Đặt vấn đề
Đối lập với các quan điểm triết học cũ, phép biện chứng duy vật khẳng định
rằng tất cả các sự vật, hiện tợng tồn tại trong thực tại khách quan đều chứa đựng
trong nó mâu thuẫn. Sự hình thành và phát triển của mâu thuẫn là do cấu trúc tự
thân vốn có bên trong của sự vật, hiện tợng quy định
Mâu thuẫn là hiện tợng phổ biến, có mặt trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên,
xã hội, cũng nh t duy của con ngời . Trong hoạt động kinh tế mâu thuẫn cũng
mang tính phổ biến chẳng hạn cung - cầu, tích lũy tiêu dùng, tính kế hoạch hoá
của từng xí nghiệp, công ty với tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hàng
hoá ...
Mẫu thuẫn tồn tại một cách khách quan, từ khi sự vật xuất hiện đến khi sự
vật kết thúc. Trong mỗi sự vật, mẫu thuẫn hình thành không chỉ có một mà có
thể có nhiều mâu thuẫn. Mẫu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn khác lại hình
thành. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn diễn ra không
ngừng vì thế sự vật, hiện tợng trong thế giới khách quan thờng xuyên phát triển
và biến đổi không ngừng. Do đó có thể nói rằng mâu thuẫn là nguồn gốc và
động lực của mọi quá trình phát triển.
Trong sự nghiệp đổi mới đất nớc do Đảng lãnh đạo đã dành đợc những
thắng lợi bớc đầu mang tính quyết định, đó là việc chuyển đổi nền kinh tế từ cơ
chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc
theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Trong 15 đổi mới vừa qua chúng ta đã đạt đợc
nhiều thành tựu to lớn trong kinh tế, xã hội nhng trong những thành công đó
luôn luôn tồn tại những vấn đề mâu thuẫn làm kìm hãm sự phát triển của công
cuộc đổi mới, đòi hỏi phải có phơng pháp giải quyết mâu thuẫn một cách phù
hợp để thúc đẩy cho sự phát triển của đất nớc
Với mong muốn tìm hiểu những mâu thuẫn xuất hiện trong quá trình
chuyển đổi nền kinh tế của nớc ta trong thời gian quan, tôi đã chọn đề tài "
Phép biện chứng về mâu thuẫn và vận dụng nó trong việc phân tích mâu
1
Sự đấu tranh của các mặt đối lập là quá trình phức tạp .Quá trình ấy đợc
chia làm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn lại có những đặc điển riêng của nó .Khi
mới xuất hiện mâu thuẫn thờng đợc biểu hiện ở sự khác nhau của hai mặt và hai
mặtt đối lập cha thể hiện rõ sự xung khắc gay gắt.Tất nhiên không phải bất kì sự
khác nhau nào cũng đợc gọi là mâu thuẫn chỉ có những mặt khác nhau tồn tại
trong một sự vật nhng liên hệ hữa cơ với nhau phát triển ngợc chiều nhau tạo
thành động lực bên trong của sự phát triển thì hai mặt đối lập ấy mới hình thành
bớc đầu của mâu thuẫn .Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn phát triển đến giai
đoạn xung đột gay gắt nó biến thành độc lập .Nếu hội đủ các mặt cần thiết hai
mặt đối lập sẽ chuyển hoá lẫn nhau , sự vật cũ mất đi sự vật mới đợc hình
thành .Sau khi mâu thuẫn đợc giải quyết sự thống nhất của hai mặt đối lập cũ đ5
ợc thay thế bằng sự thống nhất của hai mặt đối lập mới lại đấu tranh chuyển hoá
tạo thành mâu thuẫn.Mâu thuẫn đợc giải quyết sự vật mới hơn xuất hiện .Cứ nh
thế đấu tranh giữa các mặt đối lập làm cho sự vật biến đổi không ngừng từ thấp
lên cao,chính vì vậy Lênin khẳng định :"Sự phát triển là một cuộc đấu tranh giữa
các mặt đối lập"
Khi bàn về mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Lênin chỉ ra rằng :Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại với ý
nghĩa nó chính là nó nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng ta nhận
biết đợc sự vật hiện tợng tồn tại trong thế giới khách quan. Song bản thân của sự
thống nhất chỉ là sự tơng đối và tạm thời đấu tranh giữa các mặt đổi mới là tuyệt
đối vĩnh viễn.Nó diễn ra thờng xuyên liên tục trong xuốt quá trình tồn tại của sự
vật kể cả trạng thái sự vật ổn định, cũng nh sự chuyển hoá nhảy vọt về chất
.Lênin viết :"Sự thống nhất (Phù hợp đồng nhất tác dụng ngang nhau) của mặt
đối lập là có điều kiện tạm thời thoáng qua tơng đối.Sự đấu tranh của các mặt
đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng nh sự phát triển sự vận động là tuyệt
đối".
quyết , sự vật cũ mất đi sự vật mới đợc hình thành.Sự vật mới lại nảy sinh các
mặt đối lập và mâu thuẫn mới.
Các mặt đối lập này lại đấu tranh chuyển hoá và phủ định lẫn nhau tạo
thành sự vật mới hơn. cứ nh vậy mà các sự vật hiện tợng trong thế giới khách
quan thờng xuyên phát triển và biến đôỉ không ngừng. Vì vậy mâu thuẫn là
nguồn gốc và động lực của mọi quá trình phát triển.
3. Một số loại mâu thuẫn
3.1. Mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài
Mâu thuẫn bên trong là mâu thuẫn nằm ngay chính trong bản thân sự vật.
Ví dụ nh đấu tranh giữa quan hệ sản xuất với lực lợng sản xuất, mẫu thuẫn giữa
tính kế hoạch hoá của xí nghiệp với tính tự phát trong nền kinh tế thị tr ờng. Mâu
thuẫn bên trong là nhân tố quyết định đến bản chất và xu thế của sự vận động
của chính sự vật.
7
Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn giữa các sự vật, hiện tợng với nhau.
Trên thực tế thì không có sự vật, hiện tợng nào tồn tại một cách độc lập, tách rời
khỏi sự vật, hiện tợng khác, ví dụ nh mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị, mâu
thuẫn giữa quốc gia này với quốc gia khác. Mẫu thuẫn bên ngoài có tác dụng
nhất định đối với sự phát triển khách quan của sự vật hiện tợng nhng mâu thuẫn
bên ngoài muốn phát huy tác dụng thì cần phải thông qua mâu thuẫn bên trong.
Sự phân biệt giữa mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài chỉ có ý
nghĩa tơng đối. Trong mối quan hệ này thì một mâu thuẫn đợc gọi là mâu thuẫn
bên ngoài, ở mối quan hệ khác thì nó lại là mâu thuẫn bên trong.
3.2. Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản
Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định rõ bản chất, khuynh hớng phát
triển của bản chất các sự vật , hiện tợng. Nó tồn tại gắn liền với sự vật kể từ khi
sự vật sinh ra cho đến khi sự vật kết thúc. Mâu thuẫn cơ bản là cơ sở hình thành
tuân theo con đờng đấu tranh nhng khác với mâu thuẫn đối kháng là đấu tranh
bằng phơng pháp hoà bình.
Việc phân biệt mâu thuẫn đối kháng và mẫu thuẫn không đối kháng có có
ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc giải quyết mâu thuẫn. Sự nhầm lẫn giữa
hai loại mâu thuẫn này có thể dẫn đến những hậu quả không lờng về mặt xã hội.
II. Mâu thuẫn biện chứng trong quy trình xây dựng nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội
chủ nghĩa của việt nam
1. Quá trình chuyển đổi và những đặc điểm của kinh tế thị trờng
Việt Nam
Sau kháng chiến thành công, chúng ta gặp rất nhiều khó khăn nhất là
trong việc xây dựng và phát triển kinh tế. Để sớm có xã hội chủ nghĩa, chúng ta
đã sử dụng mô hình kinh tế của Liên Xô và các nớc XNCN khác đang có. Đó là
9
nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với sự thống trị của chế độ công hữu xã hội chủ
nghĩa về t liệu sản xuất dới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể,
trong đó sở hữu toàn dân đóng vai trò chủ đạo. Với sự nỗ lực của toàn dân, có
thêm sự giúp đỡ tận tình của các nớc XHCN khác, mô hình kế hoạch hoá đã
phát huy đợc tính u việt của nó. Từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng
công cụ kế hoạch hoá nhà nớc đã tập trung vào tay mình môt lực lợng vật chất
quan trọng về đất đai, tài sản và tiền bạc để ổn định và phát triển kinh tế.
Nhng sau ngày giải phóng Miền Nam bức tranh mới về hiện trạng kinh tế
xã hội đã thay đổi. Trong nền kinh tế cùng một lúc tồn tại ba loại hình kinh tế tự
cấp tự túc nền kinh tế kế hoạch tập trung và nền kinh tế hàng hoá.
Đó là thực tế khách quan tồn tại sau năm 1975, nhng chúng ta vẫn tiếp tục
chủ trơng xây dựng nền kinh tế chỉ huy nh ở miền Bắc trớc đây. Do các quan hệ
thực tiễn cơ chế thị trờng trong những năm đổi mới, đồng thời có sự liên hệ đến
những bớc đi có tính quy luật của bớc chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền
kinh tế thị trờng có quản lý của nhà nớc, cùng với kinh nghiệm tổng kết của
những nớc đang tìm kiếm con đờng tơng tự, chúng ta thấy những đặc điểm lớn
của cơ chế thị trờng hiện nay ở nớc ta nh sau:
a, Nền kinh tế nớc ta đang từng bớc thực hiện những quá trình mang tính
quy luật của bớc chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trờng có sự điều tiết vĩ mô của nhà nớc với tự do hoá thơng mại và tự do giá
cả là khâu trung tâm đột phá; từng bớc tiến tới cơ chế thị trờng đích thực.
Cơ chế đó là phát huy vai trò điều tiết của thị trờng, hình thành bớc đầu
một thị trờng cạnh tranh, làm cho hàng hoá đợc lu thông suốt, cung cầu đợc cân
đối thoát khỏi tình trạng thiếu, giá cả ổn định dần, lạm phát đợc ngăn chặn.
Cơ chế thị trờng đã góp phần giải phóng lực lợng sản xuất, phát huy tính
tự chủ sáng tạo của hộ kinh tế, của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhà nớc
hiện nay cũng đã giải phóng đợc khỏi các chỉ tiêu pháp lệnh.
Cơ chế thị trờng cũng làm đảo lộn hệ thống t duy và quan điểm kinh tế cũ
nh vấn đề sở hữu, với sự thừa nhận và đánh giá cao những thành tựu của chính
sách kinh tế nhiều thành phần, chuyển từ thái độ kỳ thị phân biệt đối xử với nền
kinh tế t nhân sang đối xử bình đẳng; đồng thời cũng xác định những biện pháp
phù hợp nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh tế quốc doanh.
11
Cơ chế tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả, tỷ giá từng bớc đợc đổi mới; đặc
biệt cơ giá và tỷ giá đợc hình thành thông qua thị trờng đã tạo ra bớc ngoặt trong
quản lý kinh tế.
b. Cơ chế thị trờng còn thiếu đồng bộ, mang nhiều yếu tố tự phát, rối
loạn . Sản phẩm của nền kinh tế cha thoát khỏi khủng hoàng và cơ bản là sản
xuất nhỏ, bộ máy quản lý nhà nớc còn có tình trạng quan liêu, thiết hiểu biết, trì
trệ, bảo thủ trớc bớc ngoạt chuyển đổi của nền kinh tế.
thị trờng tự do mà tiến thẳng vào phát triển kinh tế thị trờng hiện đại. Đây là nội
dung và yêu cầu của sự phát triển rút ngắn. Sự phát triển kinh tế xã hội nớc ta
theo định hớng xã hội chủ nghĩa là cần thiêt khách quan và cũng là nội dung,
yêu cầu của sự phát triển. Sự nghiệp dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng văn
minh vừa là mục tiêu, vừa là nhiệm vụ của việc phát triển kinh tế thị trờng có
định hớng xã hội chủ nghĩa ở nớc ta. Đảng và nhà nớc ta khuyến khích mọi ngời
dân trong xã hội làm giàu một cách hợp pháp. Dân có giàu thì nớc mới mạnh,
bảo đảm dân tộc, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ.
Thứ hai, nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế hỗn hợp nhiều thành phần
với vai trò chủ đạo của nền kinh tế nhà nớc trong một số lĩnh vực, một số khâu
quan trọng có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất n ớc.
Nền kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng phải là một nền kinh tế đa thành phần, đa
hình thức sở hữu. Thế nhng nền kinh tế thị trờng mà chúng ta đang xây dựng là
nền kinh tế thị trờng hiện đại, có nghĩa là có sự điều tiết của nhà nớc đối với nền
kinh tế để bảo đảm cho định hớng xã hội chủ nghĩa. Do đó kinh tế nhà nớc phải
nắm giữ những ngành, lĩnh vực t4hen chốt có ý nghĩa là đài chỉ huy, là mạch
máu của nền kinh tế. Cùng với việc nhấn mạnh vai trò chủ đạo của kinh tế nhà
nớc, cần coi trọng vai trò của kinh tế t nhân và kinh tế hỗn hợp, đặt chúng trong
mối quan hệ gắn bó, hữu cơ, thống nhất không tách rời, biệt lập.
Thứ ba, nhà nớc quản lý nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta là nhà nớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là nhà nớc của dân, do
dân và vì dân. Thành tố quan trọng mang tính quyết định trong nền kinh tế thị trờng hiện đại là nhà nớc tham gia vào các hoạt động kinh tế. Nhng khác với nhà
13
nớc của nền kinh tế t bản chủ nghĩa ở chỗ nhà nớc chúng ta là nhà nớc của dân,
do dân và vì dân. Nhà nớc công nông, nhà nớc của đại đa số nhân dân lao động,
đặt dới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.
d. Đảng ta chủ trơng chuyển sang cơ chế thị trờng trên cơ sở ổn định
chính trị; lấy ổn định chính trị làm tiền đề và điều kiện cho cải cách kinh tế;
a/ Quan hệ giữa kinh tế với chính trị
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lê Nin thì kinh tế quyết định
chính trị, chính trị là sự biểu hiện tập trung kinh tế . Trong lịch sử phát triển
của xã hội loài ngời không phải bao giờ cũng có vấn đề chính trị. Xã hội nguyên
thuỷ cha có giai cấp thì cha có vấn đề chính trị. Từ khi xã hội có giai cấp và nhà
nớc xuất hiện thì vấn đề chính trị mới xuất hiện. Vấn đề chính trị là vấn đề thuộc
về quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp mà mục đích của nó nhằm giành, giữ
chính quyền Nhà nớc và sử dụng chính quyền để làm công cụ để xây dựng và
bảo vệ chế độ xã hội phù hợp với lơị ích giai cấp. Chính trị ra đời hoàn toàn là
do kinh tế quyết định, chính trị không phải là mục đích, mà chỉ là phơng tiện để
thực hiện mục đích kinh tế.
Quyền lực chính trị là công cụ mạnh mẽ nhất để bảo vệ chế độ xã hội. Sự
thống trị về chính trị của một giai cấp nhất định là điều kiện đảm bảo cho giai
cấp đó đợc thống trị về kinh tế. Đấu tranh giai cấp thực chất là đấu tranh vì lợi
ích kinh tế thực hiện thông qua đấu tranh chính trị. Theo F.Enghen "Bất cứ cuộc
đấu tranh giai cấp nào cũng đều là đấu tranh chính trị, xét đến cùng đều xoay
quanh vấn đề giải phóng về kinh tế. Để nhấn mạnh vai trò của chính trị, V.I Lê-Nin đã khẳng định "Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh
tế. Khẳng định đó không có nghĩa là phủ nhận vai trò quyết định của kinh tế
đối với chính trị, mà muốn nhấn mạnh tác động tích cực của chính trị đối với
kinh tế. Vấn đề kinh tế không thể tách rời vấn đề chính trị, mà nó đợc xem xét
giải quyết theo một lập trờng chính trị nhất định. Giai cấp nào cầm quyền cũng
hớng kinh tế phát triển theo lập trờng của giai cấp đó nhằm phục vụ mục tiêu
kinh tế - xã hội nhất định. Và lập trờng chính trị đúng (hay sai) sẽ thúc đẩy,
15
(hoặc kìm hãm) sự phát triển của kinh tế. V.I Lênin còn khẳng định Không có
một lập trờng chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó, không thể giữ
vững đợc sự thống trị của mình và do đó cũng không thể hoàn thành nhiệm vụ
của mình trong lĩnh vực sản xuất . Khi thể chế chính trị không phù hợp với yêu
ta là đổi mới kinh tế trớc, đổi mới chính trị sau. Quan điểm này mới xem tởng
nh chính xác, nhng đi vào phân tích sẽ thấy rằng nó không phù hợp với lý luận
và thực tiễn. Theo quan điểm đã trình bày ở trên, mỗi khi chính trị không phù
hợp với kinh tế thì thay đổi về chính trị là điều kiện tiên quyết để thay đổi về
kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Cho nên không thể quy nguyên nhân thất bại
trong đổi mới ở Liên Xô và các nớc XHCN ở Đông Âu là đổi mới chính trị trớc,
đổi mới kinh tế sau. Nguyên nhân dẫn đến sự xụp đổ của Liên Xô và Đông Âu
là do mâu thuẫn giữa kinh tế và chính trị không đợc phát hiện và khắc phục. Do
đó đã dẫn đến khủng hoảng nghiêm trọng về chính trị làm mất vai trò của Đảng
Cộng sản.
Khẳng định rằng ở nớc ta đổi mới kinh tế trớc, đổi mới chính trị sau cũng
không đợc phù hợp với thực tiễn. Sự thực là phải có đờng lối mới do Đảng ta đề
ra, trên cơ sở đó hình thành chính sách mới, luật pháp mới thì mới có thể đổi
mới kinh tế. Vấn đề ở chỗ : Lĩnh vực chính trị là lĩnh vực hết sức phức tạp, liên
quan đến quyền thống trị của giai cấp, nó quyết định thành bại của công cuộc
đổi mới nên phải tiến hành từng bớc vàg hết sức thận trọng. Đổi mới chính trị
trên cơ sở đổi mới kinh tế và đáp ứng yêu cầu của đổi mới kinh tế.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII(6/1991) Đảng ta đã khẳng định
: Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm
tốt đổi mới kinh tế, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, và các
nhu cầu xã hội khác. Xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, coi đó là điều kiện quan
trọng để tiến hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời với đổi
mới kinh tế, phải từng bớc đổi mới tổ chức và phơng thức hoạt động của hệ
thống chính trị, phát huy ngày càng tốt quyền làm chủ và năng lực sáng tạo của
nhân dân trên các lĩnh vực chính trị, văn hoá- xã hội. Nên việc đổi mới trong hệ
thống chính trị nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu và chuẩn bị rất nghiêm túc,
không cho phép gây mất ổn định chính trị dẫn đến rối loạn. Nhng không vì vậy
mà tiến hành chậm trễ đổi mới chính trị nhất là về tổ chức bộ máy và cán bộ,
17
18
Tóm lại ổn định và đổi mới về chính trị là hai mặt đói lập nhng thống nhất
biện chứng với nhau. Có ổn định thì mới có đổi mới và đổi mới là điều kiện để
ổn định. Hai mặt đó tác động qua lại với nhau và gắn bó cặt chẽ với đổi mới kinh
tế, trên nền tảng đổi mới kinh tế.
Nh vậy trong quá trình đổi mới ở nớc ta, đổi mới kinh tế và đổi mới chính
trị luôn gắn bó chặt chẽ với nhau, thống nhất với nhau. Trong đó đổi mới kinh tế
là trọng tâm, đổi mới chính trị phải tiến hành từng bớc phù hợp với đổi mới kinh
tế, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế.
Điều khẳng định đó là sự khái quát kinh nghiệm 15 đổi mới, là kết quả
vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê Nin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Khái
quát đó hoàn toàn khoa học và nó có giá trị định hớng cho giai đoạn phát triển
tiếp theo-giai đoạn đẩy mạnh quá trình "Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá" đất nớc.
2.2. Mâu thuẫn giữa lực lợng SX và quan hệ SX và các biểu hiện của
nó:
2.2.1. Phơng pháp luận tiếp cận:
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lí của nhà nớc, theo định hớng
XHCN ở nớc ta hiện nay, vấn đề mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ
sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. Những khái niệm khoa học về lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất đã đợc Mác và Ăng-ghen tổng hợp xây dựng một
cách hoàn chỉnh và khoa học, đặc biệt trong các tác phẩm Hệ t tởng Đức và bộ
T bản.
Lực lợng sản xuất bao gồm nhiều thành phần, chủ yếu là: lao động, các
phơng tiện tác động lên đối tợng lao động (ví dụ trang bị, máy móc....) và các
đối tợng lao động đã hàm chứa lao động quá khứ và có nguồn gốc tự nhiên, nói
gọn là lao động và t liệu sản xuất. Trong thế giới hiện đại, lực lợng sản xuất phát
Lực lợng SX là nội dung của sự vật, quan hệ SX là ý thức của sự vật,lực lợng SX quyết định quan hệ SX, lực lợng SX là yếu tố động lực luôn thay đổi khi
lực lợng SX phát triển đến trình độ nhất định thì quan hệ SX không còn phù hợp
nữa trở thành yếu tố kìm hãm lực lợng SX. Để mở đờng cho lực lợng SX phát
20
triển cần phải thay đổi quan hệ SX cũ bằng quan hệ SX mới phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lợng SX. Chính quan hệ SX tự phát triển để phù hợp với
lực lợng SX, quan hệ SX phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lợng SX, đó là quy luật kinh tế chung của sự phát triển.
Quá trình mâu thuẫn giữa lực lợng SX tiên tiến với quan hệ SX đã lạc hậu
diễn ra gay gắt và quyết liệt cần đợc giải quyết. Nhng giải quyết nó bằng cách
nào? Đó chính là các cuộc cách mạng xã hội, chuyển đổi nền kinh tế, mà công
cuộc đổi mới nền kinh tế sang nền kinh tế thị trờng với phấn đấu xây dựng nớc
ta trở thành quốc gia Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá, dân giàu nớc mạnh , xã
hội công bằng văn minh là một ví dụ
2.2.2. Các hình thức biểu hiện
a/ Quan hệ giữa sở hữu về t liệu sản xuất với lực lợng sản xuất
Vấn đề sở hữu về t liệu sản xuất là vấn đề cơ bản nhất trong quan hệ sản
xuất, và là một trong những vấn đề cơ bản của công cuộc đổi mới hiện nay ở nớc
ta. Để xem xét vấn đề sơ hữu về t liệu sản xuất, cần gắn với sự phát triển của lực
lợng sản xuất cũng nh các mặt khác của đời sống xã hội.
Trớc đây khi nói đến xã hội chủ nghĩa, chúng ta thờng nói đến chế độ
công hữu về t liệu sản xuất dới hai hình thức chủ yếu là: sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể; hơn nữa còn cho rằng sở hữu tập thể chỉ là một bớc quá độ để đi lên
xã hội chủ nghĩa chỉ còn có một hình thức sở hữu duy nhất về t liệu sản xuất là
sở hữu toàn dân. Song thực tế lịch sử đã không thừa nhận quan điểm đó. Sau sự
tan rã của các nớc XNCN ở Liên Xô và Đông Âu, tất cả các nớc dới hình thức
này hay hình thức khác, đều phải chuyển sang nền kinh tế thị trờng, và đều phải
công lao động trong xã hội là một xu hớng tất yếu, là một quá trình "lịch sử - tự
nhiên" và là một quy luật phát triển của xã hội. Đó chính là quá trình xã hội hoá
sản xuất cả về lực lợng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Quá trình xã hội hoá về
mặt lực lợng sản xuất chính là quá trình phân công lao động xã hội ngày càng
sâu sắc trong mỗi quốc gia, quốc tế và khu vực. Còn xã hội hoá quan hệ sản xuất
là quá trình ngày càng đa dạng các hình thức sở hữu, làm cho sở hữu có nhiều
cấp độ khác nhau, quan hệ với nhau, bổ sung cho nhau. Điều này khác với quan
điểm trớc đây đã đồng nhất xã hội hoá về mặt t liệu sản xuất với công hữu hoá.
22
Gắn liền với quá trình hình thành, phát triển của phân công lao động
trong xã hội và đa dạng hoá các hình thức sở hữu là quá trình hình thành, phát
triển của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trờng. Chính phân công lao động xã hội và
đa dạng hoá các hình thức sở hữu đã sinh ra kinh tế thị trờng; đến lợt nó, kinh tế
thị trờng lại là động lực mạnh mẽ thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, phân
công lao động xã hội và đa dạng hoá các hình thức sở hữu.
ở nớc ta hiện nay không thể đổi mới, phát triển lực luợng sản xuất, tiến
hành thành công công nghiệp hoá và hiện đại hoá thành công, nếu không nhận
thức và xử lý một cách nghiêm túc và khoa học vấn đề sở hữu, vì nó chính là
một trong những căn cứ quan trọng để xác định thành phần kinh tế. Do vậy để
thực hiện nhất quán và lâu dài nền kinh tế nhiều thành phần, tất yếu phải nhấn
mạnh cơ cấu sở hữu đa dạng nhằm "giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa
mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nâng
cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân...."
Cơ cấu kinh tế của chúng ta hiện nay bao gồm: sở hữu nhà nớc, sở hữu
hợp tác, sở hữu hỗn hợp, sở hữu t bản t nhân, sở hữu cá thể tiểu thủ, trong đó sở
hữu nhà nớc giữ vai trò chủ đạo và cùng với sở hữu hợp tác làm nền tảng cho
nền kinh tế. Trong đổi mới quan hệ sở hữu phù hợp với lực lợng sản xuất ở nớc
ta hiện nay cần chú trọng đến hình thức sở hữu hỗn hợp về t liệu sản xuất. Hình
nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa
Qua hơn 15 đổi mới nền kinh tế, bên cạnh những thành tựu thu đợc trong
đổi mới kinh tế chúng ta vẫn còn nhiều tồn tại trong quan hệ quản lý kinh tế đã
làm hạn chế sự phát triển của lực lợng sản xuất, ảnh hởng tới quá trình phát triển
của đất nớc. Điều đó đợc thể hiện nh sau:
- Nền kinh tế thị trờng ở nớc ta hiện này còn sơ khai cha đầy đủ
Tuy sản xuất nông lâm- ng nghiệp là ngành sản xuất chiếm tỷ
trọng lớn nhất, chiếm nhiều lao động xã hội trong cơ cấu kinh tế nhng quá trình
thơng phẩm hoá sản phẩm nông lâm ng nghiệp chỉ diễn ra ở một số nơi có
cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải thuận lợi, gần thị trờng lớn và bình quân ruộng
đất trên đầu ngời tơng đối cao. Chỉ có những nơi này là sản xuất đợc hàng hoá,
24
với khối lợng tơng đối lớn, phần còn lại vẫn trong tình trạng sản xuất tự cung, tự
cấp.
Các hoạt động dịch vụ đã phát triển mạnh nhng lại chỉ tập trung ở một số
ngành nh ăn uống, buôn bán nhỏ các hàng công nghiệp.... các ngành nh du lịch,
bảo hiểm, cung ứng dịch vụ nhìn chung còn thấp, cha tơng xứng với tiềm năng
hiện có.
Nhiều điều kiện cần thiết cho sự ra đời của thị trờng hàng hoá nh thị trờng
đất đai, thị thị trờng sức lao động, thị trờng tiền tệ cha đợc thiết lập một cách
hoàn chỉnh, công khai. Một số các yếu tố cấu thành đầu vào của sản phẩm cha
phải là hàng hoá, hoặc đang trong tình trạng độc quyền.
Chính vì nền kinh tế đang trong quá trình quá độ chuyển đổi nh vậy nên
nhà nớc cha kiên quyết từ bỏ cách quản lý trực tiếp đối với nền kinh tế sang
quản lý gián tiếp mà vẫn phải tiến hành đan xen cả hai phơng thức này, điều đó
thể hiện ở thực tế một số địa phơng vẫn còn giao kế hoạch sản xuất, kế hoạch
giao nộp và đóng góp cho các hợp tác xã và nông dân hay can thiệp vào công tác