LUẬN VĂN: Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế xã hội quận Long Biên, thành phố Hà Nội đến năm 2015 - Pdf 15



LUẬN VĂN:
Hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội quận Long Biên, thành phố Hà Nội
đến năm 2015
mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa ở Thủ đô Hà Nội đang diễn ra với tốc độ
nhanh. Trong quá trình đó, công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói
chung và của từng quận, huyện nói riêng phải đi trước một bước, định hướng đúng cho các
kế hoạch và chương trình phát triển trung hạn và ngắn hạn. Quy hoạch phát triển kinh tế -
xã hội vẫn được coi là một khâu quan trọng trong công tác kế hoạch hóa, làm căn cứ cho việc
xây dựng định hướng phát triển và là cơ sở cho quy hoạch chuyên ngành, quy hoạch xây
dựng đô thị, hoạch định các kế hoạch 5 năm và hàng năm. Điều này càng đặc biệt quan

- Quyết định 108/CP của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh quy hoạch chung của
Thủ đô Hà Nội đến năm 2020.
- Chỉ thị 32/1998/CT-TTg ngày 23/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ về công tác
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010.
- Công văn số 792/UB-KHĐT ngày 9/4/1999 của Chủ tịch ủy ban nhân dân thành
phố Hà Nội chỉ đạo thực hiện công tác quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
- Công văn số 516/UB-KHĐT ngày 25/2/2004 của ủy ban nhân dân thành phố Hà
Nội về việc xây dựng, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các quận, huyện Hai
Bà Trưng, Gia Lâm, Thanh Trì, Long Biên và Hoàng Mai, v.v
Ngoài ra, có một số đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về quản lý quy hoạch đô thị,
như: Hoàn thiện quản lý quy hoạch xây dựng đô thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh,
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của Huỳnh Khương Ninh, Hà Nội, 2005;
Cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về kinh tế cấp quận/ huyện tại Thành phố Hồ
Chí Minh, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của Trần Công Lý, Hà Nội,
2005; Phát triển các dịch vụ xã hội cho người nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội, Luận
văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của Phạm Thị Thanh Mai, Hà Nội, 2005
Tuy vậy, đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hoàn
chỉnh về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên. 3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Trên cơ sở nhận thức lý luận và đánh giá thực trạng quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội quận Long Biên từ khi thành lập đến nay, đề ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện việc quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên đến năm 2015.
- Nhiệm vụ
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quận.
+ Phân tích, đánh giá các yếu tố tiềm năng, nguồn lực, những nét đặc thù và thực
trạng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên từ khi thành lập đến nay, chỉ ra
những nguyên nhân của thành tựu và hạn chế, yếu kém.
+ Đề ra những định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1
cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội quận
long biên

1.1. Vị Trí, VAI Trò Và Nội DUNG QUY Hoạch Phát Triển KINH Tế - Xã
Hội Cấp Quận
1.1.1. Vị trí, vai trò và chức năng cấp quận
* Vị trí, vai trò cấp quận trong hệ thống tổ chức hành chính nhà nước
Theo quy định của luật pháp Việt Nam, quận/ huyện là một trong bốn cấp hành
chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời quận/ huyện còn được tổ
chức là một cấp chính quyền thuộc hệ thống chính quyền địa phương, là cấp trên của xã,
phường - chính quyền cơ sở và cấp dưới của tỉnh/ thành phố.
Về tổ chức không gian địa lý, quận là địa bàn lãnh thổ với cư dân và tổ chức xã
hội đô thị, bao gồm diện tích tự nhiên và một lượng dân cư nhất định, tuỳ thuộc vị trí, tính
chất và điều kiện phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội. Về hành chính, quận là cơ quan nhà
nước địa phương quản lý một số phường nhất định. Số lượng phường thuộc mỗi quận
không có chỉ tiêu thống nhất, tùy theo đặc điểm và tính chất của từng khu vực quyết định
hình thành quận và địa giới quận thuộc thẩm quyền của Quốc hội.
Xét về tổ chức xã hội - kinh tế, quận là một phần lãnh thổ của thành phố được
phân chia theo địa giới hành chính bao gồm đất đai, dân cư. ở các quận, hầu hết đều có hệ
thống kết cấu hạ tầng phát triển, có đường giao thông thuận tiện, có hệ thống cung cấp
điện, nước sinh hoạt, dân cư đông, tập trung nhiều tầng lớp làm ăn sinh sống chủ yếu dựa
vào sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ… với sự đa dạng và phức tạp về ngành
nghề. Mật độ dân số cao và cơ cấu dân cư phức tạp nên trên địa bàn cấp quận cũng dễ nảy
sinh nhiều vấn đề về an ninh, trật tự, về các mối quan hệ giao lưu và quản lý độ thị.



tổ chức thực hiện trên phạm vi địa bàn hoạt động của mỗi địa phương, cơ sở. Vì vậy, không
thể thiếu vai trò trung gian của cấp quận.
Cấp quận là một cấp hành chính được lập ra ở các thành phố trực thuộc trung ương
trong cả nước. Cấp quận trực tiếp lĩnh hội mọi vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách từ
cấp thành phố, chịu sự lãnh đạo và chỉ đạo trực tiếp của thành phố. Đối với cấp quận, nhiều
vấn đề trên địa bàn bị chi phối rất lớn và gắn bó về kinh tế, kế hoạch và sự quản lý của thành
phố. Do sự phát triển về kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hoá đang diễn ra ngày càng nhanh
ở nước ta, việc hình thành đơn vị hành chính cấp quận là rất cần thiết.
Trong vài thập kỷ qua, qua việc cải cách thí điểm, một số quận, huyện, tỉnh, thành
phố ở nước ta được sáp nhập với quy mô không thích hợp với điều kiện thực tế. Đến nay,
Nhà nước đã phải hoạch định lại địa giới theo hướng nhỏ và gọn hơn, phù hợp thực tế của
từng vùng, cấp quận trở thành đơn vị hành chính có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế địa
phương.
* Chức năng, quyền hạn cấp quận
Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 và Luật Tổ
chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân năm 2003, chính quyền địa phương ở nước ta
được tổ chức làm ba cấp: tỉnh - thành phố trực thuộc trung ương, quận (huyện), phường
(xã). Trong công cuộc đổi mới đất nước, tổ chức chính quyền địa phương nói chung, chính
quyền quận (huyện) nói riêng có nhiều bước tiến quan trọng. Các cấp chính quyền đã tập
trung vào chức năng quản lý hành chính nhà nước bằng công quyền và pháp luật, quy
hoạch và kế hoạch, có sự kết hợp giữa điều tiết bằng chính sách với sử dụng các nguồn lực
vật chất nhất là nguồn lực về tài chính, tín dụng, kết cấu hạ tầng. Cơ sở pháp lý tổ chức và
hoạt động của chính quyền địa phương được quy định trong Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền
hạn cụ thể của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ở mỗi cấp (25-6-1996). Trong cơ cấu
chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương,
có tính tự quản và thực hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương, quyết định chủ
trương, biện pháp phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương phù hợp với lợi ích của nhân dân
và pháp luật. ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và nằm trong
tổng thể các cơ quan thuộc nền hành chính quốc gia. Vì vậy, ủy ban nhân dân thực hiện sự

vùng biển tại địa phương theo quy định của pháp luật. Quyết định biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường; phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão lụt ở địa phương; thực
hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn
việc sản xuất, lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng ở địa phương, bảo vệ lợi ích của người
tiêu dùng.
- Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và
quốc phòng toàn dân; bảo đảm thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự, xây dựng lực lượng dự bị
động viên, thực hiện nhiệm vụ hậu cần tại chỗ, chính sách hậu phương quân đội và chính sách
đối với lực lượng vũ trang nhân dân ở địa phương; biện pháp kết hợp quốc phòng, an ninh với
kinh tế, kinh tế với quốc phòng, an ninh. Thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn
xã hội; đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác ở địa
phương [11, tr. 20-24].
Đối với ủy ban nhân dân quận (huyện) có chức năng và quyền hạn sau:
- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trình Hội đồng nhân dân
cùng cấp thông qua để trình ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt; tổ chức và kiểm tra thực hiện
kế hoạch đó. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa
phương, phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình; quyết toán ngân sách địa phương;
lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường cần thiết trình Hội đồng nhân dân
cùng cấp quyết định và báo cáo ủy ban nhân dân, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp. Tổ chức
thực hiện ngân sách địa phương; hướng dẫn, kiểm tra ủy ban nhân dân phường (xã) xây dựng
và thực hiện ngân sách và kiểm tra nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường (xã) và thực
hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật. Phê chuẩn kế hoạch kinh tế - xã hội
của phường (xã).
- Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua các chương trình
khuyết khích phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ở địa phương và tổ chức thực
hiện các chương trình đó. Chỉ đạo ủy ban nhân dân phường (xã) thực hiện các biện pháp
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, bảo vệ rừng, trồng rừng và khai thác
lâm sản, phát triển ngành, nghề đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản. Thực hiện giao

việc xóa mù chữ và thực hiện các quy định về tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử. Quản
lý các công trình công cộng được phân cấp; hướng dẫn các phong trào về văn hóa, hoạt
động của các trung tâm văn hóa - thông tin, thể dục thể thao; bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh do địa phương quản lý. Thực hiện kế
hoạch phát triển sự nghiệp y tế; quản lý các trung tâm y tế, trạm y tế; chỉ đạo và kiểm tra
việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân; phòng, chống dịch bệnh; bảo vệ và chăm sóc người
già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương tựa; bảo vệ chăm sóc bà mẹ, trẻ em; thực
hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình; kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong
hoạt động của các cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, cơ sở in, phát hành, xuất bản phẩm.
Tổ chức, chỉ đạo việc dạy nghề, giải quyết việc làm cho người lao động; tổ chức thực hiện
phong trào xóa đói, giảm nghèo; hướng dẫn hoạt động từ thiện, nhân đạo.
- Thực hiện các biện pháp ứng dụng khoa học, công nghệ phục vụ sản xuất và đời
sống nhân dân ở địa phương. Tổ chức thực hiện bảo vệ môi trường; phòng, chống, khắc phục
hậu quả thiên tai, lũ lụt. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn đo lường
và chất lượng sản phẩm; kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn; ngăn chặn
việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng ở địa phương.
- Tổ chức phong trào quần chúng tham gia lực lượng vũ trang và quốc phòng toàn
dân; thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ quận (huyện); quản lý lực lượng dự
bị động viên; chỉ đạo việc xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, công tác huấn luyện dân
quân tự vệ. Tổ chức đăng ký, khám tuyển nghĩa vụ quân sự; quyết định việc nhập ngũ,
giao quân, việc hoãn, miễn thi hành nghĩa vụ quân sự và xử lý các trường hợp vi phạm
theo quy định của pháp luật. Tổ chức thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn
xã hội, xây dựng lực lượng công an nhân dân vững mạnh, bảo vệ bí mật nhà nước; thực
hiện các biện pháp phòng ngừa, chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm
pháp luật khác ở địa phương. Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp
luật về quản lý hộ khẩu, quản lý việc cư trú, đi lại của người nước ngoài ở địa phương.
Tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh, trật tự, an
toàn xã hội [11, tr. 82-89].

dài hạn (có chia các giai đoạn) để cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên lãnh
thổ, theo thời gian và là cơ sở để lập các kế hoạch phát triển. Phải dựa trên cơ sở tính toán và
khai thác hợp lý, khoa học, có hiệu quả cao các điều kiện thiên nhiên, kinh tế, xã hội, các yếu
tố của lực lượng sản xuất toàn xã hội nhằm đạt được mục tiêu chiến lược đã đề ra [28, tr. 616]. Chất lượng của quy hoạch phụ thuộc vào công tác điều tra cơ bản, dự đoán phát
triển kinh tế, khoa học kỹ thuật và khả năng mở rộng sự hợp tác kinh tế với nước ngoài.
Có các loại quy hoạch: Quy hoạch đô thị, quy hoạch vùng, quy hoạch xây dựng,
quy hoạch kinh tế, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn
Quy hoạch đô thị là nghiên cứu những quy luật phát triển của đô thị nhằm giúp
cho việc hoạch định những chính sách, kế hoạch, quy hoạch phát triển đô thị đảm bảo việc
sắp xếp, bố trí các yếu tố tạo nên đô thị và tạo ra một cấu trúc hợp lý đảm bảo sự hoạt động
nhịp nhàng của các yếu tố đó và sự hài hòa của đô thị với môi trường.
Quy hoạch vùng là "dự án thiết kế sử dụng tổng hợp lãnh thổ từng vùng đất đai
của một nước về sử dụng đất đai, về xây dựng cơ bản, tổ chức cân đối giữa các ngành công
nghiệp, nông nghiệp, giao thông, dựa theo thế mạnh của mỗi vùng" [1, tr. 1381].
Nội dung của quy hoạch vùng là bố trí hiệu quả các cơ sở sản xuất - kinh doanh
trên cơ sở sử dụng tổng hợp nguyên liệu, vật tư, lao động, kỹ thuật và tổ chức hợp tác liên
doanh giữa các cơ sở, bố trí dân cư hợp lý nhằm đảm bảo kiến trúc xây dựng, vệ sinh
thuận tiện cho dân, phối hợp sử dụng chung hệ thống cấu trúc hạ tầng và dịch vụ. Quy
hoạch vùng được tiến hành trên cơ sở các vùng kinh tế có ranh giới tương đối ổn định, làm
cơ sở cho việc lập các đồ án thiết kế xây dựng.
Quy hoạch xây dựng là việc tổ chức không gian đô thị và điểm dân cư nông thôn,
hệ thống công trình kỹ thuật, hạ tầng xã hội; tạo lập môi trường sống thích hợp cho người
dân sống tại các vùng lãnh thổ, bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia với lợi ích
cộng đồng, đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ
môi trường. Quy hoạch xây dựng được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch xây dựng bao
gồm sơ đồ, bản vẽ, mô hình và thuyết minh [12, tr. 10].
Quy hoạch kinh tế là cụ thể hóa chiến lược phát triển kinh tế về mặt không gian và

đường phố cũ…) để xây dựng lại hoàn toàn mới; hai là, tu bổ tức là chỉ sửa sang chút ít. ở
nhiều nước, trước đây người ta thực hiện quy hoạch cải tạo ban đầu nặng về xây dựng lại
và tái trang bị vật chất, gần đây lại thiên về tu bổ và thực hiện các chương trình xã hội; đây
cũng là khuynh hướng chủ yếu của một số nước mới phát triển trong việc xác định bước
quy hoạch xây dựng đô thị của mình. Kinh nghiệm cho thấy, việc cải tạo đô thị nhiều khi lại làm trầm trọng thêm những vấn đề mà người ta muốn giải quyết. Ví dụ, nhà cũ nát
muốn phá đi để làm cao ốc sang trọng, nhưng khi thực hiện giá thành nhà ở mới lại quá đắt
so với túi tiền của người có thu nhập thấp, một đối tượng chiếm tỷ trọng khá lớn tại các
nước nghèo và đang phát triển. Do vậy, khi tiến hành cải tạo các khu phố cũ nát, người
nghèo bắt buộc phải chuyển chỗ ở, nhường cho những người giàu để tìm những "ổ chuột"
mới hợp với thu nhập của họ.
Đối với việc quy hoạch phát triển các khu đô thị mới, ai cũng biết là các khu đô thị
đều rất khác nhau ở mỗi nước hoặc ở mỗi giai đoạn phát triển trong cùng một nước, nhất là
về quy mô, chuyên biệt hóa trong nội bộ, về phương thức xây dựng khu dân cư, về cơ cấu
dân cư… nhưng khi thiết kế, nhà quy hoạch đều hướng trực tiếp vào việc cải thiện các vấn
đề đô thị. Tại mỗi khu đô thị mới đều nhằm giải quyết những nhu cầu riêng biệt của từng
cơ sở. Tuy nhiên, trong nội bộ cấp quận, việc xác định tính chuyên biệt nhằm định hướng
quy hoạch phát triển cũng đòi hỏi phải có tính khoa học và sự cẩn trọng.
Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quận và việc tổ chức không gian kiến
trúc, bố trí xây dựng các công trình trong quận qua từng thời kỳ, làm cơ sở cho việc đầu tư
xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, việc quy hoạch có vai trò định hướng phát
triển không gian, là tiền đề sử dụng đất có hiệu quả nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa
bàn quận. Do đó, quy hoạch có vai trò là cơ sở cho việc xác định chiến lược phát triển hợp
lý trong từng giai đoạn và việc định hướng phát triển lâu dài cho quận về mặt tổ chức sản
xuất, tổ chức đời sống và tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, môi trường ở quận.
Trong những năm qua, do tác động của sự phát triển nền kinh tế thị trường, chính
sách mở cửa, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với công tác quy hoạch, đầu tư cải
tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng… các đô thị ở nước ta, trong đó có Hà Nội, đã phát triển

(2003) có hiệu lực từ 1-7-2004, đã đáp ứng được nhu cầu quản lý và phát triển đất nước.
Trong đó, Luật Xây dựng quy định nhiệm vụ công tác quản lý nhà nước về quy hoạch và
quy định nhiệm vụ, nội dung công tác quy hoạch cho cấp quận ở các thành phố. Trên cơ sở
các văn bản luật pháp về quy hoạch, cộng với nhiệm vụ quản lý, kế hoạch hóa của chính
quyền cấp quận, có thể nêu lên ba nhiệm vụ cơ bản sau đây của công tác quy hoạch phát
triển kinh tế - xã hội cấp quận: - Đối với quy hoạch chung cần xác định tính chất, đặc trưng của quận, quy mô dân
số và định hướng phát triển không gian trong quận, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng
xã hội cho từng giai đoạn 5 năm, 10 năm và dự báo hướng phát triển cho giai đoạn 20
năm. Qua đó phải xác định những khu vực cần giải tỏa, những khu vực được giữ lại để
chỉnh trang, những khu vực cần được bảo vệ và những yêu cầu cụ thể khác theo đặc điểm
của từng đơn vị.
- Đối với quy hoạch chi tiết cần làm rõ yêu cầu diện tích sử dụng đất, quy mô,
phạm vi quy hoạch chi tiết, thiết kế đô thị, thiết kế đồng bộ và các công trình hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội trong khu vực thiết kế. Lập danh mục đề xuất biện pháp cải tạo cho
những công trình cần giữ lại trong khu vực quy hoạch cải tạo.
- Các đồ án quy hoạch xây dựng ở quận sau khi được duyệt cần được tổ chức và
thực hiện trên cơ sở áp dụng đồng bộ các biện pháp: Ban hành quy chế quản lý xây dựng
theo quy hoạch; tổ chức công bố và công khai các đồ án quy hoạch xây dựng để thực hiện
cơ chế giám sát việc lập và thực hiện quy hoạch xây dựng; cung cấp thông tin về quy
hoạch xây dựng, tạo điều kiện để cho các tổ chức, cá nhân xây dựng công trình phù hợp
với quy hoạch đảm bảo chất lượng kiến trúc, cảnh quan và môi trường của quận.
* Nội dung quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quận
- Trên cơ sở quy hoạch chung của thành phố, nội dung của công tác quy hoạch
phát triển kinh tế - xã hội cấp quận là đánh giá việc thực hiện quy hoạch hàng năm và xác
định đúng các nguồn lực hiện có để qua đó bố trí, sắp xếp lại các nguồn lực cho hợp lý
nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội trong quận phát triển ổn định, bền vững.
- Xác định được hệ thống các khu đô thị các điểm dân cư để phục vụ cho quy

thác công trình đó.
Công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội có vai trò rất quan trọng, mở đường
cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tránh sự phát triển tự phát về xây dựng và các hoạt
động kinh tế - xã hội, mà thường để lại nhiều hậu quả. Quy trình tổ chức xét duyệt chương
trình quy hoạch, kể cả khâu lập quy hoạch đòi hỏi cần phải đổi mới và thực hiện một cách cẩn trọng, trách nhiệm, nhằm tránh cho ra đời những sản phẩm quy hoạch kém chất lượng,
gây tổn hại quá trình phát triển kinh tế - xã hội cho quận.
* Yêu cầu đổi mới quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cấp quận
- Đô thị hóa là xu thế tất yếu đối với các nước đang phát triển, bên cạnh xu thế ấy
bao giờ cũng có một xu thế khác là sự tự phát hình thành các khu, cụm dân cư. Nguyên
nhân kinh tế dẫn tới sự di dân tự phát và việc chưa coi trọng công tác quản lý quy hoạch
xây dựng của các cấp chính quyền. Nhiều vấn đề thực tiễn liên quan đến quản lý quy
hoạch xây dựng ở quận là sự hỗn độn, mất trật tự trong xây dựng, quản lý đất đai, bảo vệ
môi trường, ùn tắc giao thông… đã khiến cho nhiều vấn đề trở nên khó khăn, phức tạp
trong nhận thức và thực thi các giải pháp đề ra.
- Thời gian gần đây công luận đã nói nhiều đến vấn đề quy hoạch "treo", nhưng
thực tế cho thấy còn có quy hoạch kết hợp với đầu cơ đất, quy hoạch "điều chỉnh"…
Quy hoạch "treo" là loại quy hoạch không mang tính khả thi, làm ra để đó, gây tốn
tiền của, thời gian và luôn đe dọa sự ổn định nơi ở của người dân, kìm hãm sự phát triển.
Quy hoạch kết hợp với đầu cơ đất được ngụy trang với tên gọi quy hoạch chính danh,
không kinh doanh để có thể tiến hành tự đền bù đất trên những diện tích khá rộng, thường
dừng ở việc phân lô và tuy có khá đủ các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, nhưng thường thiếu
cơ sở hạ tầng xã hội. Những lô đất được khoanh vùng rồi để đó, không thấy xây dựng mà
chỉ được thực hiện việc mua đi bán lại tìm chênh lệch giá, tạo nên một thị trường ảo về
nhu cầu nhà ở.
Với quy hoạch "điều chỉnh" tuy ban đầu thực hiện quy hoạch chi tiết rất công phu,
đầy đủ. Sau thời gian thực hiện quy hoạch, thông qua đền bù, giải tỏa và đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các bất cập bắt đầu nảy sinh: đền bù không dứt điểm, lợi nhuận

sống đô thị như quản lý đất đai, quản lý giao thông, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, chính
sách quản lý dân cư, dân số, bảo vệ môi trường, sử dụng các không gian công cộng đô thị…
Về lĩnh vực này, thực tế cho thấy đã xuất hiện những vấn đề vừa thiếu lại vừa thừa, không
đồng bộ, thay đổi liên tục. Do đó, sự phân cấp nếu không phân định rõ trách nhiệm cụ thể thì việc quy hoạch không thể hiện được tính khả thi và bộ máy quản lý của chính quyền quận dễ
sa vào việc giải quyết những hệ lụy nảy sinh.
1.2. Các Yếu Tố Tiềm NĂNG Và Nguồn Lực Phát Triển KINH Tế - Xã Hội
Quận LONG BIÊN
1.2.1. Các yếu tố tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên
* Về vị trí địa lý
Quận Long Biên được thành lập theo Nghị định 132/2003/NĐ-CP ngày 06-11-
2003 trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Gia Lâm với 14 đơn vị hành
chính trực thuộc, gồm các phường Gia Thụy, Ngọc Lâm, Bồ Đề, Phúc Đồng, Phúc Lợi,
Thượng Thanh, Giang Biên, Ngọc Thụy, Việt Hưng, Long Biên, Thạch Bàn, Cự Khối,
Đức Giang, Sài Đồng.
Quận Long Biên nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp
sông Đuống, phía Đông giáp huyện Gia Lâm, phía Tây giáp huyện Đông Anh, phía Nam giáp
sông Hồng. Vị trí địa lý đặc thù của quận, nằm giữa hai con sông lớn là sông Hồng và sông
Đuống, tạo cho Long Biên có tiềm năng quan trọng cho phát triển các cụm công nghiệp kỹ
thuật cao, cho quá trình phát triển đô thị hiện đại, đồng thời tạo được sự giao lưu trong hoạt
động kinh tế. Quận Long Biên cũng là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thông quan trọng với
nhiều đường giao thông lớn như đường sắt, quốc lộ, đường thủy nối liền các tỉnh phía Bắc
(Lạng Sơn, Bắc Ninh, Bắc Giang), các tỉnh phía Đông Bắc (Hải Dương, Hải Phòng, Quảng
Ninh). Đây là điều kiện thuận lợi cho sự liên kết kinh tế giữa quận với các tỉnh và thành phố
lân cận, mở rộng thị trường kinh doanh và dịch vụ.
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, và ở trên trục tam giác kinh tế Hà
Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Vị trí địa lý này tạo nên một sức hút mạnh để quận Long
Biên phát triển nhanh về kinh tế - xã hội, theo kịp nhịp độ phát triển chung của Thủ đô Hà

Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau là mùa đông lạnh, thời kỳ đầu thường hanh khô nhưng
đến nửa cuối của mùa đông lại thường ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình hàng năm đạt 23 -
24
0
C, biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm khoảng 6-7
0
C. Độ ẩm trung bình hàng
năm của quận khoảng 82%, ít thay đổi theo các tháng, thường dao động trong khoảng 78 - 87%. Lượng mưa trung bình khoảng 1.600 - 1.800 mm. Long Biên chịu ảnh hưởng chế độ
thủy văn của sông Hồng và sông Đuống: lưu lượng trung bình nhiều năm là 2.710 m
3
/s,
mực nước lũ thường cao từ 9 - 12 m (độ cao trung bình mặt đê là 14 - 14,5 m).
Về đất đai: Theo số liệu thống kê đến ngày 1-10-2004, quận Long Biên có diện tích
6.038 ha, là quận có điện tích lớn nhất trong số các quận nội thành Hà Nội. Trong đó đất nông
nghiệp là 2.258,01 ha, chiếm 34,17%; diện tích đất canh tác là 1.644,2 ha được chia thành hai
vùng: vùng trong đồng là 1.114,8 ha, vùng ngoài bãi là 529,4 ha. Diện tích đất ngoài bãi
thuộc loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, chất đất tốt, tạo điều kiện thuận lợi cho sản
xuất nông nghiệp. Trong tương lai, diện tích đất này có thể chuyển đổi mục đích sử dụng
sang nông nghiệp đô thị - sinh thái kết hợp với phục vụ cho du lịch thì đây có thể trở thành
một nét độc đáo của quận.
Bảng 1.1: Diện tích các loại đất của quận Long Biên (đến 10-2004) [16]
STT Loại đất Hiện trạng (2004)
1 Đất nông nghiệp 2.258,01 ha 37,41%
2 Đất chuyên dùng 1809,64 ha 29,97%
3 Đất ở 724,28 ha 11,99%
4 Đất chưa sử dụng 1246,29 ha 20,631%


sở cho phát triển công nghiệp khai thác cát, đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng trên địa bàn
quận. Tuy nhiên, cần phải có quy hoạch và quản lý khai thác để tránh ảnh hưởng đến dòng
chảy và sụt lở ở bờ sông.
1.2.2. Nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội quận Long Biên
Quận Long Biên hiện có hơn 182.000 nhân khẩu. Mật độ dân số bình quân 3.075
người/ km
2
, thấp hơn so với bình quân chung của toàn thành phố Hà Nội. Chính vì vậy,
sức ép về nhà ở, việc làm và một số vấn đề xã hội khác trên địa bàn quận không thực sự là
vấn đề bức xúc như một số quận khác của Thủ đô. Tuy nhiên, sự phân bố dân cư không
đồng đều giữa các phường trong quận. Đông dân nhất là phường Ngọc Lâm với 18.377

Trích đoạn QUY Hoạch Phát Triển Hạ Tầng Kỹ Thuật 1 Hệ thống giao thông Hệ thống cấp nước, thoát nước Về phát triển đô thị Các nhân tố ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội quận Long Biên Quan điểm và định hướng quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội quận Long Biên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status