Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và mức lương của người lao động dựa trên báo cáo về chuyển tiếp giữa trường học đến việc làm - Pdf 35

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
---***---

BÁO CÁO THỰC TẬP GIỮA KỲ
SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN ĐẾN MỨC
LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DỰA TRÊN BÁO
CÁO VỀ CHUYỂN TIẾP GIỮA TRƯỜNG HỌC ĐẾN
VIỆC LÀM NĂM 2013 TẠI VIỆT NAM
Họ và tên: Phạm Thị Minh Hiền
Mã sinh viên: 1214410064
Lớp: Anh 05
Khóa: 51
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Thùy Vinh
Hà Nội, tháng 8 năm 2015

1


Mục lục
Phần 1: Giới thiệu về trung tâm nghiên cứu chính sách và phát triển DEPOCEN
và quá trình hoạt động của bản thân tại đơn vị thực tập

2


Mở đầu
Trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế,
phát triển nguồn nhân lực được coi là một trong những nhân tố quan trọng tạo nền tảng
phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Vì thế việc nghiên cứu các yếu

Công ty Cổ phần Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Phát triển – DEPOCEN –
được thành lập năm 2005 dưới hình thức tổ chức nghiên cứu độc lập. DEPOCEN đã
xây dựng được uy tín trong cộng đồng tư vấn, nghiên cứu chính sách và phát triển
thông qua những nghiên cứu của mình về một loạt các vấn đề kinh tế - xã hội. Các dự
án nghiên cứu tập trung vào phân tích chính sách kinh tế - xã hội; chính sách và các
chương trình phát triển; môi trường kinh doanh và đầu tư; theo dõi và đánh giá các dự
án phát triển; đánh giá tác động của các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo, các dự
án về dịch vụ công như cải cách thủ tục hành chính, đất đai, y tế, giáo dục, nước
sạch vệ sinh, điện khí hóa nông thôn; các dự án sử dụng phương pháp khảo sát (định
tính và định lượng).
Các lĩnh vực và địa bàn hoạt động:
DEPOCEN có kĩ năng và kinh nghiệm chuyên môn trong việc áp dụng các phương

1.1.2

pháp định tính và định lượng, thiết kế thống kê và đánh giá tác động. Kinh nghiệm và
năng lực của DEPOCEN phù hợp với yêu cầu của Điều khoản tham chiếu, cụ thể ở các
lĩnh vực sau:
-

Kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm chuyên sâu trong thực hiện Khảo sát
diện rộng và khảo sát đánh giá dịch vụ công;

-

Kinh nghiệm thực hiện đánh giá tác động trong lĩnh vực phát triển;

-

Kinh nghiệm trong tổ chức, thực hiện khảo sát đánh giá nhu cầu và mức độ


Kĩ năng viết báo cáo và thuyết trình tốt;

-

Khả năng làm việc trong môi trường đa văn hóa;

-

Kinh nghiệm làm việc với các tổ chức và cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa
phương;

-

Kinh nghiệm làm việc với các tổ chức trong nước và quốc tế;

-

Đảm bảo chất lượng dịch vụ tốt.

Nguồn nhân lực:
Các cán bộ làm việc tại Trung tâm hiện nay đều là những cán bộ có trình độ đại học

1.1.3

trở lên thuộc các chuyên ngành có liên quan tới nghiên cứu như thống kê, kinh tế, xã
hội học, luật. Với kinh nghiệm nhiều năm tham gia các hoạt động nghiên cứu, khảo sát
như nghiên cứu phân tích cơ chế, chính sách và khảo sát đánh giá dịch vụ công,
khảo sát đánh giá tác động cho các chương trình/dự án phát triển tại Việt Nam, đội ngũ
cán bộ của Trung tâm luôn được đánh giá cao bởi các khách hàng trong nước cũng như

Khảo sát đầu kỳ cho 05 3/2013 – 8/2013
chương trình ưu tiên trong
Chiến lược V “Đoàn kết và
hành động vì công bằng và
phát triển” của Action Aid
Việt Nam

Phát triển doanh nghiệp và 2/2013 – 9/2013
thách thức đối với tăng
trưởng - khảo sát doanh
nghiệp vừa và nhỏ tại Việt
Nam
Đánh giá Quy trình thực 7/2012 – 9/2012
hiện Sáng kiến Truyền
thông Lồng ghép Thay đổi
Hành vi (IBCC)
Khảo sát đánh giá thực 9/2011 – 2/2012
trạng tham nhũng trong khu
6

Địa điểm thực
hiện
Quảng Bình

Bến Tre

Đối tác
Ban điều phối
dự án SRDP
Quảng Bình


VCCI
(Phòng
Thương mại và


vực doanh nghiệp Việt Nam

Công
nghiệp
Việt Nam)

1.2 Quá trình hoạt động của bản thân tại Trung tâm nghiên cứu chính sách và
phát triển DEPOCEN:
Trong vòng hai tháng thực tập ở trung tâm, trên cương vị là thực tập sinh, em đã rất
may mắn khi được các anh chị ở trung tâm tạo điều kiện học hỏi và làm việc, được
chạy dự án cùng các anh chị và được giao những công việc mang tính chất hỗ trợ các
anh chị trong quá trình thực hiện dự án. Công việc cụ thể mà em được giao tại trung
tâm nghiên cứu chính sách phát triển DEPOCEN như sau:

Dự án
Survey of
Master
Training
Programs for
Vietnam Japa
University

-


Dịch báo cáo 3 công khai từ tiếng việt sang tiếng
anh
Sử lý số liệu, xuất số liệu và vẽ đồ thị báo cáo
7

Thời gian
24/6 – 7/7

4/7 – 17/7
18/7 – 19/7
19/7 – 23/7
23/7 – 25/7


độ tham gia
hội nhập kinh
tế ASEAN của
doanh nghiệp
vừa và nhỏ

marketing

PHẦN 2: SỬ DỤNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƯỢNG NGHIÊN
CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN ĐẾN MỨC
LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DỰA TRÊN BÁO CÁO VỀ
CHUYỂN TIẾP GIỮA TRƯỜNG HỌC ĐẾN VIỆC LÀM NĂM
2013 TẠI VIỆT NAM
2.1 Tổng quan:
2.1.1 Giới thiệu chung:
Việt Nam đang trải qua thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, vì thế mà lao động trẻ,

đưa ra được cơ sở sử dụng các biến dữ liệu trong phần chạy mô hình kinh tế lượng.
Phần ba, bài nghiên cứu sẽ đưa ra kết quả chạy mô hình kinh tế lượng và một số
kết luận về câu hỏi nghiên cứu được nêu trên.
2.1.2

Tổng quan về tài liệu nghiên cứu:
Trong thời kỳ hội nhập hiện nay, nguồn nhân lực được coi là yếu tố quan trọng

hàng đầu cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Việt Nam cũng rất quan tâm đến
vấn đề phát triển con người, đặc biệt là phát triển kỹ năng và nâng cao trình độ của
người lao động. Rất nhiều nghiên cứu trước đây cũng các nhà kinh tế học trên thế giới
cũng cho rằng, trình độ học vấn quyết định đến mức lương mà người lao động nhận
được, tất nhiên điều này có thể đúng, có thể sai trong nhiều trường hợp.
Những năm 1980 ở những nước phát triển trên thế giới, có rất nhiều nhà kinh tế
học quan sát các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương mà người lao động nhận được,
nhiều cuộc khảo sát được thực hiện ở người lao động có độ tuổi dao động từ 15 đến 29,
nhiều công trình nghiên cứu và giả thuyết được đặt ra. Điển hình cho nghiên cứu về
vấn đề này là công trình nghiên cứu của nhóm nhà kinh tế học Kevin Murphy và Finis
Welch vào 5/1989 mang tên “Wage premiums for College Graduates recent and
9


possible explanations”. Bài nghiên cứu đã mô tả những thay đổi về ảnh hưởng của
những lao động có (và không có) bằng đại học đến mức lương trong vòng 25 năm và
thảo luận mối quan hệ đó trong sự xuất hiện của lực lượng lao động thuộc thời kỳ
baby-boom. Tác giả đã sử dụng đến 24 cuộc khảo sát với 1.679.037 cá nhân từ năm
1964 đến năm 1987. Kết quả là, Murphy và Welch chỉ ra rằng có một sự khác biệt về
mức lương giữa những lao động có trình độ đại học và những lao động có trình độ
THPT tăng từ năm 1963 đến năm 1971 (mức tăng trung bình lên đến 61%). Tuy nhiên
vào năm 1971 đến năm 1979 thì tác động này lại giảm xuống. Nguyên nhân là do thời

Francesco Pastore cho ra mắt tác phẩm “School-to-work Transition in Mongolia”
năm 2009. Tiếp nối kết quả của những nhà nghiên cứu trước, bài viết còn cho biết thêm
vì sao giáo dục trung học và đại học lại kém phát triển bằng việc chỉ ra rằng cung về
giáo dục ít hơn nhiều so với cầu về giáo dục. Mục đích chính của nghiên cứu vẫn là
ước lượng sự ảnh hưởng của giáo dục giới trẻ đến tích lũy về nguồn nhân lực và phân
phối nguồn thu nhập ở Mongolia. Tác giả sử dụng bộ số liệu SWTS (School-to-Work
Transitions), khảo sát người trẻ tuổi độ tuổi 15 – 29 vào năm 2006 được thực hiện bởi
NSO (National Satistical Office of Mongolia) và ILO (the International Labour
Office’s). Sử dụng phương pháp ước lượng OLS để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến
thu nhập, với mức lương được tính theo tháng, tập trung vào những biến liên quan đến
đặc tính đặc trưng của người lao động (độ tuổi, giới tính, khu vực sống, tình trạng hôn
nhân….) và tất nhiên là trình độ giáo dục của họ. Kết quả nghiên cứu cho thấy bằng
cấp là một trong yếu tố quyết định đến mức lương, người lao động gặp nhiều khó khăn
trong việc tìm việc làm với bằng cấp thấp mặc dù có thể họ có một kỹ năng tốt hơn so
với những lao động khác. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, phụ nữ có ít cơ hội
hơn trong thị trường lao động, mặc dù có trình độ học vấn cao hơn nam giới. Tuy nhiên
nam giới khi mất việc lại mất một khoảng thời gian dài hơn để tìm được công việc mới
với mức lương thậm chí còn thấp hơn so với công việc cũ.
Ở Việt Nam, không phải không có nghiên cứu về vấn đề này. Nhóm tác giả
Dang Nguyen Anh, Le Bach Duong, Nguyen Hai Van với tác phẩm “ Youth
employment in Vietnam: Charateristics, determinants and policy responses” vào
11


9/2005 đã tìm hiểu về quy luật “higher education, higher wage” ở Việt Nam. Nhóm
nghiên cứu đã thu thập các bằng chứng thực nghiệm về các đặc điểm và yếu tố quyết
định đến lao động trẻ ở những nước đang phát triển, và dựa trên cơ sở bằng chứng thực
nghiệm này, đưa ra những chính sách phù hợp với bối cảnh đất nước đang phát triển
như Việt Nam. Bài viết sử dụng bộ số liệu VLSS (Vietnam Living Standard Surveys)
vào năm 1990s, bộ số liệu VHLSS (Vietnam Household Living Standard Survey) vào

trình đào tạo, độ tuổi 20 – 24 là độ tuổi mà quá trình chuyển tiếp này xảy ra mạnh mẽ
nhất, lao động ở độ tuổi này cũng có quyền tự quyết định đến việc có tiếp tục đi học
cao hơn không hay dừng việc học và tham gia hoàn toàn vào lực lượng lao động, độ
tuổi cuối cùng 25 – 29 là khi quá trình chuyển tiếp này đã diễn ra hoàn toàn, lao động
độ tuổi này thể hiện mức độ ảnh hưởng giữa giáo dục và tiền lương là mạnh mẽ nhất.
Trong phần báo cáo về đặc điểm của lao động Việt Nam năm 2013, em sử dụng tổng
cộng 2722 đối tượng tham gia (bao gồm cả những lao động có việc làm và đang thất
nghiệp). Tuy nhiên, đến phần sử dụng số liệu để ước lượng tác động ảnh hưởng, em chỉ
sử dụng những đối tượng lao động đã có việc làm và có lương từ việc làm hiện tại. Bộ
số liệu lúc này thu gọn còn 896 quan sát, trong đó có 129 quan sát có độ tuổi 15 – 19,
317 quan sát có độ tuổi 20 – 24 và 450 quan sát có độ tuổi từ 25 – 29. Trong đó, em
cũng tập trung đến các đặc điểm: mức lương tính theo giờ, nơi sống (nông thôn/ thành
thị), giới tính, tình trạng hôn nhân, loại hợp đồng, và trình độ học vấn (được chia làm 8
cấp độ: không bằng cấp, tiểu học, THCS, THPT, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng,
đại học và sau đại học. Bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp ước lượng OLS để
đánh giá tác động với biến phụ thuộc là mức lương được tính theo tháng và biến giải
thích là các đặc điểm được nêu ở trên.
2.2 Phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương người lao động:
2.2.1 Báo cáo về tình trạng lao động ở Việt Nam theo khảo sát năm 2013
Kết quả cuộc khảo sát về tình trạng lao động được tính toán thể hiện đồ thị sau:

13


Đồ thị 1: Tình trạng lao động qua khảo sát về chuyển dịch giữa trường học đến
việc làm năm 2013
Trong số 2722 đối tượng được khảo sát từ độ tuổi 15 đến 29, có đến 37.33% số
người được hỏi đang trong tình trạng thất nghiệp, không có việc làm; 38.46% người
được hỏi đang làm thuê cho các công ty/ doanh nghiệp/ tổ chức (giảng viên, kỹ sư, kế
toán, bảo vệ, nhân viên văn phòng…) hoặc chỉ đơn thuần là làm việc thuê cho các công

độ tuổi từ 25 trở lên), 71.23% người học hỏi chỉ hài lòng với công việc đang làm,
17.23% người được hỏi không hài lòng thậm chí rất không hài lòng với công việc đang
làm.
Tỷ lệ thất nghiệp và có việc làm theo từng độ tuổi:
2.2.2.1 Độ tuổi từ 15 đến 19:
Đối với độ tuổi từ 15 đến 19 là độ tuổi đang đi học cấp 3 và vừa bước vào đại
2.2.2

học/cao đẳng, kinh tế vẫn còn phụ thuộc nhiều vào gia đình, vì thế mà tỷ lệ không có
việc làm ở độ tuổi này là khá cao.

15


Đồ thị 2: Tình trạng lao động ở độ tuổi 15 -19 theo khảo sát chuyển tiếp từ trường
học đến việc làm ở Việt Nam năm 2013
Có đến 62.58% lao động ở độ tuổi trên không có việc làm (thậm chí là những
công việc không yêu cầu bằng cấp như gia sư, thợ hồ, phục vụ bàn tại quán ăn hoặc
quán café…), 17.98% số lao động giúp việc không lương cho các gia đình và trang trại
theo yêu cầu từ phía gia đình và chỉ có khoảng 19.02% số lao động được làm những
công việc trả lương. Tuy nhiên, mức lương trung bình ở độ tuổi này cũng thấp hơn so
với độ tuổi trên 20, vào khoảng 2.5 triệu một tháng. Trên thực tế, mức lương tại độ tuổi
dưới 20 tuổi như vậy là khá cao. Vì đối với những lao động chưa có bằng cấp cao
(bằng cao nhất là bằng cấp trung học phổ thông) thì cơ hội tìm việc để có được một
công việc với mức lương cao là rất khó.
Tuy nhiên lao động được khảo sát trong nhóm tuổi này có tình trạng học tập
hiện tại không khả quan, chỉ có 4.65% vẫn còn đi học hoặc tham gia các chương trình
đào tạo, 44.96% đã hoàn thành việc học (bằng cấp cao nhất là trung học cơ sở
(43.10%) và trung học phổ thông (27.59%)) và 50.39% bỏ học trước khi tốt nghiệp
16


trong số đó hầu hết chỉ có bằng cao nhất là tiểu học (43.02%) và trung học cơ sở
(44.19%). Tỷ lệ bỏ học trước khi tốt nghiệp này ở vùng nông thôn (31.65%) cao hơn so
với thành thị (22.64%).
2.2.2.3 Độ tuổi 25 đến 29

Đồ thị 4: Tình trạng lao động ở độ tuổi 25 -29 theo khảo sát chuyển tiếp từ trường
học đến việc làm ở Việt Nam năm 2013
Đây là độ tuổi về cơ bản đã hoàn thành xong quá trình chuyển tiếp từ trường
học đến việc làm. Lao động đã dần ổn định sự nghiệp và tìm kiếm một công việc ổn
định cho bản thân. Kết quả nghiên cứu trên 883 người ở độ tuổi từ 25 đến 29 cho thấy.
Tỷ lệ thất nghiệp ở thời kỳ này giảm xuống còn có 12.6%, tỷ lệ người làm thuê tăng
lên khá nhiều (57.9%) và tỷ lệ chủ lao động/ lao động tự làm cũng tăng lên so với độ
tuổi trước đó (1.81% và 16.5%). Mức lương trung bình của lao động ở độ tuổi này
cũng cao hơn, rơi vào khoảng 3.8 triệu. Trên thực tế, lao động ở độ tuổi này qua một
thời gian làm việc đã có nhiều kinh nghiệm làm việc hơn và có thể có cơ hội nhiều hơn
trong con đường thăng tiến sự nghiệp.

18


Khi điều tra về mức độ hài lòng với công việc, thì có đến 77.16% số người được
khảo sát trả lời rằng họ hài lòng với công việc hiện tại, và chỉ có khoảng 8.87% là
không hài lòng. Mặt khác ở độ tuổi này, hầu hết lao động đều làm việc trên cơ sở hợp
đồng văn bản (74.72%) với thời gian thực hiện hợp đồng lao động là khá dài, điều này
cũng giải thích cho việc mức lương của người lao động ở độ tuổi này là cao hơn người
lao động dưới 24 tuổi.
Mặt khác, khi được hỏi về cảm nhận mức độ phù hợp trình độ giáo dục/ đào tạo
với công việc của người lao động, thì có đến 82.71% trả lời rằng họ thấy trình độ học
vấn hiện tại là phù hợp với công việc của họ đang làm. chỉ có khoảng 17.07% nhận

Tỷ lệ lao động có bằng đại học là 11.65%
Tỷ lệ lao động có bằng đại học là 0.47%
-

Đồ thị 5: Tỷ lệ lao động có trình độ học vấn khác nhau tình toán từ khảo sát
chuyển tiếp giữa trường học đến việc làm năm 2013 tại Việt Nam
Như vậy có thể thấy tỷ lệ lao động có trình độ đại học/ cao đẳng là khá thấp.
Thậm chí tỷ lệ này ở các khu vực nông thôn còn thấp hơn khá nhiều so với khu vực
thành thị.

20


Đồ thị 6: Trình độ học vấn giữa thành thị và nông thôn của lao động khảo sát
chuyển tiếp từ trường học đến việc làm năm 2013
Tỷ lệ lao động có bằng cấp thấp như tiểu học, bằng THCS hay thậm chí là
không có bằng cấp ở nông thôn cao hơn so với thành thị. Tuy nhiên, đối với tỷ lệ
những lao động có bằng cấp cao hơn (trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, sau
đại học…) ở thành thị lại cao hơn, thậm chí là cao hơn khá nhiều ở bằng cao đẳng và
đại học. Cụ thể là trong khi tỷ lệ lao động có bằng đại học ở thành thị là 19.35% thì ở
nông thôn chỉ là 3.98%; tỷ lệ lao động có bằng cao đẳng ở nông thôn là 3.88% trong
khi ở thành thị là 6.59%. Thực tế cho thấy, ở các vùng nông thôn Việt Nam, trẻ em ít
được tiếp cận với giáo dục hơn trẻ em ở thành thị, nhiều gia đình vì hoàn cảnh kinh tế
khó khăn mà chấp nhận cho con ở nhà lao động, dù độ tuổi của các em vẫn rất nhỏ. Vì
thế, có rất nhiều lao động dù mới ở độ tuổi 15 đến 19 nhưng sau khi tốt nghiệp trung
học cơ sở đã ở nhà và lao động (làm nông hoặc làm thuê cho các nhà máy, xí nghiệp,
nhà hàng ăn….)

21


rơi vào khoảng 3 triệu đồng một tháng. Với trình độ đại học, mức lương có thể lên đến
6 triệu đồng một tháng, có sự khác biệt đáng kể với trình độ trước đó. Tuy nhiên, khảo
sát một số lao động có trình độ sau đại học thì mức lương trung bình của họ chỉ ở mức
4.7 triệu đồng một tháng, tức là có phần thấp hơn so với những lao động có trình độ đại
học.
Tuy rằng chưa thể đưa ra kết luận ngay về mối quan hệ giữa mức lương trung
bình và trình độ học vấn là mối quan hệ cùng chiều, cần phải kiểm định thêm. Nhưng
bước đầu ta có thể kỳ vọng vào kết quả chạy mô hình rằng, với trình độ học vấn càng
cao thì mức lương trung bình sẽ càng cao.
Một số yếu tố khác:
2.2.4.1 Giới tính:
Căn cứ theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luật bình
2.2.4

đẳng giới được ban hành năm 1992 và được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số
51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10. Theo
22


đó thì nam và nữ đều có quyền bình đẳng trong cả phương diện xã hội và gia đình. Tuy
nhiên, theo kết quả khảo sát với 1338 đối tượng nam và 1384 đối tượng nữ, thì tỷ lệ
thất nghiệp ở nam giới vẫn thấp hơn so với nữ giới, mặc dù sự chênh lệch này không
quá lớn ( 32.74% đối với nam và 41.76% đối với nữ).
Đồ thị 7: Tỷ lệ thất nghiệp và có việc làm giữa nam và nữ
Mặt khác, mức lương trung bình mà nữ nhận được cũng thấp hơn so với nam.
Theo khảo sát cho thấy, mức lương trung bình mà lao động nữ nhận được dao động ở
mức 3.2 triệu đồng và mức lương trung bình mà lao động nam nhận được dao động ở
mức 3.4 triệu đồng. Mặc dù sự chênh lệch này không lớn nhưng cũng cho thấy được
mặc dù trong xã hội bình đẳng hiện nay, sự phân biệt giữa nam và nữ không phải là
không có. Như vậy có thể dự đoán rằng, giới tính cũng là một trong những nguyên

Bảng 2: Mức lương trung bình của lao động ứng với tình trạng hôn nhân
Mặc dù bài nghiên cứu không chỉ ra được nguyên do vì sao mức lương trung
bình lại có sự khác biệt ở các tình trạng hôn nhân khác nhau của người lao động. Tuy
nhiên theo như kết quả khảo sát, ta cũng dễ dàng nhận thấy sự khác biệt này, theo đó
người lao động mới chỉ đính hôn sẽ có mức lương thấp nhất đối với cả nam và nữ (chỉ
khoảng 2.1 triệu với nam và 2.9 triệu với nữ) trong khi người lao động kết hôn và có
gia đình lại có mức lương cao hơn (dao động khoảng 3.3 triệu với nữ và 3.6 triệu với
23


nam), nguyên nhân có thể là do khi lao động lập gia đình, họ có xu hương tìm kiếm
công việc có mức thu nhập cao để có thể chăm sóc được gia đình. Một điểm thú vị là,
kết quả khảo sát cho thấy lao động nam li thân/ li dị vợ có mức lương trung bình cao
vượt bậc (khoảng 5 triệu đồng). Sự khác biệt về lương với lao động đã lập gia đình và
chưa từng lập gia đình còn thể hiện rõ hơn khi họ có con cái. Đối với lao động không
có con, mức lương trung bình của họ chỉ vào khoảng 3 triệu, trong khi đó mức lương
trung bình của những lao động đã có con vào khoảng 3.7 triệu.
2.2.5

Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức lương:
Bảng 3: Kết quả chạy mô hình kinh tế lượng

Phụ nữ
Tiểu học
Trung học
cơ sở
Trung học
phổ thông
Trung học
chuyên

.
21931121***
.
28855369***

-.11243891

.49074073***

.20437681*

-

.43865498**

.3316174***

.24976226**
.
46799105***
.46776321**
-.02869448

-

.50547068**
.60580671***

.28091922**
.49929831***


.14791128

.04510962

.03781829

-.02609997

.08031975

-.03281439

24

-.04389049


Tuổi
Nông thôn
_cons

.
03412999***
-.00628472
7.0314804**
*
0.2277
896


điều này không xảy ra. Nếu lao động là nữ, mức lương của họ sẽ thấp hơn 17.9% so
với lao động là nam.
Đối với độ tuổi từ 20 – 24, tác động ảnh hưởng của trình độ học vấn đến mức
lương của người lao động thể hiện rõ ràng nhất. Trình độ học vấn càng cao, mức lương
càng cao. So với những lao động không có bằng cấp, lao động có bằng tiểu học có mức
lương cao hơn đến 32.7%, và chênh lệch này ngày càng tăng lên đối với các mức học
vấn tăng dần, cao nhất là bằng đại học (chênh lệch với lao động không có bằng cấp lên
đến 60.9%). Tuy nhiên ở cấp sau đại học thì mức độ ảnh hưởng này lại không có ý
nghĩa, trên thực tế, bộ số liệu được sử dụng trong khoảng độ tuổi từ 20 – 24 chỉ có duy
nhất 1 cá nhân có bằng sau đại học với mức lương không cao (2 triệu đồng 1 tháng) vì
thế mà ta khó có thể khảo sát được mức độ ảnh hưởng của trình độ học vấn đến tiền
lương ở độ tuổi này. Như vậy có thể thấy, ở độ tuổi mà thời kỳ chuyển tiếp giữa trường
học và việc làm diễn ra mạnh mẽ, thì trình độ học vấn là một trong những yếu tố quan
trọng nhất quyết định đến mức lương của người lao động. Điều này có thể được lý giải
là do lao động ở độ tuổi này sau khi tốt nghiệp chưa có nhiều kinh nghiệm và kỹ năng,
vì thế trình độ học vấn chính là điểm mà các nhà tuyển dụng đánh giá khi thuê lao
động. Và tất nhiên, với lao động có trình độ học vấn cao hơn thì kỹ năng làm việc của
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status