Đại học thái nguyên
Trờng đại học nông lâm
Thân văn Thuần
Nghiên cứu xác định yếu tố dinh dỡng đa lợng hạn chế
năng suất lúa trên đất xám bạc mầu ở huyện Việt Yên
tỉnh Bắc Giang
Luận VĂnthạc sĩ khoa học nông nghiệp
Thái nguyên 2006
Đại học thái nguyên
Trờng đại học nông lâm
Thân văn Thuần
Nghiên cứu xác định yếu tố dinh dỡng đa lợng hạn chế
năng suất lúa trên đất xám bạc mầu ở huyện Việt Yên
tỉnh Bắc Giang
Chuyên ngành
Mã số
: Trồng trọt
: 60.62.01
Luận VĂn thạc sĩ khoa học nông nghiệp
Ngời hớng dẫn khoa học:
của cây trồng, là t liệu sản xuất trong nông lâm nghiệp không gì có thể thay
thế đợc, vì vậy chúng ta phải có biện pháp bồi dỡng cải tạo đất.
không gì có thể thay thế đợc, vì vậy chúng ta phải có biện pháp bồi dỡng
cải tạo đất.
Việt Yên là huyện trung du của tỉnh Bắc Giang có 19 xã, thị trấn, tổng
diện tích tự nhiên là 17.144,70 ha. Trong đó đất nông nghiệp là: 11.117,19
ha chiếm 64,81%; đất lâm nghiệp là: 1054,36 ha chiếm 6,14%, đất chuyên
dùng là: 2599,50 ha chiếm 15,15 % còn lại là các loại đất khác. Trong đất
nông nghiệp, đất trồng lúa của Việt Yên là 8453,14 ha và chủ yếu là đất xám
bạc màu. Mặc dù trong những năm gần đây sản xuất lúa ở huyện Việt Yên
đã đạt đợc những kết quả nhất định, tuy nhiên tốc độ phát triển và năng suất
lúa giữa các địa phơng không đồng đều và cha xứng với tiềm năng của
huyện. Việt Yên là huyện có nhiều khó khăn nền kinh tế phát triển chậm,
trình độ dân trí, cơ sở hạ tầng còn thấp, đất đai bị xói mòn rửa trôi bạc màu
nhiều. Hầu hết nông dân còn khó khăn nên mức đầu t cho sản xuất rất hạn
chế, do đó năng suất còn thấp hơn so với vùng khác. Mặt khác đất trồng lúa
ở khu vực trung du, miền núi nói chung và huyện Việt Yên Bắc Giang nói
riêng luôn có những tính chất đặc thù riêng do quá trình hình thành khác biệt
hẳn với các đất đồng bằng và thờng thì độ phì tự nhiên ít khi đồng nhất với
độ phì nhiêu thực tế do trong đất có những yếu tố hạn chế. Ngoài ra do trình
độ thâm canh của nông dân cha cao, việc dùng phân hoá học lại rất mất cân
đối, vừa lãng phí vừa không có hiệu quả, năng suất lúa vì vậy mà nhiều năm
tăng không đáng kể. Trong khi đó diện tích đất trồng lúa không thể tăng
thêm mà còn giảm đi do sự phát triển của các ngành công nghiệp và sự gia
tăng dân số tự nhiên. Do vậy, con đờng duy nhất để tăng sản lợng lơng
thực là thâm canh thông qua việc sử dụng phân bón hợp lý và đạt hiệu quả
cao. Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc xây dựng quy trình bón
phân hợp lý trong một nền nông nghiệp bền vững để đạt năng suất và phẩm
Sản lợng
(Triệu ha)
(tạ/ha)
(Triệu tấn)
1995
6,76
36,92
24,96
1996
7,03
37,73
26,39
1997
7,09
38,80
42,97
32,10
2002
7,50
45,93
34,44
2003
7,45
46,41
34,56
2004
7,44
48,62
36,14
2005
Bình quân
lơng thực
(kg/ngời)
555,3
Thái Nguyên
70,1
46,2
323,3
341,4
Hải Dơng
133,3
58,3
776,7
467,2
Hà Tây
162,2
55,5
2596,4
1591,3
An Giang
529,7
59,0
3127,7
1460,4
Kiên Giang
595,8
49,4
2944,3
1779,0
Tây Ninh
144,6
Giang nói riêng có những khó khăn nhất định về đất đai và khí hậu, đất trồng
lúa phần lớn là đất xám bạc màu nghèo dinh dỡng, diện tích các thửa ruộng
nhỏ lẻ không thuận lợi cho việc thâm canh. Bên cạnh đó việc chuyển giao
khoa học kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, do trình độ dân trí còn thấp, trình độ
canh tác còn hạn chế, cha đầu t cho thâm canh tăng năng suất cây trồng
nhất là trong sản xuất lúa. Do vậy chiến lợc trong sản xuất lơng thực của
Việt Yên nói riêng và của tỉnh Bắc Giang nói chung trong thời gian tới là :
Nhanh chóng xây dựng nền nông nghiệp theo hớng sinh thái bền vững,
nông nghiệp sạch và chất lợng cao, kết hợp nông nghiệp, lâm nghiệp, và
công nghiệp chế biến, thực hiện đa canh, đa dạng hoá sản phẩm, tăng nhanh
nông sản hàng hoá, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trong nớc với
nhu cầu ngày càng cao và xuất khẩu đạt hiệu quả, góp phần nâng cao đời
sống nông dân, xây dựng quê hơng ngày càng giầu đẹp.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lợng lúa của Bắc Giang
những năm gần đây
Diện tích
Năng suất
Sản lợng
% so tổng sản
(1000 ha)
(tạ/ha)
(1000 tấn)
96,4
2003
115,8
45,4
525,8
94,8
2004
116,0
47,6
552,4
92,4
2005
114,0
48,8
556,6
doạ môi trờng sống bị ô nhiễm và làm suy giảm sức khoẻ con ngời ở các
nớc công nghiệp phát triển. Nông nghiệp hoá học vì thế mà đợc xem lại và
nông nghiệp sinh học ra đời. Tuy nhiên với điều kiện hiện nay, dân số ngày
càng tăng, nguồn lơng thực sản xuất ra có hạn, nhất là các nớc chậm phát
triển và đang phát triển, nền nông nghiệp hoá học vẫn không thể thiếu, vấn
đề là sử dụng thế nào để có thể đa đến một nền nông nghiệp bền vững cải
thiện và duy trì độ phì nhiêu của đất qua việc sử dụng hợp lý và phối hợp
nguồn dinh dỡng hữu cơ và phân bón hoá học trong hệ thống dinh dỡng
cây trồng tổng hợp.
1.2.1. Nghiên cứu về đạm cho cây lúa ở nớc ngoài
Trong 3 yếu tố phân bón chính (đạm, lân, kali) thì phân đạm là yếu tố
hàng đầu đợc nhiều nhà khoa học quan tâm nhất, nó cũng là yếu tố làm
tăng năng suất nhanh nhất nhng lại gây ô nhiễm môi trờng mạnh nhất.
Các nghiên cứu ở ruộng cao sản của Philipin cho thấy với giống lúa
IR36 sản lợng là 9,8 tấn hạt/ha và 8,3 tấn rơm/ha thì lợng đạm có trong
rơm rạ là 7,6kg/tấn thóc, trong hạt là 14,6kg/tấn thóc (SK.De Datta, 1989)
tổng số là 22,2kg N/tấn thóc (trích dẫn theo bản dịch của Hoàng Minh Châu,
1998)[40]. Nói chung ở các ruộng cao sản với năng suất lúa là 5 tấn/ha thì có
lấy đi từ đất với lợng đạm là 110kg N (trích bản dịch của Hoàng Minh
Châu, 1998) [40]. Theo De Datta và Buresh (1989) [69] thì khi bón đạm urê
vào đất, cây lúa sử dụng rất ít do tỷ lệ mất đạm lớn ở thể hơi NH3.
B
VLek và Byrnes (1996) [80] cho rằng cây lúa chỉ sử dụng đợc từ 2040% lợng phân đạm bón vào đất. Do vậy mặc dù cây lúa đợc bón một
lợng đạm khoáng khá lớn, lợng sử dụng đạm từ đất vẫn chiến khoảng 5080% hoặc còn cao hơn nữa (Koyama, 1981) [73], (Broadlent, 1979) [68].
Phần lớn lợng đạm cung cấp cho cây lúa từ đất đợc khoáng hoá từ các hợp
chất hữu cơ. Quá trình và tốc độ khoáng hoá chất hữu cơ chịu ảnh hởng bởi
nhiệt độ, độ ẩm, chế độ nớc, số lợng và chất lợng chất hữu cơ, tỷ lệ cấp
B
P2O5 và 11,2kg K2O trong thóc. Nh vậy là: một vụ lúa, thu hoạch hơn 30 tạ
B
B
B
B
B
B
thóc mà chỉ lấy của đất có 13,5 kg P2O5 (mỗi tấn thóc thu hoạch chỉ cần
B
B
B
B
khoảng 4kg P2O5) nên có thể quan niệm đợc là bón thêm phân lân vào đất
B
B
B
ở Miến Điện, theo tài liệu của D.H.Grist (1958) trên đất ruộng lúa
phân đạm và phân lân rất có hiệu lực. Theo A.Angladette (1960) hiệu lực
phân supe lân bón cho lúa ở Miến Điện thể hiện không đợc mạnh trong vụ
đầu nhng qua vụ sau bội thu đợc khá lớn, nhất là ở những chân đất thuộc
khoáng sét Montmoritonit. Hiệu lực của phân lân có thể kéo dài tới 10 vụ.
Đối với những chân đất pH = 6 thì ngời ta thờng bón với lợng phân khá
cao để có thể bội thu ngay vụ đầu. Những loại phân lân sử dụng rộng rãi ở
Miến Điện để bón cho lúa là Amofoot, supe lân và Nixifot (trích dẫn theo Lê
Văn Căn, 1974) [6].
ở Indonexia, hiệu lực của phân lân bón cho lúa thể hiện rất mạnh mẽ ở
đảo Java và Masur. Trên đất nặng giàu can xi đất feralit nhiều sét, đất potzon
của vùng đông Java cũng nh đất cát phù sa hiệu lực phân lân khá rõ (trích
dẫn theo Lê Văn Căn, 1974) [6].
Theo các báo cáo tại hội nghị thực phẩm Quốc tế, loại phân lân sử dụng
phổ biến nhất ở Indonexia là supe lân kép. Thờng bón 1 tạ supe lân kép, bội
thu lúa từ 600 - 1200 kg/ha, 1kg P2O5 làm bội thu từ 20-25kg thóc. Theo tài
B
B
B
B
liệu của Y. Hoffmando Coyand (1950), ở những chân đất nghèo lân của một
số vùng thuộc java, hiệu lực supe lân kép có khả năng cho bội thu đến 10 tạ
thóc, lợng phân supe lân kép thích hợp nhất với đa số chân ruộng vào
khoảng từ 75-100kg P2O5/ha. Một số chân ruộng đặc biệt cần thiết có thể
B
Sempen (1969) (trích dẫn theo Lê Văn Căn, 1974) [6] cho rằng nếu
dùng phân lân thích đáng sẽ tăng hệ số sử dụng phân đạm của cây trồng.
Nhiều nghiên cứu ở Liên Xô trớc đây cho thấy đất có hàm lợng hữu
cơ cao thì càng phải bón nhiều lân. Nh vậy thì đạm và lân mới cân đối.
Giáo s Dusetkin (1956) đã giải thích khi bón lân vào đất sẽ có hiện
tợng cố định lân dới dạng hữu cơ (trích dẫn theo Lê Văn Căn, 1974) [6].
Lân hữu cơ trong đất không có khả năng cung cấp trực tiếp cho cây trồng
mà nó chỉ trở nên hữu dụng khi đã đợc khoáng hoá. Trong điều kiện ngập
nớc, do tốc độ giải phóng lân hàng năm từ nguồn gốc hữu cơ ở trong đất
chỉ đạt khoảng từ 2- 4% tổng số lân hữu cơ cho nên hữu cơ không phải là
nguồn dinh dỡng lân đối với cây trồng (Sanayl, De Datta, 1991) [89].
Quá trình phân hủy chất hữu cơ xảy ra với sự tham gia của các vi sinh vật
đất. Tỷ số C/P là một trong những chỉ tiêu quan trọng quyết định khả năng
giải phóng lân từ các nguồn này, vì các vi sinh vật phân giải chất hữu cơ
sẽ lấy lân từ dung dịch đất và gây hiệu quả tăng lợng lân cố định thay vì
giải phóng lân (Patrick, 1992) [74].
Nh vậy hiệu lực bón phân lân có thể sẽ đặc biệt cao ở các ruộng
chân núi của ta là do sự mất cân đối giữa lân và đạm. Mặt khác, cũng do
phần lớn lân ở dạng hữu cơ gây nên có khả năng đói lân trầm trọng.
Theo Chang, Jackson (1957) (trích dẫn theo Võ Đình Quang, 1999)
[24], lân khoáng trong đất có thể đợc chia thành 4 nhóm chính gồm
phosphat canxi (Ca - P), phosphat nhôm (Al - P), phosphat sắt (Fe - P) và
phosphat không tan bị giữ chặt (occluded) giữa các khoáng sắt nhôm (RS P). Để giải phóng lân trong PS - P phải dùng chất khử rất mạnh mới phá
bỏ đợc các lớp áo bọc ngoài. Do trong thực tế, nhóm RS-P đóng góp rất ít
trong việc cung cấp dinh dỡng lân cho cây trồng, hơn nữa do thủ tục
phân tích lại phức tạp cho nên ngời ta thờng chỉ quan tâm nhiều đến 3
dạng variscit (AlPO4. 2H2O) và một phần dới dạng wavelit
B
B
B
B
(Al3(OH)3(PO4). 2 H2O); các phosphat canxi tồn tại chủ yếu dới dạng
B
B
B
B
B
B
B
B
Fluoroapatil [(Ca5PO4)3OH]. Các dạng photphat có độ hoà tan rất khác
B
B
ở ấn Độ đã có các khuyến cáo đối với việc dùng kali của các bang nh sau:
Các nghiên cứu ở ấn Độ cho thấy kali bón vào mùa khô có hiệu quả hơn
mùa ma. Cùng một cánh đồng canh tác, hiệu quả kali thu đợc trong mùa
khô là 10kg thóc/kgK2O, trong mùa ma là 8kg/ kgK2O (trích dẫn theo
bản dịch của Hoàng Minh Châu, 1998) [40]. Mặc dù hàm lợng kali cây
trồng lấy trong đất là không lớn lắm khi con ngời trả lại rơm rạ cho đất.
Bảng 1.4: Lợng bón phân kali cho lúa tại một số bang ở ấn Độ
STT
Tên Bang
Quy trình phân kali
1
Andra Pradet
2
Kerala
30- 45kgK2O/ha, tùy loại lúa và chế độ nớc
3
Drixa
20- 40kgK2O/ha, tùy loại lúa và độ phì nhiêu đất
B
B
Tamil Nadu
B
B
0- 60kgK2O/ha, tuỳ loại, mùa và kết quả loại đất
B
B
Nguồn t liệu: Hoàng Minh Châu, 1988 [40]
Tuy nhiên, nếu canh tác liên tục nhiều năm mà không bón kali hợp lý
thì đất cũng sẽ bị thiếu kali. Theo Brinkman và CTV, 1985 thì dù hàm
lợng kali trong đất có cao thì sự thâm canh 2-3 vụ lúa trong năm hơn 20
năm, cùng với việc bón phân đạm cao, ít bón hoặc không bón kali và việc
lấy đi không hoàn trả lại rơm rạ cho đất có thể làm giảm lợng K dễ tiêu
và K không trao đổi trong đất đến mức hạn (Brinkman R. và cộng sự,
1985) [67]. Kết quả nghiên cứu ở nhiều nớc cho thấy có sự thiếu kali
trong đất lúa ở những vùng trớc đất không có sự đáp ứng với phân kali
(Kemler, 1980) [72]. Ghoston và Hoover (1948) [70] và Reyes (1961) [78]
cho rằng khả năng cung cấp kali của đất có thể đợc đánh giá thông qua
sự hấp thụ của cây trồng sau nhiều vụ. Thật vậy các yếu tố đạm, lân, kali
sẽ có hiệu lực cao, tránh đợc ô nhiễm môi trờng do bón phân cân đối
theo nhu cầu của cây trồng.
2,87
%
100
97,00
93,00
75,00
70,00
Nguồn: Lê Văn Căn, 1974 [6]
Qua nghiên cứu kết quả phối hợp giữa đạm, lân kali. Một số nớc đã
đem ra tỷ lệ phối hợp giữa N, P, K cho bón lúa nh sau:
Bảng 1.6: Mức tối u NPK cho lúa nớc ở một số nớc
Mức tối u
Nớc
Vùng
Tài liệu tham khảo
(nên dùng) kg/ha
N
P2O5
30
Aganon, 1987
90
28
28
Băng la đet
Butan
Hathazari
Wandiphodrang
Amin and Amin 1990
Chenttri atal, 1988
ấn Độ
Haryana
Pattambi
Kenrala
Shanma et al 1988
Alexander et al 1988
Nhật
Tarlac
UPCA, 1970
100
80
30
30
0
30
Nguồn : Hoàng Minh Châu, 1998 [40]
1.3. Tình hình nghiên cứu về sử dụng phân đạm, lân, kali cho cây lúa ở Việt Nam
ở Việt Nam, các yếu tố đạm, lân, kali cũng đợc các nhà nghiên cứu
đặc biệt quan tâm. Nhất là từ sau năm 1954, những nhà nghiên cứu đi đầu
trong lĩnh vực này là Lê Văn Căn (1974) [6], Đỗ ánh, Bùi Đình Dinh (1992)
[1], Lê Văn Tiềm (1974) [33], Nguyễn Vi, Trần Khải (1974) [37].
Cũng nh ở nớc ngoài, ở Việt Nam việc sử dụng phân hoá học đã đa
năng suất cây trồng của chúng ta tăng nhanh vợt bậc.
Bùi Đình Dinh (1998) [9] có nhận xét: ở Việt Nam trớc năm 1955
nông dân cha sử dụng phân hoá học để bón cho lúa, mà chỉ bón khoảng 5-6
tấn phân hữu cơ/ha với giống lúa cũ, năng suất lúa chỉ đạt trên dới 2 tấn/ ha.
Theo thống kế từ năm 1990 trở lại đây nhờ có giống lúa mới và áp dụng
đồng bộ các kỹ thuật canh tác, trong đó có việc sử dụng phân bón hoá học
tăng nhanh, bình quân bón 127kg NPK nguyên chất, năng suất đạt 3,9 tấn/
ha, tổng sản lợng đạt 30 triệu tấn. Trong khi đó bình quân phân hữu cơ cũng
chỉ bón trên dới 6 tấn/ ha chiếm khoảng 30% trong tổng lợng dinh dỡng
bón.
Từ kết quả nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm trong sản xuất năm
sử dụng bón cho lúa (Trần Thúc Sơn, 1996) [30].
Theo Ngô Ngọc Hng, 2004 [51] đạm amon trong nớc ruộng đợc tạo
ra từ sự thủy phân urê có thể tồn tại đến 6-7 ngày sau khi bón urê. Thời gian
mà lợng đạm tồn tại sau các đợt bón urê này cần đợc quan tâm vì việc rửa
trôi hoặc chảy tràn trong thời gian này sẽ làm thất thoát phân đạm, đặc biệt
trong vụ hè thu, ma nhiều.
Theo Bùi Huy Hiền, 2005 [52] trên cơ sở phát hiện ra đạm trong đất lúa
bị mất chủ yếu thông qua quá trình bay hơi, các giải pháp về vùi sâu, viên to,
sử dụng chất ức chế cũng nh thang màu lá đã đợc đề suất.
Theo Hoàng Thị Minh, R.Schaefer, 2006 [53], sự tích lũy đạm khoáng
trong quá trình phân giải hữu cơ không có sự khác biệt rõ giữa các chất hữu
cơ thêm vào. NO3 đợc tích lũy nhiều hơn NH4+. Nhiệt độ, độ ẩm có liên
B
B
B
PB
P
quan đến sự tích lũy đạm khoáng.
Tăng liều lợng đạm (0-150kg/ha) đã làm tăng số dảnh biomac và tăng
lợng đạm tích lũy trong cây lúa. Lợng tăng này rõ hơn khi bón đạm phối
hợp với phân chuồng và tăng liều lợng bón lân (Trần Thúc Sơn, 1996) [30].
Theo Trần Thúc Sơn (1996), hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa ở 2 vùng đất nh
sau:
40-120kg N/ha
(%)
Nguồn: Trần Thúc Sơn - 1996 [30]
Theo Phạm Tiến Hoàng, Trần Thúc Sơn, Phạm Quang Hà (1996) [20],
trên đất bạc màu với nền P60K60 thì lợng đạm khoáng thích hợp để đạt năng
B
B
B
B
suất cao và có hiệu quả kinh tế là N90-120; tỷ lệ NPK thích hợp là 1: 0,5:
0,5.
Tuy nhiên, khi bón với lợng đạm quá cao thì năng suất chẳng những
không tăng lên, thậm chí còn giảm xuống. Kết quả nghiên cứu cho thấy, với
đất phù sa sông Hồng khi bón lợng đạm từ 80-100kg N/ha thì hiệu suất 1
kgN là 10-15 kg thóc ở vụ xuân và 6-9kg ở vụ mùa. Nếu bón trên 160 kg
N/ha thì hiệu suất đạm giảm rõ rệt.
Trên đất bạc màu, khi bón lợng đạm từ 40-80kg N/ha hiệu suất 1kg N
là 10-13,5kg thóc ở vụ mùa, bón trên 120kg N/ha hiệu suất giảm xuống còn
5-6kg thóc/1kg N (Phạm Tiến Hoàng, Trần Thúc Sơn, Phạm Quang Hà, 1996)
[20].
1.3.2 Những nghiên cứu về phân lân ở Việt Nam
Yếu tố đứng thứ 2 sau đạm và là yếu tố đợc nhiều nhà nghiên cứu của
Việt Nam quan tâm nhất đó là lân. Trớc năm 1954, phân lân đợc sử dụng
P2O5/ha.
B
B
B
B
* Giai đoạn 1990 đến nay: trong giai đoạn này, nhiều giống lúa mới
xuất hiện trong đó có giống có tiềm năng năng suất cao nh DT10, C70,
C71, Khang Dân 18... đặc biệt là các giống lai TG1, TG5 ... các giống lúa
này có nhu cầu dinh dỡng rất cao, không bón cân đối N, P, K sẽ dễ bị thất
thu. Vì vậy trong giai đoạn này việc sử dụng phân lân ngày càng tăng. Từ năm
1995 đến nay, số lợng supe phosphat và tecmo phosphat tiêu thụ hàng năm
trung bình 80 vạn tấn. Nguyên nhân có thể là do chính sách nhà nớc, giống
cây trồng mới cần nhiều lân, hệ số quay vòng của đất tăng, nhận thức của ngời
dân tăng lên.
Theo Vũ Văn Dũng, 2005 [54], đầu những năm bảy mơi khi phát hiện
lân là yếu tố dinh dỡng hạn chế năng suất lúa khi mở rộng diện tích gieo
trồng các giống lúa mới có nhu cầu lân cao gấp 2-3 lần giống lúa cổ truyền
nh IR8, IR5. Vấn đề bón lân đã trở thành tập quán trong canh tác các giống
lúa mới, lân thật sự là đòn bẩy năng suất và cùng với giải pháp thủy lợi là
những điệu kiện tiên quyết trong điều kiện mở rộng diện tích gieo trồng lúa
mới, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, góp phần đáng kể vào
việc đảm bảo an ninh lơng thực quốc gia.
Theo Nguyễn Thị Lan, 2006 [55], hiệu suất của 1kg phân lân ở mức
60kg P2O5 cho 1ha trên nền phân chuồng 9 tấn, 80kg N, 60kg K2O là 5,00kg
là 100-120kg K2O/ ha. Với lúa lai, năng suất trung bình là 65-70 tạ/ha thì
B
B
lợng đạm cây lấy đi theo nông sản và phế phụ phẩm là 150-180kg N/ha, lân
là 70-80kg P2O5/ha, kali là 180-200kg/ha.
B
B
B
B
Mặc dù lợng kali lấy từ đất với lúa là cao nh vậy nhng hầu hết lợng
kali đợc lu lại trong phế phụ phẩm (rơm, rạ). Trong khi đó nông dân hầu
hết có tập quán là trả lại phế phụ phẩm cho đồng ruộng bằng cách vùi gốc rạ,
độn chuồng, đốt thành tro bón cho ruộng. Nh vậy hầu hết kali cũng đã đợc
trải lại cho đất, do đó mặc dù tính trung bình trong phân khoáng thì tỷ lệ bón
N, P, K là 1: 0,17: 0,06 nhng vẫn không ảnh hởng nhiều đến năng suất lúa
(Nguyễn Văn Bộ, Nguyễn Văn Ba, Bùi Thị Trâm, 1995) [4].
Trong điều kiện bón phân chuồng từ 10 tấn/ha trở lên, hiệu lực của kali
không đáng kể (Nguyễn Văn Bộ, Bùi Thị Trâm, Phạm Văn Ba, 1995) [5].
Trong điều kiện không bón phân chuồng, hiệu lực kali rõ hơn, nhất là
đối với lúa lai. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trọng Thi, Nguyễn Văn Bộ 1992) [32], Nguyễn Văn Bộ, Bùi Thị Trâm, Phạm Văn Ba (1995) [4], [5] cho
thấy: Đối với đất nghèo kali (đất bạc màu), bón kali cho năng suất tăng 6,5 11,1 tạ/ha (hay 19-50% so với đối chứng không bón kali).
Tuỳ theo bón phân chuồng hay không bón phân, hiệu lực kali cao từ 821kg thóc/kg K2O, với chỉ số VCR = 3,6 -6,2. Đối với đất giàu kali nh đất