1
1
LỜI NÓI ĐẦU
Để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường là việc không ngừng đổi mới để
cạnh tranh với mọi đối thủ trên thị trường. thì việc tìm hiểu đánh giá và tự hoàn thiện
bộ máy tổ chức quản trị kinh doanh là một yêu cầu khách quan cấp thiết đối với mọi
doanh nghiệp.
Sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng và sản xuất hàng dệt là một ngành đòi hỏi sự
cạnh tranh khá cao. Nếu không tự hoàn thiện đổi mới sản phẩm thì công ty đã và đang
tự đào thải mình ra ngoài thị trường. Không những nhu cầu mặc là nhu cầu cần thiết
của con người, không những mặc ấm mà nhu cầu của họ giờ là mặc đẹp nhưng giá cả
phải chăng. Không những vậy nhu cầu chủ yếu vẫn là giá rẻ mà hàng Trung Quốc nó
vừa đáp ứng được giá rẻ mà kiểu dáng lại đẹp. Đó cũng là điều khiến nhiều công ty
trong nước suy nghĩ. Vì vậy vấn đề đặt ra ở đây là làm sao có thể quản lý tốt, đạt hiệu
quả, khắc phục mọi tình trạng quản lý, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp để có thể
cạnh tranh tốt trên thị trường nội địa. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên
em đã lựa chọn công ty: “Công ty TNHH KIBA” để có thể nghiên cứu và tìm hiểu
thực tế bộ máy quản trị kinh doanh cũng như công tác quản trị tại công ty. Cùng với sự
hướng đẫn của cô hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ của ban lãnh đạo, phòng ban tổ
chức của công ty giúp e hoàn thiện bài báo cáo tốt nghiệp.
Đây cũng là vẫn đề mang tính thực tiễn cao, có ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình
cũng như hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty TNHH KIBA và các
doanh nghiệp nói chung. Trong quá trình tìm hiểu về công ty và báo cáo này đã giúp
em hiểu rõ hơn về thực trạng công tác quản trị của công ty. Song do nhận thức và khả
năng nghiên cứu vấn đề còn hạn chế nên trong quá trình xem xét nghiên cứu em không
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý bổ sung của các thầy cô
để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin cảm ơn sự tận tình giúp đỡ, hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thu Hiền cũng
như mọi người trong công ty đã giúp em hoàn thiện được báo cáo này
Loại hình doanh nghiệp: Trách nhiệm hữu hạn
Loại hình kinh doanh: Sản xuất – Thương mại
Thị trường: trong nước và xuất khẩu
Email: [email protected]
Website: http://www.kiba.com.vn
4
4
1.1.2 Cơ sở hình thành và phát triển của công ty TNHH IBA
Công ty TNHH KIBA được thành lập theo giấy đăng ký kinh doanh số
2102000243 của Công an tỉnh Bắc Ninh, cấp ngày 15/11/2000, có tư cách pháp nhân,
hạch toán độc lâp, có tài khoản ngân hàng và có con dấu theo quy định của nhà nước.
Công ty tiến hành kinh doanh trên cơ sở tuân thủ chính sách, pháp luật của nhà nước,
các quy định của luật pháp quốc tế và tuân thủ theo quy định điều lệ của Công ty.
Là công ty hình thành và phát triển trên nền của làng nghề truyền thống và dệt.
Công ty KIBA có quy mô vừa và nhỏ với số vốn điều lệ của công ty là một tỷ tám
trăm triệu đồng. Vốn của công ty được góp từ 3 (ba) thành viên: ông Nguyễn Hồng
Chiến, ông Nguyễn Quý Bệ và bà Huỳnh Thị Hoa. Công ty được xây dựng, hình
thành và chính thức đi vào hoạt động từ đầu năm 2001. Từ khi thành lập và đi vào
hoạt động, đầu năm 2001 công ty chỉ kí kết hợp đồng với một số bạn hàng quen thuộc
ở trong nước và Trung Quốc để sản xuất và xuất khẩu sản phẩmề số lượng giao dịch,
mẫu mã và chủng loại sản phẩm, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách
hàng. Tổng kết năm 2002
Năm 2002, trên cơ sở những khách hàng cũ, công ty phát triển thêm về số
lượng giao dịch, mẫu mã và chủng loại sản phẩm sản xuất, đáp ứng yê cầu ngày càng
cao của khách hàng.
Năm 2003 đến 2006 công ty đầu tư thêm nhiều máy móc thiết bị để nâng cao
- Huy chương vàng thương hiệu tin dung thủ đô năm 2013
1.1.4 Phương hướng hoạt động của công ty trong tương lai
• Mục tiêu dài hạn của công ty:
Mở rộng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực phân phối và xuất khẩu, hướng tới
mục tiêu trở thành thương hiệu nổi tiếng và đáng tin cậy trên thị trường trong và ngoài
nước. Với sự thông hiểu văn hóa địa phương cũng như nắm bắt được sở thích và nhu
cầu của người tiêu dùng, KIBA sẽ tiếp tục phát triển tăng tốc thông qua việc đẩy mạnh
phân phối sản phẩm trên toàn quốc và xuất khẩu ra nước ngoài. Đặc biệt sẽ xâm nhập
đựợc vào thị trường Châu Âu.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cho thương hiệu KIBA –
Thương hiệu của giá trị, sự tin cậy, nhãn hiệu ưa dung và phát triển bền vững.
Định vị thương hiệu trở thành Công ty hàng đầu Việt Nam về sản xuất Khăn mặt.
• Mục tiêu ngắn hạn đến 2016:
Xây dựng và phát triển công ty thành 10 công ty tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, có
mạng lưới tiêu thụ rộng khắp lãnh thổ Việt Nam và một số nước lân cận.
Tiên phong trong việc ứng dụng một cách toàn diện các công nghệ hiện đại, các
giải pháp phần mềm quản trị tiên tiến trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Mở chi nhánh tại miền Trung
1.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH KIBA
1.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của công ty TNHH KIBA
a. Chức năng
Công ty TNHH KIBA là một công ty tư nhân, có tư cách pháp nhân và được
hạch toán độc lập. Công ty có chức năng kinh doanh có lãi và thực hiện đúng ngành
nghề đã đăng kí với nhà nước và kinh doanh đúng với quy định của pháp luật. Và
thông qua các hoạt động sản xuất, hợp tác, buôn bán để khai thác có hiệu quả nguồn
vốn, vật tư, nguyên liệu và nhân lực của đất nước, đẩy mạnh xuất nhập khẩu tăng
GDP cho đất nước.
b. Nhiệm vụ
Dựa vào nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước và khai thác sử dụng các
phương thức mua bán thích hợp với các cơ sở và các công ty để lập kế hoạch bổ sung
7
7
Thiết kế mẫu theo đơn đặt
hàng
Ráp mẫu theo sơ đồ
Cắt - May
Hoàn thiện sản phẩm
Thu hóa thành phẩm
Hình 1.1: Sơ đồ sản xuất của Công ty TNHH KIBA
1.2.3.2 Giải thích sơ đồ sản xuất.
Giai đoạn 1: Thiết kế mẫu: Là giai đoạn khởi đầu của quá trình sản xuất, khi
công ty nhận được mẫu sản phẩm do khách hàng gửi đến, phòng kỹ thuật sẽ tiến hành
thiết kế và may thử sản phẩm mẫu.
Giai đoan 2 : Giáp mẫu theo sơ đồ: sau khi sản phẩm mẫu được chấp nhận
,phòng kỹ thuật tiếp tục giáp mẫu theo sơ đồ, tức là các chi tiết của sản phẩm sẽ được
thiết kế và được cắt trên giấy, trên bìa cứng theo đúng yêu cầu kỹ thuật về họa tiết và
kích cỡ sản phẩm.
Giai đoạn 3:
Cắt bán thành phẩm (cắt tinh,cắt thô) .Toàn bộ nguyên liệu chính sẽ được cắt
thành các chi tiết của sản phẩm, được phân loại rõ ràng theo từng lô hàng. Sau đó các
nhân viên phòng kỹ thuật sẽ tiến hành phối mẫu theo đúng yêu cầu của sản phẩm bằng
1.3.2 Sơ đồ bộ máy và cơ cấu phòng ban ở công ty
GIÁM ĐỐC
PGĐ KINH
DOANH
Phòng
kế
hoạch
Phòng
kỹ thuật
PGĐ TÀI
CHÍNH
PX
Cắt May
Phòng
kế toán
P. Tổ
chức
hành
chính
PGĐ sản xuất
trong công ty.
• Phòng kế toán: có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công tác kế toán tài
chính trong công ty theo quy định hiện hành của nhà nước, thực hiện công việc thống
kê trong công ty và quản lý nguồn tài chính của công ty.phòng tài chính kế toán thực
hiện các nhiệm vụ sau:
- Phản ánh đầy đủ toàn bộ số tài sản hiện có cũng như sự vận động tài sản của đơn vị,
qua đó quản lý chặt chẽ và bảo vệ tài sản nhằm nâng cao hiệu quả của việc sử dụng
tài sản đó.
- Phản ánh được đầy đủ các khoản chi phí bỏ ra trong quá trình kinh doanh cũng như kết
quả của quá trình kinh doanh đem lại, nhằm kiểm tra việc thực hiện nguyên tắc tự bù
đắp chi phí và có lãi trong kinh doanh. Phản ánh được cụ thể từng loại vốn, từng loại
tài sản , quy cho việc kiểm tra giám sát tính hiệu quả trong việc sử dụng vốn và tính
chủ động trong kinh doanh.
• Phòng tổ chức hành chính: có nhiệm vụ giám sát và quản lý nhân sự trong công ty,
thực hiện các công việc hành chính như tiếp nhận, phát hành và lưu trữ công văn, giấy
tờ, tài liệu. Tổ chức khách đến liên hệ công tác và điều hành mạng máy tính nội bộ,
quản lý con dấu của công ty.
• Phòng kế hoạch: có nhiệm vụ nghiên cứu và lập kế hoạch sản xuất, đề ra các phương
án sản xuất kinh doanh cung ứng nguyên vật liệu kịp thời cho sản xuất, cung ứng sản
phẩm cho khách hàng. Làm căn cứ cho việc thực hiện các hợp đồng kinh tế.
• Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ tiếp nhận tài liệu kỹ thuật mẫu gốc, tiến hành may mẫu,
đối mẫu, giáp mẫu theo sơ đồ, viết sơ đố quy trình công nghệ sản xuất chung, chịu
trách nhiệm triển khai kỹ thuật sản xuất tới các phân xưởng cho từng đơn hàng cụ thể,
thiết kế mẫu mã sản phẩm mới để chào hàng. Phòng kỹ thuật còn chịu trách nhiệm về
định mức vật tư, làm việc với khách hàng và chịu trách nhiệm về mẫu mã, chất lượng
sản phẩm. Kiểm tra chất lượng sản phẩm của công ty từ khi nguyên vật liệu đưa vào
sản xuất cho đến quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
• Phân xưởng cắt – may : có nhiệm vụ cắt nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản
•
Tên Mục
STT
1
2010
Doanh thu bán hàng và cung 5.708.658.675
2011
6.453.771.003
2012
7.081.042.641
2011/2010
+/745.112.328
2012/2011
%
13,05
+/627.271.638
%
9,72
cấp dịch vụ
2
Doanh thu hoạt động tài
-
-
103.896.360
-
114.795.100
-
151.992.047
-
10.898.740
-
10,49
-
-
-
37.196.947
nghiệp
4
Lợi nhuận sau thuế thu nhập.
67.670.505
6
1
Tài sản ngắn hạn
4.889.234.146
4.979.063.960
Tài sản
4.985.865.998
89.829.814
1,83
6.902.038
0,14
530.132.593
228.366.717
1.943.885.079
1.957.812.639
45,5
69.778.430
3,27
11,4
62.652.908
1,21
2
13,3
13.927.560
7,15
1
Nguồn:Phòng kế toán
15
15
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Tóm lại, chương 1 đã giới thiệu về tổng quan về công Ty TNHH KIBA, giúp cho người
đọc thấy rằng Công ty TNHH KIBA là là doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản
xuất, dệt may. Với những nguồn lực dồi dào như vốn, nguồn nhân lực trẻ, trình độ cao
và cơ sở vật chất đầy đủ, công ty đã đạt được những thành công nhất định. Tuy nhiên
Công ty phải chịu tác động từ những yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh
hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh. Đó là môi trường kinh tế thế giới chưa
ổn định. Bên cạnh đó là môi trường chính trị, pháp luật trong nước và các nước đối
tác cũng có nhiều khó khăn, thuận lợi ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả kinh
doanh của Công ty.Và các yếu tố bên trong doanh nghiệp được chú trọng hơn nữa
cũng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty.
Từ những thông tin của chương 1, ta thấy được phần nào tình hình kinh doanh của
Công ty, là cơ sở để đi đến chương 2:Tổ chức bộ máy quản trị kinh doanh Công ty
TNHH KIBA.
16
16
Chương 2: Tổ chức bộ máy quản trị kinh doanh Công ty TNHH KIBA.
2.1 Khái quát hệ thống quản trị kinh doanh Công ty TNHH KIBA
2.1.1 Các hệ thống quản trị kinh doanh hiện hành trong Công ty TNHH KIBA
2.1.1.1 Nghiệp vụ quản trị nguồn nhân lực
17
17
2.1.1.2 Nghiệp vụ quản trị tài chính
•
Quản trị tài chính là quản trị các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hính
thành, phát triển và biến đổi vốn dưới các hình thức có liên quan, đảm bảo doanh
nghiệp luôn có đủ lượng vốn cần thiết, cơ cấu phù hợp với yêu cầu của quá trình kinh
doanh góp phần đem lại hiệu quả kinh doanh cao nhất cho daonh nghiệp và lợi ích cho
người cung ứng vốn.
• Việc phân tích tài chính sẽ giúp nhà quản lý của Công ty TNHH KIBA thấy rõ thực
trạng hoạt động tài chính của công ty mình, từ đó có thể nhận ra những mặt mạnh, mặt
yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch định phương án hành động phù hợp
cho tương lai và đồng thời đề xuất những phương pháp hữu hiệu để ổn định và tăng
cường tình hình tài chính giúp nâng cao chất lượng doanh nghiệp.
• Nghiệp vụ quản trị tài chính của Công ty TNHH KIBA có nhiệm vụ:
+ Phân tích tài chính và hoạch định tài chính: để có thể dự báo giúp cho giám đốc đưa
ra được những kế hoạch dài hạn và ngắn hạn cho công tác đầu tư của công ty.
+ Xác định thời điểm cầu vốn.
2.1.1.3 Nghiệp vụ quản trị chất lượng
Quản trị chất lượng là các hoạt động tổ chức, kiểm soát và phân bổ các nguồn
lực để đạt được những mục tiêu chất lượng nhất định và được quy định trong các quy
định tiêu chuẩn chất lượng của nhà nước và công ty đề ra.
Kiểm soát các hoạt động phối hợp để định hướng kiểm soát một tổ chức về chất
lượng. Việc định hướng kiểm soát một tổ chức về chất lượng bao gồm chính sách chất
lượng. Mục tiêu chất lượng, hoạch định chất lượng, kiểm soát đảm bảo và biện pháp
cải tiến chất lượng.
Hiện nay nghiệp vụ quản trị chất lượng của công ty còn yếu vì chưa có bộ phận
nhất.
2.1.1.6 Nghiệp vụ quản trị tiêu thụ
Quản trị tiêu thụ là tổng hợp các hoạt động xây dựng kế hoạch, các chính sách
và giải pháp tiêu thụ để bán hết sản phẩm với doanh thu tối đa.
Quản trị tiêu thụ làm cho công tác tiêu thụ trở nên không còn thụ động. Công
ty TNHH KIBA luôn chú trọng vào vấn đề tiêu thụ sản phẩm vì nếu tiêu thụ được càng
nhiều sản phẩm thì doanh thu càng cao, công ty càng phát triển. Nhưng muốn tiêu thụ
được sản phẩm thì không phải đơn giản chính vì vậy mà công ty đã lập kế hoạch và tổ
chức công tác nghiên cứu thị trường, quảng cáo cho sản phẩm.
2.1.2 Mối quan hệ giữa các hệ thống trong quản trị kinh doanh.
Quản trị kinh doanh là một quá trình tác động liên tục có tổ chức có hướng đích
của chủ doanh nghiệp nên tập thể những người lao động trong doanh nghiệp sử dụng
hiệu quả mọi tiềm năng cơ hội để thực hiện thực hiện một cách tốt nhất hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra theo đúng pháp luật.
19
19
Quản trị cũng là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra của các thành
viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực nhằm đạt đến sự thành công trong các mục
tiêu đề ra của doanh nghiệp. Từ đó ta có thể nhận thấy quản trị là một hoạt động liên
tục liên tục và là sự kết hợp nhiều yếu tố cũng như con người với nhau trong một tổ
chức. Đây là quá trình nhằm tạo lên sức mạnh gắn liền các vấn đề với nhau đẩy các
vấn đề chuyên động.
Chiến lược của bất kỳ một công ty nào cũng thể hiện mục tiêu phát triển và phải
đạt được mục tiêu đã đề ra và đó cũng là sự đánh giá xem công ty hoạt động có hiệu
quả hay không? Chiến lược đặt ra đó có thực sự với công ty hay không? Ta đã lựa
chọn hướng đi đúng hay chưa? Và muốn hoàn thành được mục tiêu đặt ra thì nhà quản
2.2.1.1 Chức năng hoạch định
Các nhà quản trị của công ty thực hiện chức năng hoạch định như sau. Chiến
lược chung, chiến lược dài hạn do giám đốc hoạch định như các chiến lược 5 năm sắp
tới cho công ty, các chiến lược về tác nghiệp, nhân sự, tài chính…do trưởng phó phòng
chức năng đảm nhiệm. Công ty đã đưa ra chiến lược mở rộng quy mô của công ty ra
các tỉnh lân cận và mở thêm 1 chi nhánh nữa tại Miền Trung… Ngoài ra công ty còn
xây dựng các chiến lược về nhân sự như trả một mức lương phù hợp, thưởng phạt hợp
lý, có các chính sách ưu đãi cho nhân viên. Về sản phẩm thì công ty mở rộng thêm các
mẫu mã cũng như các mặt hàng đã được người tiêu dùng ưa dùng. Các chiến lược
ngắn hạn của công ty thường có tính linh hoạt để có thể dễ điều chỉnh với biến cố của
thị trường. Chiến lược trung và dài hạn ít linh hoạt hơn. Nhưng các chiến lược của
công ty cũng gặp rất nhiều khó khăn khi công ty có những thay đổi về nhân sự, trang
thiết bị hoặc có sự thay đổi trong các chính sách, quy định của nhà nước.
Với việc hoạch định như thế này thì công ty sẽ dễ phân chia nhiệm vụ phù hợp
với từng vị trí và sẽ tạo điều kiện cho các phòng ban có sự phối hợp giúp đỡ lẫn nhau.
Tuy nhiên cũng có những hạn chế nhất định, những chiến lược hay quyết định đưa ra
có thể không được thuận lợi do trình độ của nàh quản trị chưa đồng đều, bất đồng ý
kiến…và những tác nhân bên ngoài thị trường.
2.2.1.2. Chức năng tổ chức
Cơ cấu tổ chức của công ty theo kiểu cơ cấu chức năng, giám đốc là người có
quyền hạn lớn nhất. Có 7 phòng ban các phòng ban có các nhân viên mỗi nhân viên
thực hiện một nhiệm vụ phù hợp với trình độ chuyên môn của mình do cấp trên giao
phó, còn cấp trên ở các phòng ban có trách nhiệm thu thập, chỉnh lý cung cấp các
thông tin ban đầu để hoan thành nhiệm vụ và phải thường xuyên thông báo cho các
nhân viên dưới cấp về các quy định của công ty.
Với cơ cấu tổ chức này thì việc quản lý và phân công công việc trong công ty
dễ dàng, có trật tự. Tuy nhiên việc phân công quyền hạn giữa các phòng ban vẫn chưa
21
dễ nhất là đối với bộ phận sản xuất. Tuy kiểm soát như trên có thể khuyến khích nhân
viên tích cực làm việc và nhà quản trị cũng có thể kiểm soát dễ dàng qua các kết quả
đó. Nhưng việc kiểm soát khá chặt chẽ vì quản lý sợ họ lơ là trong công việc, đối với
bộ phận sản xuất có thể thấy rõ được kết quả công việc đạt được nhưng đối với các bộ
22
22
phận khác như bộ phận kỹ thuật thì kết quả này chưa rõ ràng lắm, nên trong công ty
vẫn tồn tại sự bất đồng giữa các phòng ban, một số nhân viên không muốn phát huy
hết khả năng của mình.
2.2.1.4 Vấn đề thu thập thông tin và ra quyết định
Thông tin có một vai trò hết sức to lớn trong quản trị. Chính vì thế, công ty
cũng đã có sự đầu tư mua sắm những phương tiện kỹ thuật điện tử hiện đại như máy
tính, mạng internet…nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hệ thống thông tin trong
công ty.
Trong công ty phòng kinh doanh sẽ phải tiến hành thu thập các thông tin về
thị trường, đối thủ cạnh tranh và các chính sách của nhà nước..., sử lý thông tin sơ bộ,
xác nhận độ chính xác của các thông tin thu thập được, sau đó trình lên ban giám đốc.
Dựa vào các thông tin này giám đốc công ty sẽ đưa ra các quyết định, chiến lược, mục
tiêu cho công ty trong dài hạn, các phòng ban trong công ty có nhiệm vụ triển khai các
chiến lược, mục tiêu đó. Đối với các nhà quản trị ở các phòng ban thì họ phải luôn
nắm bắt các thông tin từ các nhân viên về tình hình thực hiện công việc và các vấn đề
phát sinh trong công ty để từ đó kịp thời báo cáo lên giám đốc, qua đó giám đốc sẽ có
thể nắm bắt tình hình hoạt động của công ty một cách dễ dàngvà từ đó đưa ra các
quyết định kịp thời.
Xác định được tầm quan trọng của thông tin nên trong công tác này công ty đã
quan tâm đến việc đầu tư trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc thu thập thông tin.
hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển nhân viên trong công việc hàng ngày. Những nhà
quản trị cấp thấp trong công ty có kinh nghiệm nhiều hơn là kỹ năng chuyên môn, họ
là những nhân viên lâu năm có kinh nghiệp trong công việc. Họ có nhiệm vụ kiểm
soát các công việc hàng ngày và báo cáo lên các nhà quản trị cấp trung. Các nhà quản
trị cấp thấp là người lãnh đạo gần nhất nên họ rất hòa đồng, nhiệt tình, tâm lý với
nhân viên dưới quyền. Tuy nhiên lợi dụng đặc điểm này một số nhân viên có thái độ
làm viêc không tốt như có thái độ lười làm và đùn đẩy công việc. Tuy những trường
hợp xấu này trong công ty cũng đã được xử lývà khắc phục nhưng vẫn chưa triệt để
do áp lực trong công việc khá nặng nề.
2.2.2 Công tác quản trị nhân lực của doanh nghiệp
2.2.2.1 Quy trình xây dựng chiến lược nhân lực
Nhân lực luôn là lợi thế của công ty nhưng không phải vì thế mà công ty không có
những chính sách, kế hoạch phát triển nhân sự. Đối với bất kì một tổ chức, doanh
nghiệp nào cũng vậy vấn đề nhân sự luôn là yếu tố quyết định đến sự thành công hay
phát triển của công ty. Công ty TNHH KIBA luôn đặt vấn đề quản trị nhân lực lên
hang đầu vì đây là quá trình phức tạp nó không chỉ là khoa học, hay áp dụng cứng
nhắc một nguyên tắc, quy luật mà nó là cả một nghệ thuật. Vì đây là việc quản lý con
người là một trong những thành phần làm nên công ty.
Công ty TNHH KIBA đã xây dựng chiến lược nhân sự theo mô hình.
BÁNH XE QUẢN TRỊ NHÂN LỰC
24
24
Đào tạo, bồi dưỡng và
phát triển
Thiết kế công việc
Trong nhữ ng năm gần đây công ty cũng đã áp dụng việc phân tích công việc trong
quản trị nhân sự và công ty đã gặt hái đượcnhững thành công nhất định. Công ty
TNHH KIBA đã xác định được đúng loại lao động cần thiết để thực hiện các công
việc.
Việc phân tích công việc đã giúp cho Công ty TNHH KIBA giảm bớt được chi phí
nhân lực và thời gian tuyển dụng. Cũng như giúp công ty có thể phân công công việc
đúng người đúng vị trí, công suất làm việc cao hơn tạo được sự thoải mái cho nhân
viên khi họ được làm đúng chuyên ngành của mình.
Hơn thế nữa phân tích công việc còn giúp cho Công ty TNHH KIBA định hướng
được sự đào tạo và phát triển nhân lực một cách hiệu quả hơn và xác định được các
điều kiện cần thiết để khắc phục, loại trừ những ảnh hưởng có hại.
25
25
Công ty TNHH KIBA còn xử dụng phân tích công việc trong việc tính toán thù lao
cho người lao động, hiệu quả công việc và thành tích của người lao động.
• Để có được sự thành công trong việc phân tích công việc Công ty TNHH KIBA đã
thực hiện theo 5 bước:
- Bước 1: Xác định mục đích, yêu cầu của việc phân tích công việc, từ đó xác định
phương pháp phân tích công việc, hình thức thu thập thông tin phân tích công việc
hợp lý nhất, hiệu quả nhất.
- Bước 2: tiến hành thu thập các thông tin cơ bản từ những tài liệu có sẵn như sơ đồ tổ
-
chức, các bộ phận cơ cấu hoặc những thông tin mới.
Bước 3: Chọn lựa các yêu cầu phần việc đặc trưng, các điểm then chốt để thực hiện