải trứng bám ở đầu vú lợn mẹ.
Lây nhiễm gián tiếp: dụng cụ chăn nuôi, người chăm sóc… cũng là tác nhân
mang mầm bệnh. Đây là những yếu tố trung gian góp phần lây nhiễm giun T. suis
từ lợn bệnh sang lợn khỏe, từ ô chuồng này sang ô chuồng khác.
Ngoài ra, ruồi, chuột cũng có thể phân tán trứng giun, gió cuốn trứng giun
theo bụi, mang trứng giun T. suis từ chuồng này sang chuồng khác gây phát tán
* Vùng mắc bệnh
Theo Nguyễn Đăng Khải (1996) [9] tỷ lệ nhiễm T. suis ở 7 vùng kinh tế như
sau:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Trung du và miền núi Bắc Bộ
+ Trung du
: 29,8 %
+ Miền núi
:27,8 %
Đồng Bằng sông Hồng
: 24,8 %
Bắc Trung Bộ
: 13,9 %
Nam Trung Bộ
+ Đồng bằng
: 17,5 %
+ Miền núi
: 34,7%
Tây Nguyên
: 20,8 %
Đông Nam Bộ
: 13,1 %
nhiễm T. suis tới 47,4 % (cường độ nhiễm nặng chiếm 15 % số lợn nhiễm).
* Yếu tố streess
Các yếu tố stress (chuồng trại chật chội, thức ăn kém dinh dưỡng, nhiệt độ
ẩm độ môi trường thay đổi…) đóng vai trò thúc đẩy mức độ và tốc độ lây lan
bệnh giun T. suis ở lợn.
2.1.2.2. Cơ chế sinh bệnh
* Vị trí gây bệnh
Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt là manh tràng và kết
tràng (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12].
* Đường xâm nhập vào cơ thể
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12] cho biết: Bệnh giun T. suis lây
nhiễm trực tiếp không qua vật chủ trung gian. Trứng cảm nhiễm xâm nhập vào
cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa do lợn ăn phải thức ăn, nước uống có lẫn
trứng giun. Giun T. suis ký sinh và gây bệnh ở ruột già lợn, đặc biệt ở manh tràng
và kết tràng.
* Đường bài xuất mầm bệnh
Lợn mắc bệnh sau một thời gian thì bài xuất trứng theo phân ra ngoại cảnh. Vì
vậy, trứng được phát tán rộng rãi ở ngoài tự nhiên và quá trình phát triển bắt đầu để tạo
thành trứng cảm nhiễm (trứng có chứa ấu trùng bên trong).
* Cơ chế sinh bệnh
Giun T. suis có phần đầu nhỏ, dài, phần này cắm sâu vào niêm mạc ruột gây
tổn thương, mở đường cho vi khuẩn gây bệnh vào cơ thể ký chủ. Trong quá trình
sống, giun T. suis tiết độc tố và thải cặn bã làm con vật trúng độc.
Giun tóc lấy dịch tổ chức niêm mạc ruột để sống gây nên hiện tượng xuất
huyết, viêm ruột và dẫn đến ỉa chảy (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999) [12].
Ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của lợn, giun T. suis còn gây tác
hại nặng nề cho lợn.
chết. Lợn bị nhiễm mãn tính còi cọc, thiếu máu, tăng trọng giảm.
Lợn trưởng thành nhiễm giun T. suis thường không thể hiện rõ các triệu chứng
lâm sàng. Lợn con ở 2 - 4 tháng tuổi bị nhiễm giun T. suis xuất hiện các triệu chứng
như: Ỉa chảy, lúc đầu phân lỏng sau phân sệt có nhiều dịch nhầy như dịch mũi, lẫn
máu, mỗi lần thải phân, lợn bệnh phải cong lưng lên để rặn nhưng phân ra rất ít. Các
triệu chứng trên giống như lợn bị bệnh lỵ. Nếu lợn bị bệnh mãn tính thì còi cọc, thiếu
máu, tăng trọng giảm (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [17].
Theo Trần Thị Dân (2008) [3], ruột già khác ruột non ở chỗ: Không có
nhung mao nhưng có vi nhung mao. Về tổng quát, ruột non là nơi tiết nước còn
ruột già là nơi hấp thu nước. Ruột già nguyên vẹn có thể hấp thu bù trừ nước khi
ruột non tiết nhiều. Tuy nhiên, những tổn thương ở ruột già do tác động của giun
T. suis ký sinh sẽ làm giảm khả năng tái hấp thu nước, dẫn đến tiêu chảy.
* Bệnh tích
Theo Rutter J. M và cs (1974) [38], khi mổ khám những lợn con bị bệnh T.
suis thấy: Viêm ruột tăng lên trong hầu hết các trường hợp, thành ruột già dày lên
và phù thũng, trong ruột chứa chất nhày, máu và các tế bào hoại tử bong ra từ lớp
niêm mạc.
Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [28], xác lợn chết gầy, có nhiều giun ở
ruột già (nhất là manh tràng). Một số giun vẫn cắm sâu đầu vào niêm mạc ruột.
Trên niêm mạc ruột có nốt loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị nhiễm nặng, toàn bộ
manh tràng xuất huyết màu hồng sẫm. Niêm mạc ruột bị bong ra.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) [5] cho biết: Giun T. suis ký sinh gây viêm niêm
mạc, thâm nhiễm tế bào, hình thành nhiều vết loét và tạo ra nhiều niêm dịch.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [19], xác lợn chết gầy, có nhiều giun ở ruột
già (nhất là ở manh tràng). Một số giun vẫn cắm sâu vào niêm mạc ruột, phải kéo
mạnh mới lấy ra được. trên niêm mạc ruột có vết loét to bằng hạt đậu xanh. Khi bị
nhiễm nặng toàn bộ ruột già có giun T. suis ký sinh dày đặc, niêm mạc ruột sần
sùi có thể bị bong tróc từng mảng.
bỏ đi, dung dịch lọc được cho vào các ống ly tâm và ly tâm với tốc độ 3000 vòng/
phút trong thời gian 3-5 phút. Sau đó, đỏ bỏ lớp nước phía trên và giữ lại cặn trong
các ống ly tâm. Tiếp theo cho nước muối bão hòa vào các ống ly tâm, đậy nắp miệng
ống và lắc đều cho cặn hòa đều trong dung dịch, tiến hành ly tâm lần 2 với tốc độ và
thời gian như trên. Dùng lồng vòng sắt vớt lớp váng nổi trên bề mặt, đặt lên phiến
kính sạch và soi dưới kính hiển vi tìm trứng giun tóc.
- Phương pháp Cherbovich
Phương pháp này hoàn toàn giống phương pháp Darling, chỉ khác dung dịch
bão hòa sử dụng ở đây là MgSO 4 .
- Phương pháp trực tiếp
Dùng đũa thủy tinh lấy 1 mẫu phân của con vật định xét nghiệm, để mẫu
phân lên phiến kính sạch: Nhỏ 1 - 2 giọt glycerin, gạt cặn bã ra 2 đầu phiến kính.
Dung dịch phân được giàn mỏng trên phiến kính và kiểm tra dưới kính hiển vi tìm
trứng giun T. suis.
- Để xác định cường độ nhiễm, có thể dùng phương pháp đếm số trứng giun
T. suis trong buồng đếm Mc. Master nhằm xác định số trứng giun T. suis /gam
phân.
* Với lợn chết: Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết: Đối với nhiều bệnh
giun sán, phương pháp chẩn đoán khi con vật chết là chính xác nhất. Việc chẩn đoán
bệnh giun T. suis được tiến hành qua phương pháp mổ khám, kiểm tra bệnh tích ở
ruột già và tìm giun T. suis. Khi phát hiện nhẹ nhàng lấy giun ra và để chết tự nhiên
trong nước sạch, sau đó bảo quản trong dung dịch Barbagallo (dung dịch Barbagallo
gồm 30 ml Formol; 7,5 g NaCl; nước cất 1000 ml) và ghi nhãn đầy đủ.
2.1.2.5. Biện pháp phòng và trị bệnh giun Trichocephalus suis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Việc phòng bệnh giun T. suis nói riêng và các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa
ở lợn nói chung có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả trong việc phòng
bệnh giun T. suis cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
độ môi trường xung quanh có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiệt độ trong hố ủ. Trong
cùng một hố ủ, về mùa hè có thể duy trì ở nhiệt độ 50 0 C. Nhưng vào mùa đông,
nhiệt độ chỉ là 37 0 C. Tuy nhiên, nếu ủ phân kín với lá xanh, rắc vôi, lân thì nhiệt
độ trong hố ủ có thể lên tới 50 0 C, khi đó trứng giun T. suis sẽ bị diệt bởi nhiệt độ
cao.
Phan Lục và cs (2006) [22], Chu Thị Thơm và cs (2006) [31] cho biết: Để
phòng bệnh giun tóc phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi.
Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun, định kỳ tẩy giun. Tăng cường chăm
sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với bệnh tật.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [17], để phòng bệnh Trichocephalus suis
cần thực hiện tốt các biện pháp sau:
- Thực hiện vệ sinh chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi để hạn
chế sự phát tán trứng giun; đồng thời sử dụng hóa chất phun vào chuồng trại theo
định kỳ như: Dung dịch NaOH 2 %, Cresyl 3 %, nước vôi 10 % để diệt trứng
giun.
- Ở các cơ sở bị ô nhiễm, có thể sử dụng một trong những hóa dược đặc hiệu tẩy
dự phòng cho lợn nái trước khi sinh và cho lợn lứa tuổi 2 - 4 tháng tuổi.
- Ủ phân cũng là biện pháp diệt trứng giun có hiệu quả.
* Điều trị bệnh giun T. suis
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [12], việc dùng thuốc tẩy giun phải
đạt được những yêu cầu sau:
Trước hết phải tiêu diệt được ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật
nuôi. Chữa cho con vật ốm khỏi bệnh và đảm bảo cho ngoại cảnh không bị nhiễm
bệnh giun sán. Tránh mầm bệnh nhiễm vào những con vật khác. Phải dùng thuốc
tẩy giun sán từ lúc nó chưa trưởng thành, chưa đẻ trứng và phải tiêu độc thật tốt
phân có trứng giun.
Dùng thuốc tẩy giun sán thì phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc
với giun sán mà không độc với ký chủ, nên chọn thuốc có hiệu lực nhất đối với ký
nhau 1- 2 ngày.
Phan Lục và Nguyễn Đức Tâm (2000) [21], cho biết: Levamisol tên thương
phẩm là Tramisol hay Ripercol, thuốc có thể trộn vào thức ăn hay pha nước uống
có phổ tác dụng rộng với giun T. suis. Ngoài ra, Fenbendazol tên thương phẩm là
Safe Guard, thuốc có thể trộn vào thức ăn dùng liên tục trong 3 ngày, không tồn
dư trong cơ thể, có hiệu quỉa mạnh đối với giun T. suis.
Theo Nguyễn Xuân Bình và cs (1996) [1] cho biết: hiện này trên thị trường
có nhiều thuốc điều trị bệnh giun T. suis. Tuy nhiên, tác giả khuyên nên dùng một
trong các hóa dược sau đây để tẩy giun T. suis cho lợn:
- Levamisol: Liều 7,5 mg /kg TT
- Mebendazol: Liều 0,5 mg /kg TT
- Ivermectin: Liều 0,3 mg /kg TT
Trong thời gian điều trị cần chăm sóc, nuôi dưỡng tốt.
Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [25] cho biết: Có thể dùng Tayzu để tẩy
giun T. suis cho lợn với liều 4g /30 - 40 kg TT, trộn vào thức ăn hoặc dùng
Levasol 7,5 % tiêm dưới da với liều 1ml/10 kg TT.
Để tẩy giun T. suis có hiệu quả cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau:
+ Trước tiên phải chẩn đoán bệnh chính xác. Sau đó tẩy cho những lợn bị
nhiễm nặng và có biểu hiện lâm sàng. Với mục đích phòng bệnh thì nên tẩy ho cả
đàn vì có những con đang mang mầm bệnh nhưng chưa phát hiện được.
+ Xác định thời điểm tẩy thích hợp. Tốt nhất là tẩy vào mùa xuân (tháng 3 4) và mùa thu (tháng 8 - 9). Lượng phân thải ra phải đem ủ nhiệt sinh học để diệt
mầm bệnh, sau 15 - 20 ngày kiểm tra để đánh giá hiệu quả của thuốc (Nguyễn Thị
Lê và cs, 1996) [26].
• Các Imidazothiazol
Các thuốc nhóm này tan trong nước, phổ chống giun tròn rộng. Tác dụng
chống ký sinh trùng nhanh hơn so với các benzymidazol.
Thuốc có tác dụng kích thích hạch, gây co cơ nhanh và kéo dài. Ở liều cao
gây ức chế hệ enzym Fumaratreductase của giun T. suis. Trong ruột, Levamisol
%; Thanh Hoá 12,5 %; Hưng Yên 15,1 %; Nam Định, Hà Nam 33,3 %; Hà Tĩnh
19,4 %; cường độ nhiễm cao, có trường hợp thấy 1219 giun T. suis ở ruột già của
một lợn.
Ở một số tỉnh phía Nam, Lương Văn Huấn và cs (1990) [5] cho biết: Quảng
Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế lợn nhiễm T. suis với tỷ lệ 14 %; Quảng Nam - Đà
Nẵng 8,75 %; Quảng Ngãi, Bình Định 27,5%; Phú Yên, Khánh Hoà 8,3 %; Lâm