ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
NÔNG VĂN DUY
"ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC
QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG TẠI XÃ NẬM THA
HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI"
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: CHÍNH QUY
Chuyên ngành : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
Khoa
: LÂM NGHIỆP
Lớp
: 42 - QLTNR
Khóa học
: 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn: ThS. LÊ SỸ HỒNG
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------
NÔNG VĂN DUY
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày
XÁC NHẬN CỦA GVHD
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
Ths. Lê Sĩ Hồng
tháng 05 năm 2014
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN
Nông Văn Duy
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn rất quan trọng trong quá trình học tập,
rèn luyện của mỗi sinh viên, nhằm giúp cho sinh viên củng cố lại kiến thức lý
thuyết đã học trên giảng đường, có cơ hội tiếp xúc với thực tế và áp dụng
những kiến thức đã học. Bên cạnh đó còn giúp cho sinh viên học hỏi kinh
nghiệm sản xuất, nâng cao trình độ, nắm được phương pháp tổ chức. Góp
phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho ngành Lâm nghiệp nước ta
Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
HĐNN
:
Hội Đồng Nhân Dân
QLBVR
:
Quản lý bảo vệ rừng
PCCCR
:
Phòng cháy chữa cháy rừng
UBND
:
Ủy Ban Nhân Dân
QLBV&PTR
:
Rừng tái sinh
GCNQSDĐ
:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ
:
Quyền sử dụng đất
NĐ-CP-QĐ
:
Nghị Định - Chính Phủ - Quyết Định
KH
:
Kết hoạch
PGD&ĐT
:
4.2. Điều tra, phân tích vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý
và bảo vệ rừng ............................................................................................. 25
4.3. Thực trạng công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng ....................... 30
4.3.1. Hiện trạng sử dụng đất đai ............................................................ 30
4.3.2. Thực trạng tài nguyên rừng của địa phương ................................. 32
4.3.3. Tình hình giao đất giao rừng ......................................................... 35
4.3.4. Các biện pháp quản lý bảo vệ rừng ............................................... 39
4.4. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa
phương......................................................................................................... 45
4.5. Một số giải pháp nhăm tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa
phương......................................................................................................... 47
4.5.1. Giải pháp về mặt nhân lực và tổ chức ........................................... 47
4.5.2. Giải pháp về chính sách ................................................................ 48
4.5.3. Giải pháp về lâm sinh.................................................................... 48
4.5.4. Giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng.......................................... 49
4.5.5. Giải pháp khắc phục tình trạng vi phạm chặt phá rừng, lấn chiếm đất
rừng .......................................................................................................... 50
4.5.6. Giải pháp tuyên truyền, vận động xã hội ...................................... 50
4.5.7. Giải pháp kinh tế ........................................................................... 50
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................... 52
5.1. Kết luận ................................................................................................ 52
5.2. Kiến nghị .............................................................................................. 53
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 54
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thống kê số lượng dân số và dân tộc của xã Nậm Tha năm 2013 . 14
Bảng 2.2. Cơ cấu các ngành kinh tế xã Nậm Tha năm 2013 .......................... 15
thực vật và là nơi tàng trữ các nguồn tài nguyên quý hiếm. Ngoài ra rừng còn
đóng vai trò như một động lực phát triển kinh tế ở những nước có nền kinh tế
đang phát triển bởi gỗ và lâm sản ngoài gỗ mà rừng cung cấp.
Rừng Việt Nam là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong
phú, chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, là nguồn cung cấp
nhiều sản phẩm cho xã hội, có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, gắn
với đời sống nhân dân và sự sống còn của dân tộc. Theo tài liệu mà Maurand
P công bố trong công trình “ Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943
rừng nước ta vẫn còn khoảng 14,3 triệu ha, che phủ 43,7% diện tích lãnh
thổ.Vào thời kì đó độ che phủ ở Bắc Bộ vào khoảng 68%, ở Trung Bộ khoảng
44% và ở Nam Bộ vào khoảng 13%. Trước năm 1945, rừng nguyên sinh ở
Việt Nam bị phá hoại rất nhiều và chỉ còn lại ở những nơi xa xôi, hiểm trở,
nhưng do khả năng phục hồi của rừng rất cao nên những khu rừng già có trữ
lượng cao (từ 250m3 - 300m3), vẫn còn khá phổ biến ở nhiều vùng núi Việt
Nam. Quá trình mất rừng sảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm
1990, đặc biệt từ năm 1980 - 1995 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, bình
quân mỗi năm hơn 100 ngàn ha rừng bị mất. Các số thống kê cho thấy, đến năm
2000 nước ta có khoảng gần 11 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm
khoảng 9,4 triệu ha và khoảng 1,6 triệu ha rừng trồng, độ che phủ cửa rừng chỉ
đạt 33% so với 45% của các thời kỳ giữa những năm 40 của thế kỷ XX.
2
Sự suy giảm tài nguyên rừng không những làm giảm tính đa dạng sinh
học, mất đi nguồn gen sinh vật quý và những giá trị văn hóa tồn tại trong nó
mà còn làm xuất hiện hàng hoạt các hiện tượng biến đổi khí hậu như hiệu ứng
nhà kính, thủng tầng ôzôn hay gần đây nhất là sự biến đổi như lũ quét, sạt lở,
gây thiệt hại nặng nề về người và của, an ninh lương thực bị đe dọa... đó là
câu trả lời của thiên nhiên với chính những gì mà con người đã gây ra. Chúng
thấp nhất những tác hại dẫn đến việc rừng bị suy giảm. Đảng và nhà nước ta
đã kịp thời có những chủ trương chính sách về quản lý bảo vệ rừng như: Nghị
định số 157/2013/NĐ-CP, thông tư số 34/2009/TT-BNNPPTNT, Luật bảo vệ
và phát triển rừng năm 2004
Nậm Tha là xã vùng III thuộc huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai, cách trung
tâm huyện 24 km. Cuộc sống của người dân ở đây còn nhiều khó khăn, đa số
người dân sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp, sản xuất mang tính
tự cung tự cấp, trình độ dân trí thấp và không đồng đều, phong tục tập quán
còn lạc hậu, tình trạng thiếu việc làm còn khá phổ biến và lao động chủ yếu là
lao động thuần nông. Áp lực cuộc sống khiến cho người dân có tác động xấu
đến tài nguyên rừng và giảm chất lượng rừng. Công tác quản lý, bảo vệ rừng
những năm gần đây đã được các cấp chính quyền quan tâm và đầu tư, song
vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức.
Xuất phát từ vấn đề trên và để góp phần cho công tác quản lý bảo vệ rừng
ở địa phương được tốt hơn, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài "Đánh giá thực
trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Nậm Tha - huyện Văn Bàn - tỉnh
Lào Cai" .
1.2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm đánh giá tình hình công tác quản lý bảo vệ và
phát triển rừng tại xã Nậm Tha - huyện Văn Bàn – tỉnh Lào Cai và đưa ra
một số giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng, góp phần
cho công tác quản lý bảo vệ rừng ở địa phương ngày một tốt hơn.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng tại địa phương.
- Phân tích những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác quản lý bảo vệ
rừng của địa phương.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần cho công tác quản lý bảo vệ rừng tại
địa phương.
1.4. Ý Nghĩa đề tài
1.4.1.Ý nghĩa trong hoc tập:
vệ, tái tạo và phát triển vốn rừng cũng như việc phát huy vai trò của rừng
trong việc bảo vệ môi trường sinh thái.
Hiện nay vấn đề quản lý sử dụng rừng đều phải dựa trên cơ sở đảm bảo
sự phát triển bền vững. Quản lý rừng bền vững là thực hiện triệt để và đồng
bộ các biện pháp nhằm không ngừng phát huy hiệu quả kinh doanh, ổn định
liên tục những tác dụng và lợi ích của rừng trên lĩnh vực khác nhau. Sự phát
triển bền vững này phải đảm bảo 3 yếu tố sau:
Bền vững về mặt môi trường sinh thái: Quản lý bảo vệ phải duy trì
hệ thống sinh vật, bảo vệ phát triển đa dạng sinh học và tính ổn định của
hệ sinh thái.
Bền vững về mặt xã hội: Thu hút lao động vào nghề rừng, tạo công ăn
việc làm ổn định cho người lao động. Đáp ứng được nhu cầu sử dụng tài
nguyên rừng của thế hệ hiện tại đồng thời không làm ảnh hưởng đến lợi ích
của thế hệ mai sau.
Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng phải cho hiệu quả kinh tế cao, năng
xuất chất lượng ổn định đồng thời phải được thị trường chấp nhận.
Nghĩa là phát triển phải đảm bảo lợi ích lâu dài cho con người, tài
nguyên sinh vật, môi trường cần phải giữ gìn cho các thế hệ sau, thể hiện ba
mặt đó là phù hợp về môi trường, có lợi ích về mặt xã hội đáp ứng về mặt
kinh tế. (PGS.TS. Lê Sỹ Trung, 2008) [5].
6
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1. Tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên thế giới
Do sự thay đổi khí hậu toàn cầu, nóng lên của trái đất, thiên tai hạn hán,
lũ lụt tăng nhanh và sự xâm hại của con người đã làm cho diện tích rừng bị
suy giảm về cả số lượng và chất lượng.
Trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ ha rừng, trong đó có diện tích rừng
người sống phụ thuộc vào rừng và rừng là nguồn cung cấp nhiều việc làm,
góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của các quốc gia trong khu vực. Qua
thống kê cho thấy 30% diện tích rừng được sử dụng để sản xuất gỗ và các sản
phẩm phi gỗ, thương mại lâm sản ước tính đạt 327 tỷ USD/năm. Sự biến mất
hoặc tái sinh các khu rừng có ảnh hưởng nhất định đến hệ sinh thái cũng như
sự thay đổi của khí hậu toàn cầu và gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối
với con người.
- Ở Nhật Bản: Theo quan điểm của người Nhật thì tất cả các hành động
phá hoại môi trường đều đe dọa đến đời sống của sinh vật và con người. Do đó
việc bảo vệ tài nguyên, nhất là tài nguyên rừng được Nhật Bản rất chứ trọng và
ý thức của người dân Nhật Bản trong quản lý bảo vệ rừng cũng rất cao.
Trước đây, người Nhật đốn gỗ ở rừng, vùng ven biển và vùng châu thổ
vì lợi ích của nền công nghiệp đất nước. Kết quả là việc đánh bắt thủy sản của
các ngư dân ngày càng bị dảm bớt vì vùng sinh thái biển bị thu hẹp và hải sản
ngày càng khan hiến. Nhận được bài học đắt giá đó, cộng đồng ngư dân nhận
thấy rằng việc bảo tồn rừng là quan trọng và họ cố gắng để tái sinh rừng ở
vùng bờ biển, châu thổ và vùng núi.
Từ những năm 1980, xuất hiện phong trào tìm hiểu về rừng bắt đầu từ
những ngư dân trồng cây ở ven biển, vùng châu thổ sông, vùng núi và lan
rộng chưa từng có. Đến nay phong trào này đã tác động tích cực đến môi
trường và luôn được chính phủ khuyến khích. Kinh doanh trồng rừng đối với
họ về sâu xa không chỉ có lợi nhuận bở vì tất cả những đối tượng tham gia
hoạt động này đều phải cam kết bảo vệ rừng và phải có trách nhiệm lâu dài.
- Thụy Sỹ: Là một nước nhỏ với diện tích chỉ có 41.293 km2 nhưng có
đến 70% là núi, riêng rặng núi Alps đã chiếm tới 60%, chỉ cón lại một rẻo cao
nguyên hẹp chạy từ Đông Nam lên Tây Bắc.
Đất nước hẹp như thế mà dân số lại đông gần tới 7,2 triệu người, sống
tập trung trong một đô thị lớn, mật độ dân số cao, đồng thời công nghiệp chế
tạo lại hết sức phát triển, do đó rất khó giữ được môi trường sinh thái tốt.
Thế nhưng bầu trời Thụy Sỹ lúc nào cũng trong vắt, không khí thơm tho
kiên trì thực hiện chính sách bảo vệ rừng và môi trường của chính phủ và sự
hợp tác của người dân.
- Brazil: Chính phủ Brazil đã cung cấp khả năng truy cập internet miễn
phí cho các bộ tộc thổ dân gốc Ấn ở khu vực rừng Amazon nhằm bảo vệ khu
rừng rậm lớn nhất thế giới này. Nhờ đó mà những cộng đồng sống trong khu
rừng có thể thông báo về những vụ đột nhập hay săn bắn động vật bất hợp
9
pháp, đưa ra yêu cầu giúp đỡ và phối hợp những hoạt động nhằm bảo vệ khu
rừng này.
- Ở một số nước khác: Thái Lan, Nam Triều Tiên đều có xu hướng
chung là cho phép nhóm người ở các địa phương có nhiều rừng có quyền sử
dụng các lợi ích về rừng và quy định rõ trách nhiệm của họ tương ứng với lợi
ích được hưởng.
- Có thể nói tóm tắt những xu hướng quản lý rừng trên thế giới trong
những năm gần đây như sau:
+ Chuyển mục tiêu quản lý, sử dụng rừng từ sản xuất gỗ là chủ yếu sang mục
tiêu sử dụng rừng kết hợp cả 3 lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái.
+ Phân cấp quản lý nhà nước về rừng và đất lâm nghiệp. Xu hướng là
chuyển giao dần trách nhiệm và quyền lực về quản lý rừng từ cấp trung ương
đến địa phương và cơ sở.
+ Xúc tiến giao đất, giao rừng cho nhân dân, giảm bớt can thiệp của nhà
nước, thực hiện tư nhân hóa đất đai và cơ sở kinh doanh lâm nghiệp để tạo
điều kiện cho việc quản lý rừng năng động và đem lại nhiều thuận lợi hơn.
+ Thu hút sự tham gia của các nhóm dân cư trong quá trình xây dựng kế
hoạch quản lý rừng, rừng đã có chủ thực sự. Các chính sách cũng rất quan tâm
đến sự tham gia của các nhóm liên quan đến quyền lợi từ rừng. Vì vậy đã
được quản lý bảo vệ tốt hơn.
còn lại ở vùng núi phía Bắc đã xuống cấp, trữ lượng gỗ thấp và bị chia cắt
thành những đám rừng nhỏ phân tán.
Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia chương trình Lâm Nghiệp
nhiệt đới vói mã số VIE-88-073 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991.
Dự án này đã đóng góp một phần rất quan trọng vào việc đánh giá hiện trạng
lâm nghiệp Việt Nam và đưa ra khuyến cáo về định hướng phát triển lâm
nghiệp cho đến năm 2000. (Phùng Ngọc Lan, 1997) [4]
Công tác quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây đã
và đang được đang và nhà nước quan tâm, ban hành nhiều chủ trương chính
sách mới nhằm giảm thiểu tình trạng tàn phá tài nguyên rừng:
- Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của chính phủ về việc xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý
lâm sản.
- Thông tư 34/2009/TT-BNNPTNN ngày 10/06/2009 của bộ Nông Nghiệp
& Phát Triển Nông Thôn về quy định tiêu chí xác định phân loại rừng.
- Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 29/12/2004
11
- Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/06/2012 có
hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013
- Các quyết định 327, 661... đã và đang nhanh chóng đi vào hiện thực.
Mục tiêu của đảng và nhà nước đặt ra đối với công tác quản lý bảo vệ
rừng trong giai đoạn hiện nay là:
- Ngăn chặn tận gốc các hành vi, vi phạm luật bảo vệ rừng và phát
triển rừng.
- Thiết lập các hệ thống chủ rừng trên toàn quốc với từng loại rừng: rừng
đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất.
- Tạo điều kiện cho nông dân đổi mới cây trồng, vật nuôi, hạn chế và đi
hai vùng rõ rệt. Vùng núi thấp có độ dốc nhỏ ít bị chia cắt chiếm khoảng 1/6
diện tích tự nhiên và vùng núi cao có địa hình hiểm trở, độ dốc lớn. Điểm cao
nhất là 1945,6 m thuộc thôn Khe Păn và điểm có độ cao thấp nhất là 276,2 m
thuộc thôn Khe Cóc.
Vùng núi cao là vùng có các dãy đồi núi liên tiếp chia cắt mạnh, sườn
dốc, có các bậc thềm cao thấp khác nhau, có nơi có địa hình thung lũng hẹp,
vách dốc đứng, vùng này có đất phát triển trên nền đá Macma axit. Đối với
vùng đồi núi có độ dốc trên 25o, tầng đất mỏng dưới 30 cm giành cho trồng
rừng, bảo vệ khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng tự nhiên. Đối với những vùng
có độ dốc dưới 25o, có tầng đất dày phục cho trồng cây dài ngày như quế, chè,
cây ăn quả..
Vùng núi thấp thung lũng sông là vùng có địa hình đồi bát úp, đỉnh tròn,
sườn thoải, có độ cao tuyệt đối từ 300 – 500 m, thích hợp cho trồng cây công
nghiệp dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và trồng cây lương thực.
Vùng này có hai nhóm đất chính là đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước và
đất bồi tụ do xói mòn tập chung chủ yếu ở ven các con suối, thung lũng và khe.
2.3.1.3. Khí hậu, thủy văn
Xã Nậm Tha huyệnVăn Bàn nằm trong vành đai A nhiệt đới Bắc bán cầu
nên khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa và chia làm 02 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa chịu ảnh hưởng nhiều của gió Tây Nam (Gió Lào); thường
nắng, nóng, mưa nhiều, kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10.
- Mùa khô, lạnh, ít mưa và kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3
năm sau.
- Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,90C, cao nhất là 350C, thấp nhất là
50C, ở một số vùng cao trên 1.500 mét nhiệt độ xuống tới 00C.
- Nắng: Tổng số giờ nắng trung bình biến động trong khoảng 1.350 1.410 giờ.
13
+ Rừng trồng: 36,7 ha
+ Đất chưa có rừng: 350,2 ha
14
- Diện tích quy hoạch cho rừng sản xuất: 5.315,25 ha
+ Rừng tự nhiên: 3.931,9 ha
+ Rừng trồng: 443,6 ha
+ Đất chưa có rừng 939,75 ha
- Độ che phủ rừng đạt 71,05%
(Số liệu thống kê diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo 3 loại rừng đến
31/12/2013 của huyện Văn Bàn).
2.3.2. Tình hình dân sinh, kinh tế xã hội
2.3.2.1. Dân sinh
Nậm Tha là xã vùng 3, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn rất khó
khăn. Toàn xã có 511 hộ với 2.9290 khẩu, gồm 4 dân tộc anh em cùng sinh
sống trong 7 thôn bản.
Bảng 2.1. Thống kê số lượng dân số và dân tộc của xã Nậm Tha năm 2013
TT
Dân tộc
Số dân
%
1
Dao
1.463
50.1
2
H Mông
806
lệ hộ nghèo còn lại là 50,7% bằng 259 hộ, 1,389 khẩu. Thu nhập bình quân
đầu người đạt 5,32 triệu đồng/người/năm. Đời sống vật chất, tinh thần của
nhân dân dần được cải thiện.
Bảng 2.2. Cơ cấu các ngành kinh tế xã Nậm Tha năm 2013
Ngành nghề
Cơ cấu (%)
1. Nông nghiệp
93
1.1 Cây ăn quả
18
1.2 Cây công nghiệp
14
1.3 Lúa, ngô, đậu
35
1.4 Chăn nuôi
11
1.5 Thủy sản
3
1.6 Lâm nghiệp
12
2. Tiểu thủ công nghiệp
3
3.Thị trường hàng hóa
2
4. Ngành khác
2
(Nguồn: UBND xã Nậm Tha – huyện Văn Bàn – tỉnh Lào Cai.
Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế năm 2013)
Kinh tế xã Nậm Tha chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp, các sản phẩm
nổi tiếng về nông nghiệp, lâm nghiệp như là: quế, cây thuốc, dược liệu, thảo
đạt 122,4% so với năm 2012.
- Ngô: Diện tích, kế hoạch giao 97 ha, thực hiện 97 ha, đạt 100% so với kế
hoạch và đạt 138,6% so với năm 2012. Năng xuất kế hoạch giao 32,6 tạ/ha, thực
hiện 32,6 tạ/ha, đạt 100% so với kế hoạch. Sản lượng kế hoạch giao 315 tấn,
thực hiện 316 tấn, đạt 100,3% so với kế hoạch và đạt 138,6% so với năm 2012.
- Sắn: Diện tích, kế hoach giao 50 ha, thực hiện 50 ha, đạt 100% so với
kế hoạch và đạt 100% so với năm 2012. Năng xuất kế hoạch giao 155 tạ/ha,
thực hiện 160 tạ/ha, đạt 103,2% so với kế hoạch. Sản lượng kế hoạch giao
775 tấn, thực hiện 800 tấn, đạt 103,2% so với kế hoạch và đạt 100% so với
năm 2012.
- Rau đậu các loại: Diện tích, kế hoạch giao 35 ha, thực hiện 35 ha, đạt
100%. Năng xuất kế hoạch giao 80 tạ/ha, thực hiện 80 tạ/ha, đạt 100% so với
kế hoach. Sản lưởng kế hoạch giao 280 tấn, thực hiện 280 tấn, đạt 100% so
với kế hoạch và đạt 116,7 % so với năm 2012.
Về chăn nuôi: Tổng đàn gia súc, gia cầm đạt 91% so với cùng kỳ, đạt
90% kế hoạch, đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, công tác phòng trừ