Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện mỹ đức, thành phố hà nội - Pdf 28


i
MỤC LỤC
DANH MụC CHữ VIếT TắT III
DANH MụC BảNG IV
DANH MụC HÌNH V
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1.

C
Ơ Sở KHOA HọC Về LỒNG GHÉP CHứC NĂNG SINH THÁI MÔI TRƯỜNG VỚI
QUY HOẠCH TổNG THể PHÁT TRIểN
KTXH 3
1.1.1. Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường 3
1.1.2. Cơ sở pháp lý 7
1.2.

K
HÁI QUÁT ĐIềU KIệN Tự NHIÊN
,

KTXH
KHU VựC NGHIÊN CứU
10
1.2.1. Điều kiện tự nhiên 10
1.2.2. Điều kiện KTXH huyện Mỹ Đức 17
CHƯƠNG 2 – ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1.

Đ

Đ
ứC
45
3.2.1. Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Mỹ Đức 45
3.2.2. Phân tích, đánh giá việc lồng ghép chức năng sinh thái môi trường với
quy hoạch tổng thể phát triển KTXH huyện Mỹ Đức 56
3.3.

Đ
ề XUấT CÁC ĐịNH HƯớNG NÂNG CAO HIệU QUả LồNG GHÉP
75
3.3.1. Lồng ghép thông qua các quá trình ra quyết định, các văn bản 75
3.3.2. Lồng ghép thông qua việc thực hiện ĐMC, ĐTM và cam kết bảo vệ môi
trường 76

ii
3.3.3. Lồng ghép trong quá trình tuyên truyền và xã hội hóa môi trường 78
3.3.4. Tăng cường nguồn nhân lực cho công tác môi trường 80
KẾT LUẬN 82 iii
Danh mục chữ viết tắt

BQL Ban quản lý
BVMT Bảo vệ môi trường
ĐDSH Đa dạng sinh học
ĐHQG Đại học Quốc gia
ĐMC Đánh giá môi trường chiến lược
ĐTM Đánh giá tác động môi trường


Bảng 11. Các mục tiêu phát triển xã hội của huyện Mỹ Đức đến năm 2020 và
2030 47

Bảng 12. Quy mô của hồ chứa Quan Sơn 64

Bảng 13. Hiện trạng hệ thống các kênh chính của huyện Mỹ Đức 65

Bảng 14. Thành phần thực vật rừng đặc dụng Hương Sơn 67

Bảng 15. Các họ thực vật giàu loài nhất tại rừng đặc dụng Hương Sơn 68

Bảng 16: Các loài thực vật quí hiếm có ở rừng đặc dụng Hương Sơn 69

Bảng 17. Thành phần loài hệ động vật rừng đặc dụng Hương Sơn 70

Bảng 18. Tổng hợp tài nguyên thú rừng đặc dụng Hương Sơn 71

Bảng 19. Tổng hợp tài nguyên chim rừng đặc dụng Hương Sơn 71

Bảng 20. Các loài động vật quý hiếm có giá trị bảo tồn cao 72
v
Danh mục hình
Hình 1. Bản đồ hành chính huyện Mỹ Đức 11

Hình 2: Mơ Vân Nam được trồng ở Hương Sơn 33


quốc gia trên thế giới.
Nhằm tạo ra những giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, toàn thế giới
nhất trí rằng kinh tế, xã hội, các nguồn lực và môi trường phải được phát triển hài
hoà. Hội nghị thượng đỉnh Rio de Janerio, Braxin năm 1992 đã chuyển chủ đề “Bảo
vệ môi trường” của Hội nghị Liên hợp quốc năm 1972 ở Stockholm sang những vấn
đề liên quan đến môi trường và phát triển, lấy mục tiêu “Phát triển bền vững” làm
kim chỉ nam cho mọi hoạt động của các quốc gia - Chương trình nghị sự 21 ra đời.
Sự thay đổi chủ đề: “Bảo vệ môi trường” sang chủ đề “Phát triển bền vững”
thể hiện bước nhảy vọt trong nhận thức về tầm quan trọng của việc lồng ghép công
tác BVMT vào chương trình xây dựng và phát triển đất nước của mỗi quốc gia.
Tinh thần và ý tưởng chung trong chương trình nghị sự 21 của Việt nam (Vietnam
Agenda 21) là thực hiện và chuyển những chiến lược phát triển bền vững thành
những chương trình hành động cụ thể, khả thi và hiện thực, trong đó chương trình
hành động bảo vệ môi trường phải được lồng ghép trong chương trình, quy hoạch
phát triển kinh tế, xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch hạ tầng cơ sở, kiến trúc cảnh
quan, văn hoá của đất nước
Quy hoạch môi trường đang được quan tâm và chú trọng nhiều hơn trong
những năm gần đây, đã có nhiều nghiên cứu và báo cáo về các vấn đề lồng ghép
như lồng ghép đất đai, lồng ghép đói nghèo và môi trường, lồng ghép môi trường
vào quy hoạch phát triển.
Tuy nhiên trong phạm vi nhỏ hơn đó là lồng ghép sinh thái môi trường thì
chưa được rõ ràng và còn ít nghiên cứu, cần chỉ ra những chức năng sinh thái môi
trường nào quan trọng cần được lồng ghép vào quy hoạch phát triển KTXH. Nhận
thấy vai trò quan trọng của việc lồng ghép chức năng sinh thái môi trường vào trong

2
dự án quy hoạch, tôi chọn đề tài “Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường với
quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”.
Đề tài được thực hiện với các mục tiêu:
- Lựa chọn những chức năng sinh thái môi trường để lồng ghép vào Quy

tưởng hay một chủ đề có lựa chọn trong tất cả phạm vi của một lĩnh vực công việc
hay của một hệ thống. Việc lồng ghép là một quá trình lặp đi, lặp lại để thay đổi văn
hoá và thông lệ của các thể chế (cơ quan).
+ Hệ sinh thái là một tổ hợp động của các quần xã thực vật, động vật và vi
sinh vật và môi trường vô sinh của các quần xã đó, tương tác với nhau như một đơn

4
vị chức năng. Các HST không có ranh giới cố định; thay vào đó, các thông số của
các HST được đặt ra để xem xét vấn để khoa học, quản lý hoặc chính sách. Tuỳ
theo mục đích phân tích, một cái hồ duy nhất, một khu vực chứa nước hoặc toàn bộ
vùng, có thể là một HST.
+ Đánh giá tổng hợp HST là đánh giá điều kiện và các xu thế trong một
HST; các dịch vụ mà HST đó cung cấp (như nước sạch, thức ăn, lâm sản và kiểm
soát lũ); cũng như các phương án lựa chọn để phục hồi, bảo tồn hoặc tăng cường sử
dụng bền vững HST đó thông qua các phương pháp nghiên cứu lồng ghép giữa
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
+ Sinh thái môi trường là môn học thuộc ngành môi trường học. Nó nghiên
cứu mối quan hệ tương tác không chỉ giữa các cá thể sinh vật, mà còn giữa tập thể,
giữa cộng đồng với các điều kiện môi trường tự nhiên bao quanh nó.
+ Quy hoạch tổng thể phát triển KTXH vùng, lãnh thổ là luận chứng phát
triển KTXH và tổ chức không gian các hoạt động KTXH hợp lý trên lãnh thổ nhất
định trong một thời gian xác định.
- Lồng ghép chức năng sinh thái môi trường
Khi nói đến chức năng cần nhận rõ chức năng là các đối tượng, hiện tượng
được phát sinh, phát triển từ các đối tượng, hiện tượng có trước theo một quy luật tự
nhiên nhất định và theo các mục tiêu nhất định của con người. Chức năng sinh thái
của lãnh thổ sinh thái có đa chức năng mà trước hết là chức năng môi trường sống
tự nhiên và nhân tạo thuộc các thành phần cấu trúc lãnh thổ. Các chức năng của nền
địa chất, địa hình, đất, sinh vật, thủy văn, khí hậu đều là các chức năng môi trường
sống của con người và các hệ sinh vật. Con người và sinh vật sống nhờ nền địa chất,

đánh giá có ảnh hưởng của Ngân hàng thế giới cho thấy, hầu hết các báo cáo chiến
lược giảm đói nghèo được các nước nghèo nhất thông qua trong những năm 1990,
đã không nêu được đầy đủ sự đóng góp của môi trường đối với giảm đói nghèo và
tăng trưởng kinh tế.
Lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường vào các quyết định sử dụng các nguồn
lực trong hoạt động kinh tế, xã hội là cách thức bảo vệ môi trường có nguồn gốc từ
yêu cầu phát triển bền vững, nguyên tắc phòng ngừa trong bảo vệ môi trường và

6
nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào các quyết định có liên
quan tới môi trường.
Yêu cầu phát triển bền vững đến nay được coi là một trong những giá trị phổ
quát cần được đảm bảo bởi bất kỳ mô hình phát triển kinh tế nào trên thế giới. Phát
triển bền vững được Ủy ban thế giới về Môi trường và phát triển (WCED) định
nghĩa là “sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu của hiện tại, nhưng không gây
trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”. Yêu cầu phát triển bền
vững được hiểu một cách giản lược là yêu cầu phát triển kinh tế phải đi đôi với
việc bảo vệ thỏa đáng môi trường sinh thái. Điều này cũng có nghĩa rằng, mọi
hoạt động kinh tế, xã hội đều phải tính đúng, tính đủ các chi phí cho việc bảo vệ
môi trường. Nói cách khác, yêu cầu bảo vệ môi trường phải được tôn trọng trong
mọi hoạt động kinh tế, xã hội, mọi dự án sản xuất, tiêu thụ và phát triển.
Nguyên tắc phòng ngừa đòi hỏi giảm thiểu tối đa nguy cơ sản sinh ra tác
nhân làm thiệt hại đến môi trường (gây ô nhiễm, suy thoái môi trường) thay cho
việc xử lý các chất gây ô nhiễm đã được sản sinh từ quá trình sản xuất, sinh hoạt
của con người. Việc lồng ghép yêu cầu bảo vệ môi trường ngay từ giai đoạn ra
quyết định của con người sẽ góp phần giúp cho người ra quyết định cân nhắc đầy đủ
hơn lợi và hại từ quyết định của mình, tính tới các lợi ích môi trường để từ đó có
ứng xử phù hợp theo hướng giảm thiểu các hành vi gây hại cho môi trường.
Nguyên tắc đảm bảo sự tham gia của cộng đồng vào quá trình ra các quyết
định quan trọng liên quan tới môi trường đòi hỏi bất cứ khi nào một chủ thể có các

Từ năm 2007, Việt Nam đã chính thức tham gia WTO, chính thức tham gia
trên sân chơi quốc tế. Trong bối cảnh đó, trên phạm vi toàn quốc, chúng ta hiện nay
đang tập trung thực hiện bốn chương trình lớn mang tính toàn cầu:
i/ Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam (ban hành ngày 17 tháng 8 năm
2004)
ii/ Chương trình mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu đến năm 2020 (NTP-
RCC) (ban hành ngày 02 tháng 12 năm 2008)

8
iii/ Kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống và giảm nhẹ thiên
tai đến năm 2020 (KCQ) (ban hành ngày 29 tháng 9 năm 2009).
iv/ Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020
(ban hành ngày 20 tháng 3 năm 2014)
Đây có thể được xem như bốn chương trình/kế hoạch quan trọng nhất cho
Việt Nam trong thế kỷ 21 và để thực hiện một cách hiệu quả trong thực tế, cần phải
quán triệt sâu sắc cách tiếp cận lồng ghép/tích hợp:
 Trong chương trình Nghị sự 21 là yêu cầu tích hợp giữa ba lĩnh vực lớn
nhất: kinh tế, xã hội và môi trường và các hợp phần của nó trên đặc thù
văn hóa của các ngành, địa phương;
 Trong NTP – RCC và KCQ là tích hợp các nhiệm vụ và giải pháp vào tất
cả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển của các
bộ ngành và địa phương.
Tuy nhiên, theo tài liệu của nhóm nghiên cứu GS. TS. Lê Trọng Cúc [2010]
trên thực tế, ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới, phát triển, xóa đói giảm
nghèo và quản lý môi trường thường được xem là các mục tiêu tách biệt. Các tác
động tích lũy của chính sách, chương trình và dự án để đạt được các mục tiêu trung
hạn và ngắn hạn gây nên những tác động tiêu cực tới môi trường đất, nước, không
khí và gây ra hậu quả như ô nhiễm, biến đổi khí hậu, suy thoái đất và ảnh hưởng rất
lớn tới người nghèo. Nguyễn Quang và Howard Stewart (2005) đánh giá về lồng
ghép môi trường trong Chiến lược giảm nghèo toàn diện (CPRGS) của Việt Nam

hoạch và ra quyết định được Học viện Môi trường và Phát triển Anh Quốc (IIED)
thực hiện đánh giá ở 10 nước (như Tanzania, Zambia, Kenya, Phillipines, Việt
Nam). IIED đã tổng kết các nhóm thách thức chính cho việc lồng ghép môi trường,
bao gồm: phương thức phát triển kinh tế bằng mọi giá, thiếu cam kết chính trị, các
sáng kiến lồng ghép còn hạn chế, thiếu thông tin và dữ liệu về mối liên hệ giữa môi
trường – phát triển, năng lực và kỹ năng còn hạn chế. Đánh giá của IIED (2010)
trong một hội thảo giữa các chuyên gia và các bên liên quan trong 2 ngày để nhìn
nhận lại thành tựu và thách thức trong việc lồng ghép môi trường và phát triển ở ở
Việt Nam trong vòng 20 năm qua đã chỉ ra những thách thức như sau: (i) nhiều cơ

10
quan liên quan đến vấn đề môi trường nhưng thiếu sự phối kết hợp; (ii) đẩy mạnh
tăng trưởng kinh tế nhưng cản trợ sự lồng ghép môi trường; (iii) quá trình quy
hoạch thiếu sự phối kết hợp, không linh họa; (iv) trở ngại về văn hóa và ứng xử
trong việc lồng ghép môi trường. Đánh giá của IIED cũng nhận định rằng rất ít
quốc gia có giải pháp lồng ghép môi trường một cách hoàn hảo và đề xuất cần có
chiến lược lồng ghép môi trường ở các cấp độ và quy mô khác nhau
.

1.2. Khái quát điều kiện tự nhiên, KTXH khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
1.2.1.1. Vị trí địa lý
Mỹ Đức là một trong 14 quận, huyện mới của Hà Nội, có diện tích tự nhiên
23.146,93 ha, trung tâm huyện lỵ cách quận Hà Đông khoảng 38km, cách trung tâm
Hà Nội 54km về phía Tây. Mỹ Đức nằm giáp ranh giữa đồng bằng và miền núi, có
dãy núi đá vôi chạy dọc ở phía Tây nên có vị trí rất quan trọng về an ninh - quốc
phòng nên có thể coi Mỹ Đức là tuyến phòng thủ phía tây nam đối với Hà Nội.

11


kinh độ Đông, có ranh giới tiếp giáp sau:
Phía bắc giáp huyện Chương Mỹ (Hà Nội);
Phía đông giáp huyện Ứng Hòa (Hà Nội);
Phía tây giáp huyện Lương Sơn và huyện Kim Bôi (Hòa Bình);
Phía nam giáp huyện Kim Bảng (Hà Nam).
Về mặt kinh tế, Mỹ Đức có vị trí tương đối thuận lợi do ở gần các trung tâm
kinh tế và thị trường lớn như thủ đô Hà Nội, quận Hà Đông, khu công nghệ cao Hòa
Lạc và chuỗi đô thị mới Xuân Mai-Miếu Môn-Hòa Lạc-Sơn Tây.
1.2.1.2. Địa hình, địa mạo
Mỹ Đức nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ nhưng cũng là khu vực chuyển
tiếp giữa đồng bằng với miền núi với 2 dạng địa hình chính:
- Địa hình núi đá xen kẽ với các khu vực úng trũng, gồm 10 xã phía tây như
Hương Sơn, Hùng Tiến, An Tiến, An Phú, Đồng Tâm, Thượng Lâm, Tuy Lai, Hồng
Sơn, Hợp Tiến, Hợp Thanh. Độ cao trung bình so với mặt biển của dãy núi đá phía
tây huyện từ 150 - 300m, do phần lớn đá Kast bị nước xâm thực qua quá trình kiến
tạo lâu dài nên khu vực này hình thành hang động thiên nhiên đẹp có giá trị du lịch
và lịch sử như động Hương Tích, động Đại Binh, động Người Xưa…
Địa hình đồng bằng gồm 12 xã, thị trấn ven sông Đáy: Phúc Lâm, Mỹ
Thành, Bột Xuyên, An Mỹ, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu Tế, thị trấn Đại
Nghĩa, Đại Hưng, Vạn Kim, Đốc Tín, với độ cao trung bình từ 3,8 - 7m so với mặt
biển. Địa hình ở đây khá bằng phẳng và hơi dốc theo hướng từ đông sang tây, rất
thuận lợi cho việc xây dựng công trình thủy lợi tự chảy và dùng nguồn nước sông
Đáy tưới cho các cánh đồng lúa. Trong khu vực cũng có nhiều điểm trũng tạo thành
các hồ đầm nhỏ như Đầm Lai, Thài Lai…
Phần tiếp giáp giữa các dãy núi phía Tây và đồng bằng phía Đông là vùng có
độ cao địa hình thấp tạo thành các hồ chứa nước như hồ Quan Sơn, hồ Tuy Lai, hồ
Câu Giậm, hồ Bán Nguyệt v.v.

13
1.2.1.3. Khí hậu, thời tiết

Đáy và sông Thanh Hà.
Sông Đáy có chiều dài khoảng 240 km và lưu vực hơn 7.500km
2
(cùng với

14
phụ lưu sông Nhuệ) chảy qua các tỉnh thành: Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh
Bình và Nam Định. Sông Đáy là một phân lưu của sông Hồng tại Hát Môn - Phúc
Thọ và chảy qua nhiều huyện của tỉnh như Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức,
Chương Mỹ, Thanh Oai, Ứng Hòa và sang địa phận tỉnh Hà Nam. Đoạn sông Đáy
chảy qua Mỹ Đức có chiều dài 40km chạy dọc theo ranh giới phía đông với Ứng
Hòa, đi qua địa phận các xã: Phúc Lâm, Mỹ Thành, Bột Xuyên, An Mỹ, Lê Thanh,
Phùng Xá, Phù Lưu Tế, Đại Hưng, Vạn Kim, Đốc Tín, Hương Sơn. Trên địa phận
xã Hương Sơn, sông Đáy tiếp nhận dòng chảy của sông Thanh Hà và suối Yến từ
phía tả ngạn. Lưu vực sông trên địa bàn Mỹ Đức dài và hẹp, lòng sông quanh co
uốn khúc, nên động lực dòng chảy mạnh và thường gây ra hiện tượng sạt lở đất ven
bờ. Sông Đáy có vai trò quan trọng trong việc phân lũ cho sông Hồng, tiêu và tưới
nước cho hàng nghìn ha lúa và hoa màu của Mỹ Đức. Tuy nhiên, về mùa cạn sông
gần như không có dòng chảy nên việc cấp nước gặp rất nhiều khó khăn.
Do chảy qua nhiều địa bàn dân cư, sông Đáy phải tiếp nhận một lượng lớn
nước thải từ làng nghề và cộng đồng dân cư hai bên bờ sông. Từ năm 2003, sông
Đáy (cùng với sông Nhuệ) đã bị ô nhiễm trầm trọng do nước thải của các làng nghề
và bị coi là những con sông chết. Hiện nay, Chính phủ đã xây dựng dự án quản lý
lưu vực sông Nhuệ - Đáy, đầu tư xây dựng cụm công trình đầu mối sông Đáy, đưa
nước từ sông Hồng qua cổng Hiệp Thuận và hệ thống kênh dài 12km vào sông Đáy
tại cổng Cẩm Đinh, với mục đích làm sống lại dòng sông Đáy và tạo thành một khu
du lịch trên sông trong tương lai.
Đoạn sông Đáy chảy qua Mỹ Đức dài khoảng 40km,từ đầu huyện đến cuối
huyện, có vai trò quan trọng, với nhiều giá trị sử dụng về giao thông và môi trường
như: phân lũ cho sông Hồng, cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, công

mức trung bình của tỉnh (0,046ha/người) và thấp hơn mức trung bình của đồng bằng
sông Hồng (0,085 ha/người) - đây là yếu tố thúc đẩy huyện cần có quy hoạch vùng
sản xuất chuyên canh các cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
Về thổ nhưỡng, Mỹ Đức chủ yếu có các loại đất chủ yếu sau: đất phù sa
được bồi hàng năm; đất phù sa không được bồi hàng năm; đất phù sa có tầng loang
lổ đỏ vàng; đất phù sa glây; đất phù sa úng nước; đất than bùn; đất đen trên sản
phẩm bồi tụ của cacbonát; đất đỏ nâu trên đá vôi; đất đỏ vàng trên đá sét; đất nâu
vàng trên phù sa.

16
Bảng 1. Các loại đất huyện Mỹ Đức
TT Loại đất

hiệu
Toàn huyện
Diện tích
Tỷ lệ
(%)
1 Đất phù sa không được bồi P 5526,49

23,88

2 Đất phù sa được bồi Pb 211,79

0,91

3 Đất phù sa glây Pg 5115,24

22,10


13.149,17

56,81

11 Ao hồ 723,18

3,12

12 Núi đá 4335,25

18,73

13 Đất chuyên dùng (không khảo sát) 4939,40

21,34

Tổng diện tích tự nhiên

23.146,93

100,00

Nguồn: Phòng TNMT huyện Mỹ Đức
1.2.1.6. Khoáng sản
Nguồn khoáng sản chủ yếu của Mỹ Đức gồm đá vôi và than bùn, với trữ
lượng và vùng phân bố như sau.
- Than bùn phân bố rải rác trên 10 xã vùng núi, tập trung phần lớn ở các xã
Đồng Tâm, Thượng Lâm và vùng Hương Sơn với trữ lượng hàng trăm triệu tấn,
hiện nay hầu như chưa khai thác.
- Riêng mỏ than bùn Thượng Lâm có diện tích hơn 100ha nằm trong một

độ dân số là 7 người/ha.
Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chiếm 58,63%, công nghiệp - xây dựng
chiếm 16,6% và tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ chiếm 24,69%.
Đất đai vùng I thuộc vùng núi nên có nhược điểm là lầy thụt, chịu ảnh hưởng
của úng lụt nên hệ số sử dụng đất thấp khoảng 2 lần. Tuy nhiên, vùng I đã phát triển
sản xuất nông nghiệp cung cấp đủ lương thực cho nhu cầu tại chỗ, mặt khác đang

18
chuyển một phần diện tích gò đồi sang trồng cây ăn quả nhằm nâng cao kinh tế,
cung ứng rau xanh cho thị trường tại chỗ.
Vùng I đã tận dụng diện tích đất lâm nghiệp để khoanh nuôi bảo vệ, khai
thác rừng đã có sẵn, quy hoạch các loại cây thực phẩm có giá trị kinh tế của các xã
Hợp Tiến, Hồng Sơn, Tuy Lai. Vùng đang hình thành các vườn cây để phục vụ du
lịch sinh thái, du lịch trên núi Ngoài ra, vùng này còn có lợi thế trong phát triển
công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là chế biến phân bùn phục vụ cho
cây trồng.
Vùng II: gồm 12 xã, thị trấn vùng ven sông Đáy như: Phúc Lâm, Mỹ Thành,
Bột Xuyên, An Mỹ, Lê Thanh, Xuy Xá, Phùng Xá, Phù Lưu Tế, thị trấn Đại Nghĩa,
Đại Hưng, Vạn Kim, Đốc Tín. Đây là vùng có diện tích tự nhiên là 6.657,37ha
(chiếm 28,94% so với tổng diện tích toàn huyện), dân số 83,329 người (chiếm
47,88% dân số toàn huyện), với mật độ dân số cao nhất huyện là 13 người/ha.
Nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao (60,76%); công nghiệp TTCN - xây
dựng (15,3%) và dịch vụ, thương mại chiếm 23,94%.
Đây là vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhất cho phát triển trồng trọt,
chăn nuôi, phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa phục vụ thị trường trong huyện
và thị trường các đô thị lớn như Hà Nội và thành phố Hà Đông Bên cạnh đó,
vùng còn có điều kiện phát triển các cây hoa màu có giá trị hàng hóa như: dâu tằm,
lạc, đỗ tương, rau xanh với sản lượng lớn.
Về công nghiệp, vùng có nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp truyền
thống đang phát triển mạnh mẽ như: thêu, dệt, chế biến lâm sản, đồ mộc chiếm

kế hoạch, tăng 5,7% so cùng kỳ.
Cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến tích cực:
- Tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thuỷ sản: 34,6%;
- Tỷ trọng công nghiệp- XDCB: 27,2%;
- Tỷ trọng Thương mại - dịch vụ - du lịch: 38,2 %.
Thu nhập bình quân đầu người: 17,5 triệu đồng.
(1). Sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thuỷ sản:
Giá trị sản xuất các ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản được thể hiện trong
bảng sau:

20
Bảng 2. Giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy
sản huyện Mỹ Đức năm 2013
TT Ngành
Giá trị (tỷ
đồng)
So với kế
hoạch (%)
So với cùng
kỳ (%)
1 Nông nghiệp 475,7 100,5 103,2
2 Lâm nghiệp 0,9 128,6 180,0
3 Thuỷ sản 57,4 102,0 103,4
4 Tổng giá trị 534,0 100,7 103,3
Nguồn: Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức
- Trong ngành nông nghiệp: trồng trọt 277,1 tỷ đồng, chăn nuôi 198,6 tỷ
đồng, chiếm 41,75 % tỷ trọng ngành nông nghiệp.
- Tổng sản lượng lương thực quy thóc đạt: 106.397,47 tấn, bằng 100,6% so
cùng kỳ.
a. Trồng trọt: Tổng diện tích gieo trồng: 21.728,52 ha, bằng 111,6% so với

Trích đoạn Phân tích, đánh giá việc lồng ghép chức năng sinh thái môi trường vớ Lồng ghép thông qua các quá trình ra quyết định, các văn bản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status