Đề cương ôn tập cuối kì môn quản lý khoa học và công nghệ - Pdf 35

Bài làm:
Câu 1: giai đoạn triển khai là giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong vai trò
cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất, nó bao gồm 3 khâu: prototype (tạo sản phẩm mẫu),
pilot (sản xuất thử) và khâu sản xuất ở sê-ri số 0.
Với vai trò cầu nối của mình, giai đoạn triển khai mặc dù đầy rủi ro nhưng có thể
nói nó là phương tiện quan trọng và duy nhất để kết nối kết quả nghiên cứu khoa học vào
sản xuất đời sống. Trong giai đoạn triển khai, nhà nghiên cứu sử dụng kết quả của nghiên
cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng để đưa ra đời hình mẫu về sản phẩm, quy trình để
sản xuất sản phẩm mẫu đồng thời tiến hành sản xuất thử loạt nhỏ (sê-ri số 0) để kiểm tra
tính khả thi và độ tin cậy của quy trình trước khi đưa vào sản xuất đại trà.
Nếu như không có giai đoạn triển khai trong nghiên cứu thì các kết quả nghiên cứu
khoa học trước đó (nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu triển khai) sẽ không có giá trị và
không thể ứng dụng vào sản xuất bởi một kết quả nghiên cứu cơ bản chỉ là những nghiên
cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái của sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ bản
có thể là các khàm phá, phát hiện, phát minh, dẫn đến hình thành một lý thuyết mới nhằm
thỏa mãn nhu cầu nhận thức của con người về hiện tượng, sự vật xung quanh. Ví dụ như
Darwin với thuyết tiến hóa; Einstein với lý thuyết tương đối; các nhà sử học đưa ra một
tổng kết lịch sử, đánh giá một triều đại; các nhà xã hội học phát hiện ra các quy luật về
xung đột xã hội... trong khi đó nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng quy luật được phát
hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích một sự vật hoặc tạo ra những nguyên lý mới về
các giải pháp, ví dụ như nghiên cứu sử dụng các biện pháp kinh tế để giảm thiểu dòng di
dân từ nông thông ra thành thị. Các kết quả nghiên cứu này dù đã được công nhận nhưng
chưa thể áp dụng vào sản xuất vì nó chỉ là các kiến thức thông thường và chưa có giá trị
thực tiễn vì vậy phải đợi đến khâu triển khai với vai trò cầu nối thì các tri thức khoa học
này mới được áp dụng vào thực tiễn sản xuất và sinh hoạt.
Hoạt động triển khai gồm 3 khâu:
Tạo vật mẫu (prototype): là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu
mà chưa quan tâm đến quy trình tạo sản phẩm và thường được tiến hành phòng thí
nghiệm, nhà kính, larbol công nghiệp. Ví dụ như Apple đã bắt đầu thực hiện dự án
iPhone vào khoảng mùa hè năm 2004 trước khi công bố thiết bị vào tháng 1/2007. Trong
3 năm đó, nhiều bản vẽ mẫu đã được đưa ra và họ đã chon ra những mẫu ưng ý nhất để

phẩm đó mang lại. Ta có thể lấy một ý tưởng khoa học như là đối với các khu vực thiếu
năng lượng và không có khả năng tiếp cận với nguồn điện trong khi nguồn bức xạ mặt
trời lớn, các nhà nghiên cứu R&D của Panasonic đã cho ra đời mẫu sản phẩm đèn LED
công suất lướn chạy bằng năng lượng mặt trời, đồng thời có thể hoạt động như một sạc
pin cho các thiết bị điện tử nhỏ. Đây được coi là sản phẩm rất hữu ích ở những khu vực
thiếu thốn nguồn điện. Theo Panasonic, loại đèn này có kích thước nhỏ chỉ cao khoảng
15cm, phù hợp đặt trên bàn hoặc mang theo bên người. Các bộ phận của đèn gồm một
tấm pin năng lượng mặt trời, các bóng đèn LED công suất chiếu sáng khoảng 10
lumem/watt và một cục pin sạc kết nối qua cổng USB. Bên cạnh công dụng chiếu sáng
vào ban đêm, chiếc đèn có thể đóng vai trò như nguồn điện cho những thiết bị điện tử
nhỏ như chiếc điện thoại di động và máy tính xách tay. Chiếc đèn được hi vọng sẽ thay
thế cho đèn dầu hiện đang được sử dụng tại các vùng chưa có điện trên thế giới.
Panasonic dự kiến sẽ trưng bày mẫu đèn này tại Hội thảo quốc tế Tokyo lần thứ 5 về phát
triển châu Phi diễn ra đầu tháng 6 này, sau đó tung ra thị trường vào mùa Thu năm nay.
Như vậy với việc đề ra ý tưởng nghiên cứu về một loại đèn LED sử dụng năng lượng mặt
trời, đội ngũ kỹ thuật của hãng này đã tiến hành triển khai tạo ra mẫu sản phẩm và tìm
kiếm quy trình sản xuất đồng thời tiến hành sản xuất thử ở khâu sê-ri số 0, có thể nói nếu
không có 3 khâu này thì vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất sẽ không được triển
khai. Nếu chỉ có ý tưởng về một loại đèn LED sử dụng năng lượng mặt trời mà không
đưa ra mẫu thiết kế về loại bóng đèn này thì nghiên cứu cũng vẫn chỉ dừng lại ở nghiên
cứu và không thể đưa vào sản xuất và cũng không thể từ đó mà tiến hàng làm pilot cho
sản phẩm này và nếu không có quy trình sản xuất thì ta cũng không thể tạo ra các sản
phẩm ở sê-ri số 0 để kiểm tra tính khả thi của sản phẩm công nghệ để từ đó tiến hành sản
2


xuất đại trà. Có thể nói ba khâu trong giai đoạn triển khai có mối quan hệ mắt xích với
nhau, khâu trước là tiền đề để tiến hành khâu tiếp theo, và với nhiệm vụ của mình, các
khâu tạo prototype, làm pilot và sản xuất thử ở sê-ri số 0 đã giúp giai đoạn triển khai thực
hiện vai trò của mình, đưa các nghiên cứu khoa học ở dạng thuần tùy và nghiên cứu ứng

trò cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất nhất là khâu sản xuất thì loạt nhỏ vì chỉ khi chất
lượng sản phẩm ở khâu sản xuất thử sê-ri 0 được kiểm nghiệm về độ tin cậy của quy trình
sản xuất cũng như tính khả thi về mặt kỹ thuật, tính khả thi về mặt kinh tế, tính khả thi về
mặt môi trường, khả thi thị trường,... thông thường khi sản xuất ra một số lượng sản
phẩm mới đời đầu, nhà sản xuất thường sản xuất với số lượng nhỏ để tung ra thị trường
cho người tiêu dùng dùng thử, tuy nhiên đây chỉ là sản phẩm mẫu nhằm xem xét phản
ứng của thị trường với sản phẩm của doanh nghiệp.
3


Có thể lấy ví dụ như là với sản phẩm giống lúa AC5 do các nhà khoa học của bộ
môn Công nghệ sinh học thuộc Viện cây lương thực và thực phẩm, sau khi tiến hành thử
nghiệm gieo trồng ở một số cánh đồng ở khu vực đồng bằng sông Hồng, giống lúa AC5
cho năng suất cao với chất lượng tốt, thời gian sinh trưởng ngắn (110-115 ngày), năng
suất khá cao, ổn định (55-65 tạ/ha), với đặc điểm thân cứng, chịu thâm canh, chống đổ
tốt, đặc biệt có khả năng chống chịu với sâu bện và điều kiện bất lợi. Sau khi giống lúa
được lai tạo thành công trong phòng thí nghiệm và tiến hành sản xuất theo quy trình tại
viện đã cho kết quả khả quan và sau đó là cho sản xuất thử nghiệm để thẩm định lại chất
lương lúa và năng suất cũng như là các đặc điểm sinh học của giống có thích ứng với
điều kiện tự nhiện của vùng hay không trước khi đưa vào làm giống lúa quốc gia và cho
sản xuât đại trà. Như vậy có thể nói khâu sản xuất thử nghiệm sê-ri 0 là khâu có ý nghĩa
quyết định nhất đến vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và sản xuất hay chính là khâu kiểm
nghiệm kết quả đầu ra cho nghiê cứu tự nhiên và kỹ thuật. Vẫn xét trong ví dụ này, nếu
như giống lúa được lai tạo thành công đem ra sản xuất theo quy trình với thời gian sản
xuất và chế độ chăm sóc phù hợp cho kết quả tốt nhưng đến khâu đem sản xuất thử
nghiệm, nó lại không cho kết quả như mong muốn thì coi như kết quả nghiên cứu về
giống lúa này thất bại và không thể đưa vào sản xuất đại trà được dù đã có giống và quy
trình sản xuất và hướng dẫn chế độ chăm sóc. Việc thử nghiệm sản xuất thành công sẽ
quyết định việc đưa giống lúa vào sản xuất đại trà và nó chính là khâu quyết định nhất.
3. khi các Viện nghiên cứu còn đứng tách rời với sản xuất như hiện nay và khâu R

đủ chi phí và nguồn lực để triển khai nên họ đặt hàng các nhà nghiên cứu ở các Viện công
nghệ.
Như vậy ta có thể thấy rằng, tạo prototype hay thiết kể sản phẩm công nghệ đòi hỏi
nhiều sự sáng tạo và tư duy và nó quyết định tính khắc biệt, tính mới của sản phẩm công
nghệ, quy định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nên nó có thể làm ở viện nghiên
cứu công nghệ và thêm vào đó là khâu làm pilot (tạo quy trình) cũng có thể được tiến
hành ngay tại viện nghiên cứu trong các xưởng thực nghiệm trong điều kiện các xưởng
thực nghiệm được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật… tuy nhiên ở khâu sản xuất thử
ở sê-ri số 0 thì không thể làm ở viện mà phải làm ngay ở xí nghiệp bởi vì đây là khâu
quan trọng nhất quyết định vai trò cầu nổi giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, một khi
sản phẩm đã được đưa ra để sản xuất đại trà thì nó phải sản xuất với số lượng lớn và ta
không thể loại trừ khả năng một sản phẩm đã được sản xuất thành công theo quy trình
trong viện nghiên cứu lại không thể tiến hành sản xuất thành công tại xưởng sản xuất vì
nhiều lý do khách quan, với lại cơ sở vật chất kỹ thuật tại Viện công nghệ cũng không đủ
khả năng để sản xuất với một số lượng nhỏ nhất định sản phẩm sê-ri 0, ta có thể lấy ví dụ
như Viện Công nghệ hóa học tại thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Viện KH&CN Việt Nam)
vừa thực hiện thành công quy trình tách chiết alion từ lô hội. Đề tài giúp tạo ra sản phẩm
mới là bột aloe, aloin, aloe gel từ cây lô hội làm nguyên liệu cung cấp cho các công ty
dược, mỹ phẩm. Nhóm nghiên cứu đã hoàn tất được một số nội dung trong quy mô phòng
thí nghiệm và pilot như xây dựng quy trình tách chiết aloin từ nhựa lá cây lô hội (quy mô
pilot 5kg nhựa/ mẻ); quy trình ổn định gel (pilot từ 10 -20 kg/mẻ); xây dựng tiêu chuẩn
cơ sở cho gel lô hội. và để đưa vào sản xuất thì Công ty TNHH công nghệ sinh học Việt Mỹ - Úc (công ty chuyên nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm thực phẩm, mỹ phẩm từ
cây lô hội) đã ứng dụng quy trình ổn định gel của đề tài nghiên cứu này đưa vào sản xuất
sản phẩm mỹ phẩm làm đẹp ra và tóc từ lô hội. Như vậy để sản xuất ra sản phẩm chứa
đựng tri thức công nghệ như sản phẩm dưỡng da và tóc từ lô hội thì phải có quy trình
tách chiết aloin từ nhựa lá cây lô hội và sản phẩm tạo ra ở khâu sê-ri 0 phải được tiến
hành ở xí nghiệp sản xuất vì chỉ có xí nghiệp mới có điều kiện đầy đủ để sản xuất ra sản
phẩm. Một thực tế là hầu hết các xí nghiệp sản xuất đều có môi trường làm việc gần với
thực trạng của doanh nghiệp nhất nên nó sẽ phản ánh đầy đủ các tính khả thi mà doanh
nghiệp có thể có trong quá trình tạo ra sản phẩm công nghê và nó có thể giúp cung cấp

Cũng như đã phân tích ở phần trên, khâu D chính là vai trò cầu nối giữa nghiên cứu
và sản xuất, một khi kết quả nghiên cứu được đưa vào sản xuất thì nó phải đảm bào tính
khả thi về tất cả các mặt như kinh tế, tài chính, thị trường tiêu thụ, môi trường, kỹ thuật...
Trong quá trình nghiên cứu và triển khai người nghiên cứu biết được mình đang tạo ra
sản phẩm gì và hoàn toàn có thể đánh giá được kết quả âm tính hay dương tính đối với xã
hội và môi trường. Và việc các nhà nghiên cứu từ chối trách nhiệm trong việc tạo ra các
sản phẩm công nghệ chống lại con người là không thể chấp nhận được.
Ví dụ như việc tìm ra công nghệ nhân bản vô tính động vật đầu tiên trên cừu Đôly
vào năm 1993 đã mở ra một niềm hi vọng mới cho con người vào việc khôi phục lại các
loài động thực vật đã bị tuyệt chủng. Như vậy có thể nói sau quy trình tạo ra phôi từ tế
bào gốc của loài muốn nhân bản làm cho chúng ta có thể lưu giữ được những loài quý
hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao trong khi điều kiện môi trường ngày càng thay đổi. Đi
từ ý tưởng nghiên cứu đến triển khai, các nhà nghiên cứu đều đã có thể nhận ra tính khả
thi của nó về mặt kinh tế, tài chính, môi trường và thị trường, nếu không thể nhận ra các
giá trị này thì họ không bao giờ cho kết quả nghiên cứu của mình ứng dụng vào sản xuất
đại trà, bởi không ai có thể không nhận thức được mình đang làm cái gì trừ khi đó là
người thiểu năng trí tuệ, và chính các nhà khoa học của chúng ta cũng đã nhận ra mối
6


nguy hiểm khi công nghệ nhân bản này được áp dụng đối với con người và có yêu cầu
đưa ra lệnh cấm sau đó trên toàn thế giới. Với công nghệ nhận bản vô tính ở thực vật, các
nhà khoa học có thể nhân bản thành công các cây dược liệu quý giá có khả năng chữa các
bệnh nan y cho con người đang trong tình trạng báo động về khả năng tuyệt chủng và lưu
giữ chúng trong môi trường thích hợp, và việc nhân bản thành công các loại thảo dược
này hoàn toàn có tính khả thi về mặt kỹ thuật và thị trường, thị trường được xét tới ở đây
là thị trường tiêu thụ sản phẩm được tạo ra bởi công nghệ bởi tính thiết thực và cần thiết
của chúng đối với con người. Hay có thể kể đến như công nghệ cacbon hóa để xử lý chất
thải đô thị ở Việt Nam, công nghệ này sau khi được tiến hành thử nghiệm đã cho kết quả
khả quan về tính khả thi kỹ thuật cũng như khả tính khả thi về mặt kinh tế, tài chính và

7


Từ cách hiểu này ta có thể thấy nguyên nhân dẫn đến rủi ro về mặt công nghệ trong
việc áp dụng vào sản xuất sau khi đã thành công ở khâu sản xuất sê-ri O đó là do những
bất ổn của thị trường; những bất ổn không mong muốn của môi trường; cùng một công
nghệ nhưng đối thủ canh tranh đã đi trước một bước, tung sản phẩm ra trước; hay cũng
có thể là công nghệ đó tuy mới ở thời điểm này tại quốc gia này nhưng lại không mới ở
quốc gia khác và được đánh giá là công nghệ đã lỗi thời và suy đến cùng đó là do sự
không cập nhật công nghệ mới (update công nghệ); công nghệ có thể bị người sử dụng
tẩy chay…
Một ví dụ có thể coi là điển hình trong rủi ro về mặt công nghệ là sự cố rò rỉ phóng
xạ tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima Nhật Bản vào tháng 3 năm 2011 sau những thiệt
hại mà song thần gây ra tại nhà máy này. Công nghệ điện hạt nhận có thể nói là sau khi
được thử nghiệm thành công đã đưa lại kết quả khả quan, nó giúp hạn chế tình trạng khai
thác cạn kiệt các nguồn tài nguyên để tạo ra năng lượng, hạn chế ô nhiễm môi trường vi
không sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch, đảm bảo sự đa dạng sinh học, tránh ô
nhiễm nước và khai thác cạn kiệt nguồn nước ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của
người dân. Công nghệ điện hạt nhân bắt nguồn từ công nghệ hạt nhân, đây có thể nói là
một ngành công nghệ mang lại lợi ích rất lớn có thể chữa bệnh cho con người nhờ vào
nguồn năng lượng phóng xạ của nó như giúp phát hiện và điều trị các bệnh lây nhiễm…
Có thể nói sự có rò rỉ phóng xạ tại nhà máy điện hạt nhân Fukushima là điều không mong
muốn và đã sảy ra và nó đã để lại nhiều tác hại nặng nề, một lượng lớn chất phóng xạ đã
bị rò rỉ ra bên ngoài, gây tác hại nghiêm trọng cho con người, sinh vật và ảnh hưởng đến
đất đai, nguồn nước…và nguyên nhân dẫn đến rủi ro này là do sự biến động của thời tiết,
khi hậu dẫn đến sóng thần với sức công phá quá lớn và nằm ngoài dự báo và tầm kiểm
soát của con người. Như vậy có thể thấy rằng, công nghệ điện hạt nhân mặc dù đã được
nghiên cứu thành công ở khâu sản xuất sê-ri số 0 với kết luận mang tính khả thi cao đặc
biệt là về kinh tế, kỹ thuật ...nhưng vẫn không tránh khỏi rủi ro ngoài mong muốn.
Hay ví dụ như các nhà sinh vật học của Mỹ vừa thành công trong việc đạt được

Đạo đức là toàn bộ những quan niệm, tri thưc và các trạng thí xúc cảm tâm lý chung
của các cộng đồng người về các giá trị thiện ác, lương tâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công
bằng…và về những quy tắc đáng giá, điều chỉnh hành vi ứng xử giữa cá nhân với xã hội,
giữa các cá nhân trong xã hội với nhau.
Ở trong 5 điều khoản được đưa ra của bản dự thảo luật Khoa học và Công nghệ:
1. Trong khi xác định các phương hướng nghiên cứu, các nhà nghiên cứu cần phải

2.
3.
4.

5.

xem xét các chuẩn mực đạo đức liên quan đến những phương hướng nghiên cứu
này.
Trong khi thực hiện các phương pháp tiến hành nghiên cứu khoa học không
được vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Trong khi áp dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào sản xuất, người nghiên
cứu phải cứu xét kỹ những nguyên tắc đạo đức của xã hội.
Trong khi sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học đã được đưa vào sản xuất,và
tạo ra được sản phẩm bán trên thị trường, nhà đương cục cần giám sát về mặt
đạo đức của nhà kinh doanh và hệ thống dịch vụ (chẳng hạn như dịch vụ y tế,
dịch vụ trình dược…)
Trong khi quảng cáo cáo các thành tựu công nghệ mới luôn luôn phải tôn trọng
các chuẩn mực đạo đức.

Trong các điều khoản trên, chúng ta đều nhận ra cụm từ “chuẩn mực đạo đức xã
hôị”. Vậy để có thể đưa ra ý kiến bàn luận về việc sửa đổi các điều khoản trên, ta cần
nhận thức rõ như thế nào là chuẩn mực đạo đức xã hội. Như đã đề cập đến ở trên về khái
niệm đạo đức được nhìn nhận như là một hình thái ý thức xã hội thì “chuẩn mực đạo

công nhận trong kinh thánh. Lúc đó có thể nói kinh thánh đã được mặc nhận là điều hoàn
toàn đúng và được coi là chân lý, là chuẩn mực đạo đức, nếu như vậy thì không một nhà
khoa học nào dám đưa ra những ý kiến trái lại với những chuẩn mực đã có mặc dù họ biết
chuẩn mực đó là lỗi thời. Như vậy tính đúng đắn của khoa học sẽ bị mất đi và không có
tính mới.
Điều khoản trên có thể sửa đổi lại là: “Khi xác định các phương hướng nghiên cứu,
các nhà khoa học hoàn toàn có thể tự do nghiên cứu các lĩnh vực nghiên cứu mà Luật
khoa học và công nghệ thế giới không cấm”.
Ở đây dù là luật của Việt Nam nhưng mà phải mở rộng ra trên phạm vi toàn thế giới
bởi có thể xuất hiện những phương hướng nghiên cứu mà thế giới đã biết đến nhưng Luật
Khoa học và công nghệ của chúng ta có thể chưa cập nhật đủ và sẽ tạo ra lỗ hổng trong
việc xác định phương hướng nghiên cứu đi ngược lại lợi ích của con người.
Điều khoản 2: Trong khi thực hiện các phương pháp tiến hành nghiên cứu khoa học
không được vi phạm các chuẩn mực đạo đức xã hội.

10


Đây là một điều khoản không khả thi bởi không có một luật nào quy định thế nào là
chuẩn mực xã hội, bởi chuẩn mực xã hội luôn luôn thay đổi theo chân lý một khi nó được
kiểm nghiệm là đúng vì vậy để cho chính xác hơn nên đề ra các quy tắc quy định chuẩn
mực đạo đức trong nghiên cứu khoa học như vậy nó sẽ bao hàm được tất cả các nội dung
liên quan đến đạo đức khoa học trong quá trình tiến hành nghiên cứu.
Trên thực tế, khi các nhà khoa học được tiếp xúc với các phương pháp nghiên cứu
khoa học thì cũng đã được tìm hiểu các nguyên tắc khi tiến hành sử dụng các phương
pháp nghiên cứu để đảm bảo kết quả nghiên cứu là khách quan, trung thực. Hơn thế nữa,
chuẩn mực đạo đức không phải là pháp luật mà nó chỉ là những quy ước hay điều lệ về
hành xử được các thành viên trong ngàng nghề chuyên môn chấp nhận như những kim
chỉ nam cho việc hành nghề, và nghiên cứu khoa học như đã nói đó là một dạng lao động
đặc biệt và nó khác các hoạt động khác về chức năng vai trò và nhiệm vụ.

Như vậy với ví dụ điển hình trên nó là một vết nhơ đối với nền khoa học Mỹ và thế
giới, tuy nhiên nếu chỉ quy về chuẩn mực đạo đức xã hội thì sẽ không có cơ sở để buộc
tội các hành vi sai trái như vậy nên đối với mỗi lĩnh vực nhất định phải đề ra các quy tắc
riêng và cấm được vi phạm nguyên tắc này đồng thời có những mức phạt, kỷ luật nhất
định đối với các lĩnh vực đặc biệt là lĩnh vực nghiên cứu khoa học bởi nó liên quan đến
nhận thức của con người đối với thế giới xung quanh và chính bản thân con người.
Điều khoản 3: trong khi áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất, người nghiên
cứu phải cứu xét các nguyên tắc đạo đức xã hội.
Như chúng ta đã biết, các nhà khoa học có sự mệnh tìm lời giải đáp cho những thắc
mắc của con người về các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy đồng thời tìm ra các giải
pháp mới để đối phó với những vấn đề mà con người đang gặp phải, như vậy trách nhiệm
của nhà khoa học hay nghiên cứu chỉ có giới hạn trong khuôn khổ từ khâu hình thành ý
tưởng nghiên cứu cho đến khâu sản xuất sê-ri số 0 và kết luận về tính khả thi của sản
phẩm chứa đựng thông tin công nghệ để áp dụng vào sản xuất. việc áp dụng kết quả
nghiên cứu vào sản xuất thuộc giai đoạn của doanh nghiệp và lúc này nhà khoa học chỉ là
người hỗ trợ về mặt công nghệ cho doanh nghiệp thông qua dây chuyền sản xuất.
Nếu như điều khoản này được thi hành trong thực tế thì tất cả các kết quả nghiên cứu
của các nhà khoa học đều không được áp dụng vào sản xuất vì như chúng ta đã biết trong
xu thế phát triển của xã hội, hàng loạt các thành tựu khoa học đều đang là mối đe dọa đối
với con người, phá hoại sự toàn vẹn của hệ sinh thái, rồi an ninh môi trường và đi xa hơn
nữa là an ninh quốc gia chẳng hạn như thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng, chất đi
ô xin, đột biến gen và nhân bản vô tính…rồi đến các thành tựu về vũ khí giết người hàng
loạt như bom nguyên tử, bom nhiệt hạch, bom neutron, bom áp nhiệt, vũ khí hóa học, bũ
khí sinh học… Có thể nói nhà khoa học bị lên án nhiều nhất là Einstein, người đã phát
minh là bom nguyên tử trong thế chiến thế giới lần thứ 2 và ông đã hối thúc chính phủ
Hoa Kỳ sản xuất bom nguyên tử và đã thử nghiệm thành công quả đầu tiên trên đảo
Bikini nhưng khi nhận ra sự sụp đổ nhãn tiền của chủ nghĩa phát xít, Einstein đã cùng
một loạt các nhà khoa học, lập tức khẩn khoản đề nghị chính phủ Mỹ dừng kế hoạch ném
nom nhưng đã quá muộn và 2 quả bom nguyên tử đã được nhém xuống hai thành phố
Hiroshima và Nagasaki vào các ngày 6 và 9 tháng 8 năm 1945. Tuy nhiên với việc lý do

nhà kinh doanh và hệ thống dịch vụ (chẳng hạn như dịch vụ y tế, dịch vụ trình dược…)
Trước hết trông điều khoản này ta thấy các từ khóa (key words): sản phẩm bán trên
thị trường, nhà đương cục, đạo đức, nhà kinh doanh và hệ thống dịch vụ. Nhìn chung các
từ này đều liên quan đến lĩnh vực kinh doanh vì một khi sản phẩm đã được bán trên thị
trường thì nó đã liên quan đến việc trao đổi buôn bán giữa nhà kinh doanh với người tiêu
dùng sản phẩm, và đạo đức kinh doanh là một phạm trù của kinh tế học và nó liên quan
đến vấn đề gian lận thương mại và được quy định khá cụ thể và chi tiết trong Luật kinh
doanh vì vậy thiết nghĩ không nên đưa điều luật này vào luật Khoa học và Công nghệ để
tránh sự chồng chéo trong việc xử lý các trường hợp vi phạm.
Ta lại lấy lại ví dụ trong câu 1 về việc Công ty TNHH công nghệ sinh học Việt - Mỹ Úc (công ty chuyên nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm thực phẩm, mỹ phẩm từ cây lô
hội) đã ứng dụng quy trình ổn định gel của đề tài nghiên cứu của Viện Công nghệ hóa
học tại thành phố Hồ Chí Minh (thuộc Viện KH&CN Việt Nam) với quy trình tách chiết
alion từ lô hội để đưa vào sản xuất sản phẩm mỹ phẩm làm đẹp ra và tóc từ lô hội và bán
ra thị trường. Như vậy khi Công ty TNHH công nghệ sinh học Việt – Mỹ - Úc tung sản
phẩm ra thị trường thì đã chịu sự quản lý về mặt chất lượng của Cục kiểm định chất
lượng và Chi cục kiểm tra thị trường cũng như là sự quản lý thanh tra của Sở Công
thương… hay các dịch vụ y tế như khám chữa bệnh thì đã chịu sự quản lý của Bộ Y Tế,
sự giám sát của thanh tra Y tế về chất lượng dịch vụ và thái độ, trách nhiệm của người
khám chữa bệnh đối với bệnh nhận và toàn bộ điều này đã được quy định trong Luật Y tế
vì vậy không nên đưa vào luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi nữa nếu không như đã nói
ở trên sẽ dẫn tới sự chồng chéo trong việc xử lý các trường hợp vi phạm giữa các bộ, các
ngành và hiện tượng cha chung không ai khóc như báo chí từng đăng về trách nhiệm của
13


các bộ trong việc nhận lỗi và đổi lỗi cho nhau trong việc để xảy ra tình trạng đặc biệt
nghiêm trọng.
Kết luận đối với điều khoản 4: “không nên đưa vào Luật Khoa học và Công nghệ”.
Điều khoản 5: trong khi quảng cáo các thành tựu công nghệ mới, luôn luôn phải tôn
trọng các chuẩn mực đạo đức.

2.
Tạp chí Tia Sáng, Đạo đức khoa học – Nguyễn Văn Tuấn,
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&CategoryID=3&News=2299 , ngày 17/09/2008.

14


3.
Tạp chí Tia Sáng, Đạo đức của khoa học – Vũ Cao Đàm,
http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=2252&CategoryID=3, ngày 04/09/2008.

15




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status