Ảnh hưởng của đô thị hóa đến phát triển kinh tế xã hội phường trần phú, thành phố hà giang, tỉnh hà giang - Pdf 35

SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá là xu thế tất yếu trên con đường phát triển của hầu hết các quốc
gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả
nước đã có gần 200 khu công nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với
trên 6.000 dự án đầu tư trong, ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần
lớn diện tích các khu công nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng
chủ yếu bổ sung vào đội ngũ lao động công nghiệp là nông dân.
Sự hình thành trên địa bàn nông thôn những khu công nghiệp, khu chế
xuất các trung tâm dịch vụ, các khu đô thị mới... đã nâng giá trị sử dụng của đất
đai, tạo những ngành nghề và việc làm mới, nâng cao giá trị lao động, tạo môi
trường ứng dụng rộng rãi khoa học, công nghệ… Đô thị hoá kích thích và tạo cơ
hội để con người năng động, sáng tạo hơn trong tìm kiếm và lựa chọn các
phương thức, hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, vươn lên làm giàu chính
đáng. Kinh tế phát triển, đời sống của người lao động được cải thiện - đó là xu
hướng chủ đạo và là mặt tích cực của đô thị hoá.
Không nằm ngoài sự phát triển chung đó, Phường Trần phú được thành
lập ngày 15/7/1981, là phường Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của
Thành phố Hà giang - với những lợi thế sẵn có của mình đã thu hút được rất
nhiều các dự án đầu tư lớn cả về quy mô lẫn giá trị. Sau khi đi vào hoạt động các
dự án đã giải quyết được rất nhiều việc làm cho người dân trong phường. Nhìn
chung đời sống của người dân địa phương đang từng bước được cải thiện. Với
chủ đề của Đại hội Đảng bộ Phường lần thứ X là: ''Đoàn kết - Xây dựng phường
giàu mạnh về kinh tế, sáng về văn hóa, vững về QPAN, mạnh về chính
trị” phương hướng của Đảng bộ Phường đến năm 2015 là: Phát huy truyền


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2


điều tra, thu thập phải chính xác, đầy đủ phản ánh trung thực khách quan.
- Xử lý, phân tích số liệu, rút ra kết luận về các tiêu chí phản ánh những
ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa tới phát triển kinh tế xã hội của địa phương.
- Kiến nghị và đề xuất phù hợp với thực tiễn của địa phương.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về tăng trưởng kinh tế
- Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình
quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định. Hoặc:
- Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng trong một thời
kỳ nhất định (thường là 1 năm).
Qui mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người
hoặc thu nhập bình quân đầu người (Per Capita Income, PCI).
Trong đó:
- Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản
phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối
cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian
nhất định (thường là một năm tài chính).
- Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính
bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một
nước trong một thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc
dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
- Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho

hoá như sau:


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị. Đồng thời đó là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm, sản xuất
phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không gian đô thị mở
rộng. Trong đó, dân cư đô thị là một điểm dân cư tập trung phần lớn những
người dân lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị.
Đô thị hoá là một quá trình kinh tế - xã hội, mà biểu hiện của nó là sự tăng
nhanh về số lượng và quy mô của các điểm dân cư đô thị, sự tập trung của dân
cư trong các thành phố, nhất là các thành phố lớn, là sự phổ biến rộng rãi lối
sống nơi thành thị.
Đô thị hóa là một quá trình định cư của dân số nông nghiệp sang phi nông
nghiệp, với những chỉ số biểu trưng như: tỷ số dân số đô thị tăng lên trong khi tỷ
lệ dân số nông thôn giảm đi kèm theo sự mở rộng diện tích và không gian của
các đô thị đã có và sự xuất hiện các đô thị mới.
Đô thị hóa là sự biến đổi toàn diện kinh tế - xã hội nhiều mặt, trên cái nhìn
hẹp hơn đó là hiện tượng dịch cư nghề nghiệp từ lĩnh vực nông nghiệp sang phi
nông nghiệp với tất cả các hệ quả của nó. Và đô thị hóa là quá trình kinh tế - xã
hội tất yếu sẽ xảy ra mà không ngoại trừ bất kỳ quốc gia nào.
Nói một cách đầy đủ hơn thì đô thị hoá là một quá trình biến chuyển kinh
tế - xã hội – văn hoá và không gian, gắn liền với những tiến bộ về khoa học kỹ
thuật của xã hội loài người, trong đó diễn ra sự phát triển nghề nghiệp mới, sự
chuyển dịch cơ cấu lao động, sự chuyển đối lối sống ngày càng văn minh hơn
cùng với sự mở rộng không gian thành hệ thống đô thị, song song với việc tổ
chức ranh giới hành chính lãnh thổ và quân sự. Ở những nước có trình độ phát
triển kinh tế xã hội càng cao thì tỷ lệ đô thị hoá càng cao.



Sự mở rộng tự nhiên của dân cư hiện có, thông thường quá trình này
không phải là tác nhân mạnh vì mức độ tăng trưởng dân cư tự nhiên của thành
phố thường thấp hơn nông thôn. Sự chuyển dịch dân cư từ nông thôn ra thành
thị, hoặc như là sự nhập cư đến đô thị. ĐTH có các tác động không nhỏ đến sinh
thái và kinh tế khu vực. Đô thị học sinh thái cũng quan sát thấy dưới tác động đô
thị hóa, tâm lý và lối sống của người dân thay đổi. Sự gia tăng quá mức của
không gian đô thị so với thông thường được gọi là "sự bành trướng đô thị"
(urban sprawl), thông thường để chỉ những khu đô thị rộng lớn mật độ thấp phát
triển xung quanh thậm chí vượt ngoài ranh giới đô thị. Những người chống đối
xu thế đô thị hoá cho rằng nó làm gia tăng khoảng cách giao thông, tăng chi phí
đầu tư hạ tầng kỹ thuật và có tác động xấu đến sự phân hóa xã hội do cư dân
ngoại ô sẽ không quan tâm đến các khó khăn của khu vực trong đô thị. Đô thị
hoá nông thôn thúc đẩy phát triển xã hội.
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐÔ THỊ HÓA
1.2.1. Quá trình đô thị hóa trên thế giới
Đô thị hoá là quá trình tăng dân số ở khu vực thành thị trong tương quan
so sánh với dân số của một vùng, một quốc gia hay thậm chí toàn cầu. Kể từ
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại nước Anh năm 1750, người ta đã
bắt đầu chuyển từ nông thôn ra thành thị sinh sống và làm việc. Theo báo cáo
năm 2005 của Tổ chức Viễn cảnh Đô thị hoá của Liên hợp quốc thì thế kỷ 20
chứng kiến tốc độ đô thị hoá rất nhanh. Theo các chuyên gia nghiên cứu về đô
thị hoá thì trong tiến trình đô thị hoá nửa sau thế kỉ 20, các quốc gia kém phát
triển có chung một đặc điểm là: ở giai đoạn đầu, tỉ trọng dân số đô thị trên
tổngdân số thấp và tốc độ phát triển dân số đô thị nhanh, nhanh hơn rất nhiều so
với các quốc gia phát triển.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2


12,7
20,1
(Nguồn: World urbanization prospects: 2000)

2000
47,4
76,1
40,5
25,4

Trong cùng một khoảng thời gian 50 năm từ 1950 - 2000, tỉ lệ dân số đô
thị toàn thế giới là từ 29,7% lên đến 47,4%, khu vực kém phát triển từ 17 ,8%
lên 40,5% trong khi khu vực phát triển là từ 54,99% lên 76,1%.
Hiện tại tỉ lệ đô thị hoá châu Á là 35%, châu Âu là 75%, châu Phi là 45%,
Bắc Mỹ trên 90% và 80% ở Mỹ La tinh. Theo báo cáo của Liên hợp quốc, trong
1/4 thế kỷ tới, việc tăng dân số hầu như sẽ chỉ diễn ra ở các thành phố mà phần
lớn thuộc các nước kém phát triển. Đến năm 2030, hơn 60% dân số thế giới sống
ở các đô thị.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

Tiến trình phát triển đô thị đã góp phần to lớn vào sự nghiệp CNH-HĐH.
Song sự bùng nổ đô thị quá tải đã tạo ra hàng loạt vấn đề gay cấn đối với cuộc
sống con người, tạo ra sự thiếu cân bằng trong phân bố dân cư và vùng lao động
theo vùng lãnh thổ, khả năng cung ứng lương thực, thực phẩm ven đô Số hóa bởi
tiêu hao nhiên liệu, năng lượng... Nếu trong năm 1990, bình quân diện tích đất
canh tác trên đầu người ở mức 0,27 ha thì con số này dự báo sẽ tụt xuống 0,17 ha
vào năm 2025. Chiến lược chung của vấn đề đô thị hiện nay là:
1. Hạn chế việc di cư từ nông thôn ra đô thị trong đó yêu cầu nhất thiết

thay thế cho mô hình đô thị còn tồn tại nhiều bất cập hiện nay của chúng ta.
Quá trình đô thị hoá nông thôn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn
ra với tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và kiến trúc
trên cả nước. Năm 1999, cả nước có khoảng 400 thị trấn, nay tăng lên khoảng
651 thị trấn. Cuối những năm 90 của thế kỷ XX, dân số của thị trấn từ 2.000 đến
30.000 người, nay khoảng dao động này từ 2.000 - 50.000 người. Tỷ lệ dân số
phi nông nghiệp của thị trấn phổ biến ở mức 30 - 40% vào cuối những năm 90,
nay đã lên mức 50 - 60%. Năm 1998 có khoảng 60 đô thị loại 4, nay tăng lên 84
đô thị. Dưới chế độ phong kiến, giữa nông thôn và thành thị là một khoảng cách
quá xa. Thời gian gần đây, đặc biệt trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại
hóa đất nước, chúng ta thấy nông thôn đang xích lại gần hơn với thành thị. Quá
trình ĐTH nông thôn đã biến nền sản xuất nông nghiệp độc canh trở thành nền
sản xuất hàng hóa đa ngành nghề. Lối sống thành phố du nhập vào nông thôn rất
nhanh, tác động lớn tới cuộc sống, phong tục tập quán thôn quê Việt Nam và
những giá trị văn hóa truyền thống lâu đời.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

Nếu như ở nông thôn trước kia còn nhiều hủ tục, mê tín dị đoan thì nay đã
bớt đi nhiều. Quá trình ĐTH nông thôn đã đem lại rất nhiều thành tựu cho đất
nước. Cái được là rất lớn. Những gì tốt đẹp mà đời sống vật chất đem lại cho con
người đã nảy sinh dần dần trong nông thôn. Đời sống được nâng cao đã khiến
cho người ta xây dựng lại nhà cửa đẹp, khang trang hơn. Đường sá nông thôn
được trải nhựa, bê - tông sạch sẽ, đi lại thuận tiện. Người nông dân trước kia chỉ
quanh quẩn trong thôn làng, giờ mở rộng quan hệ ra bên ngoài.
Tuy nhiên, những nét đẹp truyền thống trong gia đình, họ hàng, làng xóm
láng giềng cũng có phần bị tổn hại; một bộ phận thanh niên ăn chơi, đua đòi;
quan hệ con cái với cha mẹ trong một số gia đình ngày càng xa dần; thế hệ trẻ
tiếp thu nhanh xu thế hiện đại, ngược lại với đa phần người cao tuổi cố giữ

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Hiện trạng kinh tế xã hội của phường Trần phú trước và sau đô thị hóa từ
năm 2009 đến nay.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại phường Trần Phú, Thành phố Hà Giang, tỉnh
Hà Giang, nơi quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh nhất.
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
* Cơ sở lý luận:
- Một số khái niệm về tăng trưởng kinh tế
- Khái niệm về phát triển kinh tế
- Lý luận về đô thị hóa
* Cơ sở thực tiễn
- Quá trình đô thị hóa trong nước
- Quá trình đô thị hóa trên thế giới
2.2.2. Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của phường
* Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên
- Vị trí địa lý
- Địa hình
- Điều kiện về khí hậu thủy văn
- Các nguồn tài nguyên thiên nhiên
* Điều kiện kinh tế xã hội


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

- Tăng trưởng kinh tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Thực trạng các ngành kinh tế

đối tượng hoặc số liệu nghiên cứu, từ đó phát hiện các xu hướng biến động của
đối tượng cần nghiên cứu.
2.3.3. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo
- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp thu thập dựa trên cơ sở thu thập
ý kiến của các chuyên gia trong từng lĩnh vực, các nhà lãnh đạo, các cán bộ quản
lý, người sản xuất giỏi có kinh nghiệm, các cán bộ về kỹ thuật thông qua các tài
liệu hoặc trao đổi trực tiếp với họ để ta có kết luận chính xác.
- Phương pháp chuyên khảo: Nghiên cứu các tài liệu mang tính chất lý
luận về đô thị hóa và những tác động của đô thị hóa.
2.3.4. Phương pháp điều tra thu thập tài liệu, số liệu, phương pháp
phỏng vấn
Phương pháp này nhằm thu thập các tư liệu, số liệu, thông tin cần thiết
phục vụ cho việc nghiên cứu. Nhằm điều tra, thu thập số liệu, thông tin cần thiết.
Các tư liệu cần thu thập như: Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của khu vực
nghiên cứu, hiện trạng sử dụng đất của địa phương,…. Đây là phương pháp rất
sinh động và thực tế vì qua phương pháp này tất cả các giác quan của người
phỏng vấn đều được sử dụng: mắt nhìn, tai nghe.... qua đó các thông tin được ghi
lại trong trí nhớ, qua ghi chép, chụp một cách cụ thể, thực tế, phong phú và
khách quan.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

CHƯƠNG III:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
3.1.1. Vị trí địa lý
Trần Phú là một phường trung tâm của Thành phố Hà Giang, tổng số đơn
vị hành chính của phường bao gồm 17 tổ dân phố với diện tích 244,80 ha. Toạ
độ địa lý của phường nằm trong khoảng 22°50’04” Vĩ độ Bắc và 104°59’28”

20,9°C (tháng7), nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 8,8°C (tháng1).
- Nhiệt độ tối cao trung bình: 24,6°C
- Nhiệt độ tối thấp trung bình: 5,4°C
Nhìn chung yếu tố nhiệt độ thuận lợi cho sản xuất nông lâm nghiệp, đặc
biệt đối với các loại cây ăn quả và cây công nghiệp có nguồn gốc nhiệt đới và
một số loại cây á nhiệt đới sinh trưởng và phát triển.
* Lượng mưa:
Lượng mưa trung bình năm 1.745 mm, đây là một trong những vùng có
lượng mưa bình quân năm thấp nhất của tỉnh Hà Giang, nhưng phân bố không
đều trong năm: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 chiếm 85% tổng lượng mưa cả
năm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 15% lượng mưa cả năm.
Tổng số ngày mưa trung bình năm khoảng 175 - 180 ngày, tập trung vào
các tháng 6, 7 và 8 có số ngày mưa cao từ 20 - 22 ngày/tháng và cường độ mưa
lớn, làm xói mòn rửa trôi đất, nhất là ở những vùng đất trống đồi núi trọc có độ
dốc lớn và độ che phủ của thảm thực vật thấp.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

3.1.4. Thủy văn
Trên địa bàn phư ờng Trần Phú có hệ thống suối nhỏ khá dày đặc. Do địa
hình phức tạp, các suối đều ngắn và dốc nên vào mùa khô thường thiếu nước,
mùa mưa hay gây ra lũ lụt, ngập úng. Ngoài ra còn có nguồn nước ngầm nông,
sạch có thể khai thác phục vụ cho đời sống sinh hoạt của nhân dân.
3.1.5. Các nguồn tài nguyên
3.1.5.1. Tài nguyên đất:
Dựa trên kết quả bản đồ thổ nhưỡng phường Trần Phú do Viện Quy hoạch
và Thiết kế Nông nghiệp điều tra xây dựng theo tiêu chuẩn phân loại định lượng
của FAO-UNESCO, được chia thành 5 nhóm (Mafor Soil Group), 11 đơn vị
(Soil Unít) và 23 đơn vị phụ (Sub-Soil Units). Những tính chất chính của từng

đạm tổng số tầng mặt giàu, các tầng ở dưới mức độ khá, lân tổng số giàu nhưng
kali dễ tiêu nghèo. Dung tích hấp phụ đạt 23,79 meq/100g đất. Thành phần cơ
giới chủ yếu là thịt nặng đến sét chứng tỏ khả năng giữ nước, giữ phân tốt. Đây
là loại đất có hàm lượng dinh dưỡng khá cao, hướng sử dụng nên trồng lúa nước
nhưng phải bảo đảm đủ nước thì năng suất lúa mới cao và ổn định. Nếu thiếu
nước, đất chai cứng, nứt nẻ sẽ làm giảm năng suất lúa.
- Nhóm đất xám (tên theo FAO-UNESCO là Acrisols): chiếm 74% diện
tích tự nhiên, phân bố trên khắp địa bàn phường. Đất có phản ứng chua đến rất
chua. Thành phần cơ giới biến động từ nhẹ đến nặng. Hàm lượng mùn và đạm
tổng số ở lớp đất mặt từ trung bình đến khá. Lân tổng số và dễ tiêu trong đất
nghèo. Dung tích hấp thu trong đất thấp. Vùng đất có địa hình thấp thích hợp với
các cây ngắn ngày, vùng đất có địa hình cao độ dốc trung bình thích hợp với các
cây dài ngày. Cần có biện pháp chống xói mòn bảo vệ đất.


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

- Nhóm đất đỏ (tên theo FAO-UNESCO là Ferralsols): chiếm 5,88% diện
tích tự nhiên được hình thành do sản phẩm phong hoá của đá vôi. Đất có thành
phần cơ giới nặng. Phản ứng của đất chua hoặc ít chua. Hàm lượng mùn và đạm
tổng số từ khá đến giàu. Lân tổng số giàu nhưng lân dễ tiêu thấp. Dung tích hấp
thu trong đất thấp. Đất đỏ có hàm lượng dinh dưỡng khá thích hợp với nhiều loại
cây trồng ngắn ngày và dài ngày, chú ý chống xói mòn bảo vệ đất.
3.1.5.2. Tài nguyên nước
a. Nguồn nước mặt
Chảy qua phường có hệ thống suối nhỏ dày đặc. Tuy nhiên, do địa hình
phức tạp, các suối đều ngắn và dốc nên vào mùa khô nước dùng cho sinh hoạt
cũng thiếu nhiều nên hầu như không đáp ứng được cho sản xuất nông nghiệp.
Vào mùa mưa, do mưa lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp đã tạo nên dòng
chảy mạnh gây lũ lớn làm ảnh hưởng đến sản xuất và giao thông trong mùa mưa

3.2.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2009 - 2012, tổng giá trị sản xuất (theo giá cố định) trên
toàn phường tăng trưởng nhanh, bình quân đạt 16,85%/năm, trong đó Công
nghiệp và XD tăng nhanh nhất đạt 30,834%/năm; Dịch vụ đạt 17,46%/năm;
Nông nghiệp đạt 3, 61%/năm. So với giai đoạn trước thì giá trị của ngành Công
nghiệp và xây dựng giảm chút ít nhưng của ngành dịch vụ và ngành nông nghiệp
lại tăng lên. Nguyên nhân của sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là
do những năm gần đây quá trình đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ (số lượng dự án
đầu tư gia tăng cả về số lượng lẫn giá trị). Tuy nhiên các dự án trên mới đang
trong giai đoạn được đền bù và bắt đầu được triển khai nhưng nó đã đánh dấu


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

cho một hướng phát triển mới của phường Trần Phú nói chung và trong suy nghĩ
của từng người dân nói riêng. Mặc dù tốc độ tăng bình quân của ngành Công
nghiệp và xây dựng có sự giảm sút chút ít so với giai đoạn trước nhưng có thể
nói sự sụt giảm đó là cần thiết. Hiện nay quá trình đô thị hoá của phường diễn ra
khá nhanh, điều này được chứng minh bằng hàng loạt các dự án được đầu tư vào
địa bàn phường với giá trị lớn nhỏ khác nhau và các lĩnh vực khác nhau. Để
chuẩn bị cho các nhà máy lớn nhỏ đi vào hoạt động trong thời gian không xa thì
hàng loạt các ngành dịch vụ đã phát triển nhanh chóng. Nói tóm lại, đạt được tốc
độ tăng trưởng như trên là rất ngoạn mục, đặc biệt là tốc độ tăng của ngành công
nghiệp – xây dựng và ngành dịch vụ. Với tình hình thực tế hiện nay của phường
thì trong tương lai giá trị sản xuất của phường sẽ tăng lên đáng kể đặc biệt là giá
trị ngành công nghiệp và xây dựng.
3.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu ngành kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu ngành: Do xác định rõ
phương hướng phát triển hiện nay là phát huy mọi tiềm năng để tăng giá trị các
ngành công nghiệp và dịch vụ. Vì thế cơ cấu ngành đã có sự chuyển dịch mạnh

sự.
Trong cơ cấu thành phần kinh tế ngành CN, TTCN thì kinh tế nhà nước
giảm dần tỷ trọng, còn 58,23% năm 2009 và 59,88% năm 2012. Điều này là
hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển chung của thành phố cũng như
của cả tỉnh đó là dần loại bỏ hình thức doanh nghiệp Nhà nước để thay bằng hình
thức doanh nghiệp tư nhân. Bên cạnh đó thì kinh tế ngoài nhà nước tăng chiếm


SV Nguyễn Thị Trà Giang – Lớp LDH1QD2

37,95% năm 2009 và 32,20% năm 2012. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài mới
xuất hiện từ năm 2009 nhưng đến 2012 đã chiếm 7,9% tổng giá trị sản xuất CN,
TTCN trên địa bàn. Như vậy, khi xét theo thành phần kinh tế thì đã có sự thay
đổi, và sự thay đổi lớn nhất phải nói đến đó là sự xuất hiện của thành phần kinh
tế có vốn đầu tư nước ngoài. Mặc dù xét về giá trị của nó trong tổng giá trị sản
xuất CN & TTCN thì chưa lớn lắm. Nhưng có thể nói đây là dấu hiệu cho thấy
sự thay đổi trong hướng đi hay cụ thể hơn là sự thay đổi trong quá trình phát
triển kinh tế của phường Trần Phú. Điều này chưa từng xảy ra trong những năm
trước đây.
Nguyên nhân cơ bản của các thành tựu tăng trưởng CN, TTCN và xây
dựng nêu trên là do chính sách cởi mở của Trung ương và địa phương, môi
trường đầu tư được cải thiện nên khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát
triển: Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã hoàn thành cổ phần hoá và sản xuất hiệu
quả; thu hút được nhiều dự án đầu tư vào địa bàn để phát triển công nghiệp (một
số dự án đầu tư đã đi vào hoạt động có hiệu quả); số hộ sản xuất TTCN tăng khá
nhanh qua các năm; đặc biệt từ năm 2009 xuất hiện nhân tố mới là đầu tư nước
ngoài vào sản xuất công nghiệp.
3.2.3.2. Thực trạng phát triển ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Trong những năm qua sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản của Phường
đã có những bước phát triển tương đối ổn định, không chỉ giúp đảm bảo an toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status