Báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố đà nẵng đến năm 2020 - Pdf 13


UỶ BAN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
SỞ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN
BÁO CÁO
QUY HOẠCH TỔNG THỂ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
ĐẾN NĂM 2020

ĐÀ NẴNG, THÁNG 5 NĂM 2008
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
CHƯƠNG 1. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TP ĐÀ NẴNG THỜI KỲ 1997-2007
1. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN
LỰC VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 9
1.1. Vị trí địa lý 9
1.2. Địa hình 9
1.3. Khí hậu thuỷ văn 10
1.4. Tài nguyên thiên nhiên 10
1.4.1. Tài nguyên nước 10
1.4.2. Tài nguyên đất 10
1.4.3. Tài nguyên rừng 11
1.4.4. Tài nguyên biển và ven biển 11
1.4.5. Tài nguyên du lịch và di sản văn hoá 12
1.5. Tài nguyên nhân văn 12
1.6. Dân số và nguồn nhân lực 12
1.7. Đánh giá việc huy động các nguồn lực 14
2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI THỜI KỲ 1997-2007
14

1.1. Xu hướng hội nhập và hợp tác kinh tế quốc tế 55
1.2. Xu hướng phát triển khoa học và công nghệ trên thế giới 57
2. BỐI CẢNH TRONG NƯỚC VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH
TẾ - XÃ HỘI GIAI ĐOẠN 2001-2010 58
3. BỐI CẢNH KHU VỰC VÀ VÙNG LÂN CẬN 58
CHƯƠNG 3. QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ĐẾN NĂM 2020
1. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CHUNG 60
2. ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH GIAI ĐOẠN 2006-2010 60
2.1. Mục tiêu tổng quát 61
2.2. Một số chỉ tiêu cụ thể thời kỳ 2006-2010 đã được Thành ủy thông qua
62
2.3. Phương hướng điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010 63
2.3.1. Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô 63
2.3.2 Phát triển các ngành và lĩnh vực 66
- Dịch vụ 66
- Công nghiệp - xây dựng 67
- Thuỷ sản-nông-lâm 67
- Lĩnh vực xã hội 67
3. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN GIAI ĐOẠN 2010-2020 68
3.1. Mục tiêu tổng quát 68
3.2. Mục tiêu cụ thể 68
3.2.1. Về kinh tế 68
3.2.2. Về xã hội 68
3.2.3. Về môi trường 69
3.3. Các phương án phát triển 69
3.3.1. Phương án I 69
3.3.2. Phương án II 71
3
3.3.3. Phương án III 73

3.7.2. Dự báo các tác động môi trường trong thời kỳ quy hoạch 109
3.8. Danh mục các dự án đầu tư ưu tiên 110
CHƯƠNG 4. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ 111
1.1. Nhu cầu vốn đầu tư 111
1.2. Các giải pháp huy động vốn đầu tư 111
2. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP, DỊCH VỤ
114
2.1. Phát triển các sản phẩm công nghiệp chủ lực 114
4
2.2. Phát triển các loại hình dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ cao 115
3. GIẢI PHÁP VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC 116
4. GIẢI PHÁP VỀ KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ, MÔI TRƯỜNG 118
5. TĂNG CƯỜNG HỢP TÁC PHỐI HỢP VỚI CÁC TỈNH, THÀNH PHỐ
TRONG VÙNG 119
6. TĂNG CƯỜNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG 119
7. XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ 120
8. XÂY DỰNG ĐÀ NẴNG - THÀNH PHỐ MÔI TRƯỜNG 120
9. GIẢI PHÁP KHAI THÁC TUYẾN HÀNH LANG KINH TẾ ĐÔNG - TÂY
121
10. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 121
PHỤ LỤC1: HIỆN TRẠNG KT-XH TP. ĐÀ NẴNG 1996-1-2007 125
PHỤ LỤC2: CÁC DỰ ÁN ƯU TIÊN ĐẦU TƯ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG GIAI ĐOẠN 2007-2020 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
5
MỞ ĐẦU
Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng đến
năm 2010 được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định 113/2001/QĐ-
TTg ngày 30/7/2001. Qua hơn 7 năm triển khai thực hiện quy hoạch, thành phố

1. Mục tiêu xây dựng quy hoạch
Mục tiêu xây dựng quy hoạch đến năm 2020 là:
6
Đánh giá, xem xét quá trình huy động các nguồn lực nội sinh và ngoại
sinh của thành phố trong thời gian gần đây để điều chỉnh quy hoạch đến năm
2010 và xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố
đến năm 2020, làm cơ sở cho các địa phương, ngành, lĩnh vực xây dựng quy
hoạch, kế hoạch phát triển 5 năm và hàng năm.
2. Nội dung nghiên cứu
Với mục tiêu được xác định ở trên, dự án gồm các chương sau:
Chương 1: Phân tích đánh giá các nguồn lực và thực trạng phát
triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng thời kỳ 1997-2007
Mục tiêu của chương 1 nhằm:
- Phân tích, đánh giá những lợi thế, hạn chế về vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, tài nguyên nhân văn, dân số và nguồn nhân lực ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng.
- Phân tích đánh giá thực trạng kinh tế xã hội.
- Phân tích đánh giá những mặt làm được, những tồn tại, nguyên nhân.
Chương 2: Phân tích các yếu tố trong và ngoài nước tác động đến
phát triển kinh tế - xã hội thành phố
- Các xu thế vận động của thế giới ảnh hưởng tới phát triển kinh tế - xã
hội thành phố Đà Nẵng
- Chủ chương của Đảng và Nhà nước, của thành phố về vai trò của thành
phố Đà Nẵng trong tương lai
- Những thách thức đặt ra đối với thành phố Đà Nẵng trong tương lai.
Chương 3: Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội thành phố Đà Nẵng
đến năm 2020
Trên cơ sở phân tích đánh giá của chương 1 và chương 2; chương 3
nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau:
- Quan điểm, mục tiêu phát triển thành phố.

- Các dự án quy hoạch ngành đã được phê duyệt.
- Các định chế, lộ trình hội nhập của Tổ chức Thương mại thế giới WTO
và CEPT/AFTA, ASEAN…
8
CHƯƠNG 1.
PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ THỰC TRẠNG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Tp. ĐÀ NẴNG THỜI KỲ 1997-2007
1. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC
VÀO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
1.1. Vị trí địa lý
Đà Nẵng nằm ở 15
o
55

20

đến 16
o
14

10

vĩ tuyến Bắc, 107
o
18

30

đến
108

cơ sở công nghiệp và các công trình kinh tế - xã hội khác đã gần tới hạn và vấn
đề cấp nước cho sản xuất công nghiệp, dịch vụ đang có nhiều hạn chế.
Địa hình đồi núi chiếm diện tích lớn, phần lớn ở độ cao 700 - 1.500m,
độ dốc lớn (>40
o
), là nơi tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ
môi trường sinh thái của thành phố. Việc xây dựng có những thuận lợi về nền
móng công trình, song vẫn cần đầu tư lớn trong xử lý mặt bằng - xây dựng cơ
9
sở hạ tầng. Do đó cần tính toán thật hiệu quả trong bố trí phát triển các cơ sở
mới.
1.3. Khí hậu thuỷ văn
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nền nhiệt
độ cao và ít biến động. Khí hậu thành phố mang đặc thù của khí hậu nơi
chuyển tiếp giữa hai miền: miền Bắc và miền Nam nhưng nổi trội là khí hậu
nhiệt đới của miền Nam. Đà Nẵng có hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ tháng 8 đến
tháng 12) và mùa khô (tháng 1 đến tháng 7). Mùa mưa trùng với mùa bão lớn
nên thường có lũ lụt, ngập úng ở nhiều vùng; ngược lại mùa hè ít mưa, nền
nhiệt cao gây hạn, một số cửa sông bị nước mặn xâm nhập, gây ảnh hưởng
không tốt đến phát triển kinh tế và đời sống dân cư thành phố.
1.4. Tài nguyên thiên nhiên
Thành phố Đà Nẵng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa
dạng, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của thành phố.
1.4.1. Tài nguyên nước
Nguồn nước cung cấp cho thành phố Đà Nẵng chủ yếu từ các sông Cu
Đê, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, tuy nhiên nguồn nước này bị hạn chế do ảnh hưởng
của thuỷ triều (vào mùa khô, tháng 5 và 6). Các tháng khác nhìn chung đáp
ứng được yêu cầu phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân. Nước ngầm
của vùng khá đa dạng, các khu vực có triển vọng khai thác là nguồn nước
ngầm tệp đá vôi Hòa Hải - Hòa Quý ở chiều sâu tầng chứa nước 50-60m; khu

Sơn Trà 6.084,0 36,6 3.305,9 1.005,5 569,6 841,1
N.H.Sơn 3.661,5 1.106,9 174,4 843,8 509,5 434,0
Liên Chiểu 8.308,2 684,2 3.978,3 1.905,7 549,0 799,6
Cẩm Lệ 3.314,8 829,5 158,5 990,0 667,0 231,6
Hoà Vang 70.734,7 6.527,3 53.406,3 1.574,8 2 374,3 4.456,0
Hoàng Sa 30.500,0 - - 30.500,0 - -
Nguồn: Sở Tài nguyên Môi trường
Năm 2006, tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp toàn thành phố là
9.235,6ha, chiếm tỷ trọng 7,35% tổng diện tích đất tự nhiên, trong đó tập trung
chủ yếu tại huyện Hoà Vang với 6.517,6ha, các quận Liên Chiểu 693,2ha, Cẩm
Lệ 832,6ha và Ngũ Hành Sơn 1.125,1ha, còn lại các quận khác đất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng không đáng kể.
Đất lâm nghiệp chiếm diện tích lớn nhất trong tổng diện tích đất tự nhiên
của thành phố với 60.989,8ha (48,5%) và cũng tập trung lớn nhất tại huyện
Hoà Vang với 53.352ha (chiếm 87,5% tổng diện tích đất lâm nghiệp).
Đất chuyên dùng sử dụng vào các mục đích công nghiệp, xây dựng, thuỷ
lợi, kho bãi, quân sự chiếm 42.909,4ha (34,1%). Đất ở chiếm 4,4% tổng diện
tích đất tự nhiên với 5.561,4ha. Hiện tại diện tích đất chưa sử dụng của thành
phố là 6.958,3ha, chiếm 5,5% tổng diện tích.
Công tác qui hoạch sử dụng đất được chú trọng, thành phố hiện đã hoàn
thành việc tổng kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 và
báo cáo điều chỉnh quy hoạch đến năm 2010.
1.4.3. Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp thành phố đến năm 2006 là 60.988,7ha, chiếm
diện tích lớn nhất (48,5%) trong tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố. Diện
tích rừng đặc dụng: 36.658,4ha; rừng phòng hộ: 9.823,7ha; rừng sản xuất:
14.506,6ha. Đất rừng tự nhiên tập trung chủ yếu phía tây huyện Hoà Vang, một số
ít ở quận Liên Chiểu, Sơn Trà. Tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2007 là 42,7%,
phân bố chủ yếu ở nơi có độ dốc lớn, địa hình phức tạp.
Rừng của thành phố ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ

bàn thành phố nhiều luồng văn hoá đặc sắc có sức thu hút khách du lịch trong và
ngoài nước đến thăm quan, tạo cơ hội để thành phố phát triển kinh tế theo hướng
đa dạng.
1.6. Dân số và nguồn nhân lực
Dân số trung bình của Đà Nẵng năm 1997 là 672,5 nghìn người, đến năm
2007 là 806,7 nghìn người, tăng thêm 134,4 nghìn người trong giai đoạn 1997-
2007 (tương đương với dân số một quận) và đạt tốc độ tăng dân số bình quân
1,9%/năm, giai đoạn 2001-2005 là 1,7%/năm, cao hơn mức tăng của cả nước
(1,3%).
Tốc độ đô thị hoá nhanh nên tỷ lệ tăng dân số cao và mật độ dân số cũng
tăng theo, từ 535 người/km
2
/1997 lên 631 người/km
2
/2006 (mật độ dân số toàn
miền Trung đạt 203 người/km
2
và cả nước là 256 người/km
2
). Dân số phân bố
không đều giữa các quận, huyện; quận tập trung đông dân cư gồm quận Hải
Châu, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn và đặc biệt là quận Thanh Khê có mật độ dân
số/km
2
cao nhất thành phố. Các quận, huyện ngoại thành do điều kiện địa hình,
vị trí địa lý không thuận lợi nên dân cư khá thưa thớt, năm 2006 mật độ dân số
hai quận, huyện ngoại thành chỉ đạt 150 người/km
2
, thấp hơn rất nhiều so với
các quận nội thành.

5,42% năm 1997 ước còn 5,02% vào năm 2007, và được đánh giá là ổn định,
hợp lý đối với một đô thị đang trên đà phát triển. Công tác giải quyết việc làm
được phối hợp chặt chẽ với đào tạo nghề, chuyên môn nghiệp vụ cho người lao
động. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo tăng từ 21,6% năm 1997 lên 24,4% năm
2000 và 45,7% năm 2007, tăng hơn 2 lần so với năm 1997. Tỷ lệ lao động có
tay nghề, kỹ thuật tăng tương ứng từ 13,3% lên 15,4% và 28,3%.
Thành phố đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hoá, xuất hiện và phát triển các ngành công nghiệp gia công, chế biến ở
dạng thô, cơ khí lắp ráp… yêu cầu đòi hỏi lực lượng lao động phần lớn là lớp
trẻ, có sức khoẻ. Song, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và trình độ nguồn nhân
lực được nâng lên và cao hơn so với tỷ lệ bình quân của khu vực cũng như cả
nước (cao gấp 2,9 lần khu vực Nam Trung bộ và 2,6 lần cả nước).
13
1.7. Đánh giá việc huy động các nguồn lực
Qua phân tích, đánh giá việc huy động các nguồn lực của thành phố Đà
nẵng, có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Điều kiện tài nguyên khoáng sản của thành phố Đà Nẵng không nhiều,
song thành phố đã huy động hiệu quả các nguồn tài nguyên vào quá trình sản
xuất như: nguồn tài nguyên đá vôi phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng, tài
nguyên nước phát triển thuỷ điện .
- Đất đai của thành phố không nhiều song có cả đồng bằng, vùng núi,
vùng ven biển nên đã tận dụng điều kiện địa hình đa dạng để “lấn biển, nối dài
dòng sông” phát triển đa ngành nghề như: Hạ tầng giao thông, dịch cụ, trồng
trọt, chăn nuôi, du lịch, thuỷ sản v.v và đặc biệt trong thời gian qua thành phố
đã sử dụng chính sách khai thác quỹ đất để phục vụ phát triển cơ sở hạ tầng
KT-XH.
- Kinh tế biển đang trở thành một trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn
của thành phố Đà Nẵng
- Là trung tâm của khu vực, có nhiều trường Đại học và Cao đẳng,
Trung học dạy nghề.

nghiệp - xây dựng tăng 15,4% và dịch vụ tăng 8,1% với tỷ trọng ngành công
nghiệp - xây dựng trong GDP tăng từ 35,2% năm 1997 lên 41,3% vào năm
2000. GDP bình quân đầu người năm 2000 đạt trên 430 USD/người, tăng gấp
1,45 lần so với năm 1997 (300 USD/người). Giá trị sản xuất công nghiệp - xây
dựng tăng bình quân 17,7%/năm; giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng bình
quân 8,5/năm.
Giai đoạn 2001-2005: Từ năm 2001, thành phố từng bước phát huy các
nhân tố của cơ chế mới, huy động các nguồn lực đầu tư, thúc đẩy phát triển sản
xuất, vượt qua những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, khắc phục hậu quả
thiên tai… đưa kinh tế tăng trưởng mạnh trở lại với tốc độ tăng GDP đạt trên
12%, trong 2 năm liên tiếp (2001: 12,2%; 2002: 12,6%).
Năm 2003, với vị thế mới là đô thị loại I theo Quyết định 145/2003/QĐ-
TTg ngày 15/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ, tiếp theo đó là Nghị quyết 33-
NQ/TW ngày 16/10/2003 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển thành
phố Đà Nẵng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hóa”, thành phố đã triển
khai xây dựng và thực hiện các chương trình hành động theo Nghị quyết 33-
NQ/TW, thành phố Đà Nẵng đã đẩy mạnh vai trò là thành phố động lực lan tỏa
trong khu vực miền Trung - Tây Nguyên, từng bước hoàn thiện môi trường đầu
tư, môi trường sản xuất kinh doanh theo hướng mở và nâng cao năng lực cạnh
tranh trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy, mặc dù dịch SARS, dịch
cúm gia cầm bùng phát, giá các vật tư, nguyên, nhiên liệu thiết yếu như xăng
dầu, sắt, thép biến động tăng, ảnh hưởng đến các ngành sản xuất, xuất khẩu và
du lịch… nhưng kinh tế thành phố vẫn tiếp tục tăng trưởng liên tục trên 2 con
số, năm sau cao hơn năm trước (2003: 12,62%; 2004: 13,2%; 2005: 13,8%).
Kết quả các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của thành phố đều đạt và
vượt kế hoạch đã đề ra trong giai đoạn 2001-2005. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
đạt bình quân 12,9%/năm, tăng 2,7% so với thời kỳ 1997-2000. Trong đó: công
nghiệp - xây dựng tăng 18,9%, thủy sản - nông - lâm tăng 6,2% và dịch vụ tăng
8,3%.
Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 19%/năm, trong đó: công

1. Dân số trung bình 10
3
ng 657,3 672,5 716,3 781,0 792,9 806,7 1,7 1,9
2.GDP(giá SS1994) Tỷ đg 2.298,0 2.589,8 3.390,2 6.214,3 6.776,2 7.658,9 12,9 11,6
Trong đó:
- Tsản - nông - lâm “ 244,9 252,2 276,3 373,5 333,6 346,8 6,2 3,2
- Công nghiệp - XD “
760,
9
928,1 1.347,9 3.207,4 3.248,4 3.657,2 18,9 15,3
- Dịch vụ “ 1.292,1
1.409,
6
1.766,0 2.633,4 3.194,2 3.654,9 8,3 9,9
3.GDP/người(GTT) 10
6
đg 4,27 4,77 6,91 14,97 16,23 18,84 16,7 14,4
Nguồn: Sở Kế hoạch & Đầu tư Đà Nẵng, Niên giám thống kê thành phố
2.2. Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997-2007 có sự chuyển dịch đáng kể theo
hướng giảm tỷ trọng ngành thủy sản - nông - lâm, tăng tỷ trọng ngành công
nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Năm 1997, ngành thủy sản - nông - lâm chiếm
9,7% trong GDP, ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 35,2% và ngành dịch
vụ có tỷ trọng lớn nhất với 55,1%. Đến năm 2007 tỷ trọng các ngành trong
16
GDP lần lượt là: công nghiệp - xây dựng 46,9%, dịch vụ 49,1% và thủy sản -
nông - lâm 4,1%.
Bảng 4: Cơ cấu kinh tế của thành phố Đà Nẵng
Đơn vị:
%

2004-2007 và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển và chiếm khoảng 7-8%
GDP, song là khu vực luôn giữ mức tăng trưởng cao, đóng góp tích cực vào tăng
trưởng kinh tế thành phố, mở rộng thị trường xuất khẩu và trong nước, thúc đẩy
các hoạt động dịch vụ phát triển, tăng thu ngân sách, tiếp cận và đổi mới công
nghệ nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.
17
Cơ cấu kinh tế tuy có sự chuyển dịch tích cực, song chưa tạo ra tiền đề cho
tăng tốc. Nhận định này dựa trên số liệu thống kê cho thấy tỷ trọng công nghiệp
và xây dựng liên tục tăng từ 35,2% lên 46,9%, trong khi tỷ trọng dịch vụ lại
giảm từ 55,1% xuống 49,1%. Đây là dấu hiệu chưa hợp lý, chất lượng ngành
dịch vụ phát triển chậm, chưa đáp ứng nhu cầu hội nhập. Đặc biệt là vai trò của
thành phố Đà Nẵng là động lực cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
(NQ33), nhưng cũng chưa phát huy được hiệu quả.
2.3. Hiện trạng phát triển các ngành và các lĩnh vực
2.3.1. Công nghiệp - xây dựng
Giai đoạn 1997-2007, tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp - xây dựng
đạt bình quân 15,3%/năm và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP
toàn thành phố. Năm 1997 ngành công nghiệp - xây dựng đạt 928,1 tỷ đồng
(giá so sánh 1994), đến năm 2000 là 1.347,9 tỷ đồng, tăng gấp 1,45 lần năm
1997 và năm 2007 là 3.657,2 tỷ đồng, tăng gấp 3,94 lần.
Công nghiệp: Là một trong những ngành chủ lực của thành phố và luôn
có giá trị sản xuất tăng cao hàng năm. Trong đó ngành công nghiệp chế biến
chiếm tỷ trọng cao trên 90% giá trị sản xuất toàn ngành. Trong thời kỳ đổi mới
các cơ sở sản xuất công nghiệp tăng rất nhanh, nhất là khối dân doanh. Ngành
công nghiệp cũng là ngành tiên phong trong quá trình sắp xếp, sáp nhập, giải
thể và cổ phần hóa. Chính vì vậy mà trong giai đoạn 1997-2007 công nghiệp
nhà nước do địa phương quản lý giảm dần cả về quy mô và cơ cấu trong gía trị
sản xuất, đó là điểm mới và dám đổi mới ở Đà Nẵng. Tuy vậy, công nghiệp
thành phố cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của khủng hoảng
tài chính, tiền tệ khu vực, thế giới vào giữa năm 1997 và của thiên tai, dịch

Về nội bộ ngành: công nghiệp khai thác tăng nhẹ từ 0,4% năm 1997 lên
0,6% năm 2000 và trên 1,2% vào năm 2007; công nghiệp chế biến tăng từ
92,5% lên 94,4% và 95,6%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện - nước
giảm từ 7,1% xuống còn 5% và 3,2%.
Trong nội bộ ngành công nghiệp chế biến cũng có sự biến đổi. Các phân
ngành đang có xu hướng giảm tỷ trọng là công nghiệp chế biến thực phẩm - đồ
uống; chế biến gỗ - lâm sản; công nghiệp da giày và công nghiệp sản xuất sản
phẩm từ khoáng phi kim loại. Phân ngành hóa chất - cao su nhựa tăng giảm
không đều (tăng nhanh trong năm 2002, 2003 nhưng sang năm 2004 bắt đầu
giảm nhẹ). Các phân ngành có xu hướng tăng nhanh tỷ trọng trong cơ cấu giá
trị sản xuất công nghiệp là ngành may mặc, ngành cơ khí - luyện kim và sản
xuất máy móc- thiết bị điện - điện tử. Tỷ trọng của phân ngành sản xuất
giường, tủ, bàn, ghế (chủ yếu là các sản phẩm bằng gỗ để xuất khẩu) và các
ngành công nghiệp khác (chủ yếu là sản xuất đồ chơi, nến cao cấp…) cũng có
xu hướng tăng dần.
Sản phẩm chủ lực hiện nay của ngành công nghiệp thành phố là: thuỷ
sản đông lạnh, dệt - may mặc, lốp ôtô, ximăng, da giày. Bên cạnh đó một số
sản phẩm khác tuy còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn nhưng có nhiều tiềm năng
phát triển thành các sản phẩm công nghiệp chủ lực như: thiết bị điện, điện tử,
linh kiện điện tử - tin học, cơ khí, kim khí, đóng tàu, sản xuất lắp ráp ôtô, xe
máy; đồ uống (bia các loại, các sản phẩm từ sữa); sợi các loại Thị trường
xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp không ngừng mở rộng, cơ cấu mặt hàng
ngày càng phong phú đa dạng, tập trung vào các mặt hàng như: thuỷ sản, dệt
may, giày, đồ chơi trẻ em, nến cao cấp, dăm gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ Kim
ngạch xuất khẩu sản phẩm công nghiệp tăng liên tục qua các năm, năm 2007
đạt 300 triệu USD, chiếm 64,9% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá toàn
thành phố, tăng gấp 8,6 lần so với năm 1997 (35,14 triệu USD).
Tổng vốn đầu tư cho ngành công nghiệp thời kỳ 1997- 2007 đạt trên
19
18.157 tỷ đồng, cơ cấu nguồn vốn của các thành phần kinh tế cũng có sự

khu vực, kể cả các hoạt động về tư vấn, hoạt động khoa học kỹ thuật Nhìn
chung với nhiều ưu thế của mình thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt vai trò
cung ứng các loại dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế.
Các ngành dịch vụ của thành phố ngày càng phát triển đa dạng, đóng
góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của thành phố và từng bước đáp ứng nhu
cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Tỷ lệ đóng góp của các ngành dịch vụ trong GDP
của thành phố luôn đạt xấp xỉ 45% trở lên với tốc độ tăng trưởng GDP dịch vụ
bình quân giai đoạn 1997-2007 là 9,9%/năm. Tốc độ tăng giá trị sản xuất dịch
vụ bình quân thời kỳ 1997-2007 đạt 11,37%/năm, giai đoạn kế hoạch 2001-
20
2005 là 11,42% (kế hoạch đề ra: 12-13%).
Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội trên địa bàn thành phố thuộc khối dịch
vụ cho thấy, ngành thương mại chiếm tỷ trọng 31,1% năm 1997, tăng lên
36,7% năm 2000 và giảm còn 27% năm 2007. Theo thứ tự mốc thời gian trên,
lĩnh vực du lịch, khách sạn nhà hàng là: 13,2% - 12,3% và 26,7%; lĩnh vực vận
tải, kho bãi, thông tin liên lạc là: 13,6% - 13,9% và 11,7%.
Bảng 7: Cơ cấu ngành thuộc lĩnh vực dịch vụ
Đơn vị: %
1997 2000 2006
Toàn ngành dịch vụ: 100 100 100
Thương nghiệp 31,08 36,65 26,68
Du lịch, khách sạn nhà hàng 13,19 12,34 26,84
Vận tải, kho bãi, TTLL 13,63 13,90 11,72
Tài chính, tín dụng 6,58 6,23 7,18
Thuế nhập khẩu 13,5 10,39 2,53
Các lĩnh vực khác 28,6 20,49 24,43
Nguồn: Niên giám thống kê Đà Nẵng 10 năm thành tựu
Thương mại là lĩnh vực có bước phát triển nhanh và khá toàn diện. Tỷ
trọng GDP thương mại luôn chiếm trên 25% tổng GDP khối dịch vụ. Hoạt
động nội thương sôi nổi, tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng từ 2.634 tỷ

lượng hàng xuất khẩu từng bước được nâng lên. Một số mặt hàng xuất khẩu tăng
khá, nhất là các mặt hàng chủ lực như: hải sản đông lạnh, sản phẩm may mặc,
xăm lốp ôtô, giày da, đồ chơi trẻ em v.v ; tăng tỷ trọng các mặt hàng chế biến,
giảm tỷ trọng các sản phẩm thô. Đến nay các sản phẩm công nghiệp của thành
phố đã có mặt tại gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Cơ cấu thị
trường tương đối ổn định, khu vực châu âu (EU) chiếm tỷ trọng 28,2%; Mỹ:
24,8%, Nhật Bản: 16,8% và các thị trường khác: 30,2%. Các doanh nghiệp thuộc
tất cả các thành phần kinh tế đều chú trọng việc tìm kiếm thị trường mới, thực
hiện phương châm “đa dạng hóa thị trường xuất khẩu”, là cơ sở để phòng ngừa
rủi ro ở các thị trường truyền thống; nhiều thị trường mới được mở rộng như:
Dominica, Togo, Congo, Gana, Sirya, Ruanda, các nước SNG và các nước Đông
Á khác.
Giai đoạn 1996-2000, thành phố chỉ xuất khẩu hàng hoá nhưng đến năm
2001 đã bắt đầu xuất khẩu các loại hình dịch vụ và không ngừng phát triển đa
dạng về ngành nghề, lĩnh vực, góp phần tạo ra sự năng động của thị trường
thành phố. Kim ngạch xuất khẩu dịch vụ liên tục tăng, năm sau cao hơn năm
trước; năm 2001, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 7,6 triệu USD, chiếm 2,8% tổng
kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thì năm 2007 ước đạt 295 triệu USD, chiếm
39%, đạt tốc độ tăng bình quân 84,1%/năm.
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu thành phố Đà Nẵng
Năm
Đà Nẵng
(Triệu USD)
Cả nước
(Tỷ USD)
Tỷ trọng so
cả nước (%)
1997 154,6 9,2 1,68
1998 169,1 9,7 1,74
1999 186,5 11,5 1,62

góp phần tạo nên nền tảng cho sự phát triển của ngành du lịch trong những
năm tới. Nhiều dự án du lịch, các khách sạn, nhà hàng lớn và cao cấp được đưa
vào khai thác, góp phần tạo sức hấp dẫn mới để thu hút du khách như: Bảo
tàng nghệ thuật điêu khắc Chămpa, Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn, Làng nghề
truyền thống điêu khắc đá Non Nước, đường du lịch ven biển Nguyễn Tất
Thành, Sơn Trà - Điện Ngọc, các dự án du lịch tại bán đảo Sơn Trà và ven
biển, khách sạn Furama, Bến Thành - Non Nước, Bamboogreen, Golden Sea,
Minh Toàn, khu du lịch Bà Nà - Suối Mơ, Suối Lương, Biển Đông, Sandy
Beach
Dịch vụ vận tải: hiện nay dịch vụ vận tải đã tương đối đáp ứng được nhu
cầu giao lưu hàng hoá và đi lại của nhân dân thành phố. Tốc độ tăng khối lượng
luân chuyển hàng hoá bình quân giai đoạn 1997-2007 đạt 12%/năm, khối lượng
luân chuyển hành khách đạt 3,5%/năm và khối lượng hàng hoá qua cảng bình
quân đạt 10,7%/năm. Thành phố đã hoàn thành việc di dời bến xe Trung tâm và
từng bước đưa vào khai thác và phát triển các dịch vụ vận tải công cộng như: xe
bus, taxi Trật tự vận tải được duy trì và bảo đảm.
Dịch vụ bưu chính viễn thông: thành phố Đà Nẵng là một trong ba đầu
mối mạng bưu chính, viễn thông quốc gia, nơi tập trung mạng lưới, thiết bị bưu
chính, viễn thông tại miền Trung, điểm trung chuyển lưu lượng viễn thông liên
tỉnh và quốc tế. Điều này tạo cho thành phố Đà Nẵng có cơ sở hạ tầng bưu
23
chính, viễn thông khá hoàn thiện, thúc đẩy phát triển thị trường bưu chính, viễn
thông đa dạng, phong phú về dịch vụ. Là một trong những ngành phát triển
nhanh trong các năm qua, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm của ngành
dịch vụ bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin trên địa bàn thành phố
giai đoạn 2001-2005 là 46,6%. Tốc độ tăng doanh thu bình quân giai đoạn
1997-2007 đạt 28,3%/năm. Về bưu chính có 80 bưu cục với 266 điểm phục vụ
trên toàn địa bàn thành phố. Mạng lưới viễn thông ngày càng phát triển hiện
đại, thị trường được mở rộng và sôi nổi với sự tham gia của nhiều doanh
nghiệp, không ngừng gia tăng mức độ cạnh tranh, nâng cao chất lượng phục vụ

xuất ngành nông nghiệp bình quân giai đoạn 1997-2007 đạt 4,9%/năm và trong
thời kỳ 2001-2005, tăng bình quân 5,9%/năm. Cơ cấu ngành nông nghiệp
24
chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng trong cơ cấu GDP, năm 1997 GDP
ngành nông nghiệp chiếm 9,7% tổng GDP toàn thành phố, đến năm 2000 giảm
xuống còn 7,9% và 3,9% năm 2007. Cơ cấu nội bộ ngành cũng đã chuyển dịch
đáng kể theo hướng tích cực, phù hợp với định hướng phát triển của thành phố:
tỷ trọng giá trị sản xuất ngành thuỷ sản tăng từ 42,8% năm 1997 lên 63,5%
năm 2007, tốc độ tăng bình quân đạt 10%/năm.
Đà Nẵng có bờ biển dài 92 km, có vùng lãnh hải thềm lục địa độ sâu
200m từ Đà nẵng trải ra 125 km tạo thành vành đai nước nông rộng lớn, do đó
ngành thuỷ sản được xác định là mũi đột phá trong sản xuất Thuỷ sản nông lâm.
Phát triển và khai thác hải sản theo hướng vươn khơi, thành lập các đội tàu đánh
bắt xa bờ. Việc cải hoán và đóng mới tàu thuyền công suất lớn tăng lên đáng kể.
Tuy nhiên trong thời gian qua thành phố đã phải gánh chịu nhiều cơn bão lớn,
đặc biệt là bão Chanchu và Xangsane đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống các
ngư dân trên địa bàn. Tốc độ tăng sản lượng hải sản khai thác bình quân giai
đoạn 1997-2007 đạt 6,7%/năm. Nhiều công trình, kết cấu hạ tầng, dịch vụ được
đầu tư nâng cấp và xây dựng mới đã đảm bảo phục vụ tốt cho nghề cá của thành
phố và khu vực. Hoạt động nuôi trồng thủy sản khá, từng bước hình thành các
vùng nuôi cá bán thâm canh và thâm canh; đồng thời đa dạng nhiều đối tượng
nuôi có hiệu quả kinh tế cao như cá rôphi đơn tính, cá lóc bông, cá rô đồng, cá
chình, baba, ếch Tốc độ tăng sản lượng nuôi trồng đạt bình quân 12%/năm
trong giai đoạn 1997-2007.
Sản phẩm nông nghiệp chính của thành phố là lúa với diện tích gieo
trồng chiếm trên 55% tổng diện tích đất nông nghiệp. Cơ cấu cây trồng thời
gian qua đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng diện tích cây thực phẩm, đặc
biệt là rau các loại. Năm 1997 chỉ có 5,5% diện tích trồng cây thực phẩm, đến
năm 2007 đạt 13,7%, đạt tốc độ tăng bình quân 3,1%/năm trong khi tổng diện
tích đất gieo trồng toàn thành phố giảm bình quân 5,6%/năm do quá trình đô


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status