Giải Pháp Cho Vấn Đề An Ninh Lương Thực Trong Xu Thế Phát Triển Các Khu Công Nghiệp Vùng Đồng Bằng Sông Hồng - Pdf 35

PHẦN 1 : LỜI NÓI ĐẦU
1) Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu:
An ninh lương thục hiện nay đang là vấn đề nóng trên thế giới, đặc biệt là
trong bối cảnh lạm phát toàn cầu và khủng hoảng. Việt Nam mặc dù đang là
một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới nhưng trong tương lai, khi mà
vấn đề về kinh tế và xã hội luôn biến đổi thì mất đảm bảo an ninh lương thực
là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Vùng đồng bằng sông Hồng là vùng sản xuất lương thực lớn sau đồng
bằng sông Cửu Long, cung cấp cho thị trường hàng triệu tấn lương thực mỗi
năm không những đảm bảo lương thực cho nhân dân vùng nội vùng đồng
bằng sông Hồng mà còn xuất khẩu ra các vùng khác và cả trên thế giới. Tuy
nhiên, với sự phát triển của công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước, các khu công nghiệp tập trung được thành lập và đi vào hoạt động
ngày càng nhiều. Điều đó góp phần lớn vào tăng trưởng và nâng cao đời
sống nhân dân. Bên cạnh đó, là việc thu hồi đất của nông dân nhằm chuyển
đổi mục đích sử dụng sang xây dựng khu công nghiệp làm giảm hàng ngàn
ha diện tích nông nghiệp. Mặt khác, sự phát triển của khu công nghiệp đã
thu hút một lượng lớn lao động từ nông thôn, làm giảm lực lượng lao động
trong khu vực nông nghiệp. Do đó, khả năng mất an ninh lương thực của
vùng đồng bằng sông Hồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Trước thực tế ây, đề
tài “ Giải pháp cho vấn đề an ninh lương thực trong xu thế phát triển các
khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng” được lựa chọn nhằm góp
phần giải quyết thực trạng trên.
2) Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về an ninh lương thực, sự cấp bách
của vấn đề nghiên cứu


Tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển khu công nghiệp ở vùng
đồng bằng sông Hồng trong thời gian qua và tác động của nó tới việc đảm
bảo an ninh lương thực thời gian tới

1.1) Khái niệm
Theo nghĩa hẹp: An ninh lương thực được hiểu là sự đảm bảo về tiếp
cận lương thực và sản xuất lương thực đủ về số lượng và chất lượng dinh
dưỡng. An ninh lương thực chính là vấn đề bảo đảm an ninh sinh kế .
An ninh lương thực theo nghĩa hẹp tức là đảm bảo cho người dân
nguồn cung cấp lương thực, không bị đói không chỉ trong năm mà còn có dự
trữ để giải quyết nhu cầu trong vài năm khi có những biến động xấu ảnh
hưởng đến sản xuất như thiên tai, dịch bệnh ….
Theo nghĩa rộng: An ninh lương thực đuợc hiểu là người làm ra lương
thực không bị nghèo đi, dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng
xã hội.
Như vậy, an ninh lương thực cần được hiểu và phải bao gồm: đủ
lương thực để không ai bị đói; người làm ra lương thực không bị nghèo đi,
dù là nghèo đi một cách tương đối so với mặt bằng xã hội. Nếu chỉ nhấn
mạnh vai trò an ninh lương thực theo nghĩa hẹp thì sản xuất sớm hay muộn
cũng bị suy giảm, đất trồng lúa ngày càng thu hẹp. An ninh lương thực chỉ
được đảm bảo khi lợi ích của người trồng lúa được tính đến.
1.2) Các tiêu chí đánh giá


An ninh lương thực theo nghĩa hẹp có nghĩa là đảm bảo được số
lượng và chất lượng lương thực cho người dân. Như vậy, để đảm bảo an
ninh lương thực thì cần phải có đủ số lượng lương thực cần thiết cho cuộc
sống và công việc hàng ngày, đồng thời cũng phải đủ về chất tức là đủ hàm
lượng chất dinh dưỡng mỗi ngày. Hay nói cách khác, đảm bảo an ninh lương
thực thì phải đảm bảo người dân không bị nghèo.
Đối với các quốc gia khác nhau thì có các tiêu chuẩn khác nhau để
đánh giá nghèo đói được gọi là chuẩn nghèo.
Theo kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2004 của Tổng cục
Thống kê Việt Nam, chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm của năm 2004 ở



cung của hầu hết các loại lương thực đều thấp hơn so với những năm gần
đây, trong khi nhu cầu lương thực, cả cho tiêu dùng lẫn sản xuất công nghiệp
đều tăng. Do sản lượng lương thực của năm nay chỉ đủ đáp ứng nhu cầu của
thế giới nên dự trữ lương thực sẽ tiếp tục duy trì ở mức thấp từ đầu vụ.
Giá lúa mỳ giảm trong năm 2008 nhờ việc tăng diện tích canh tác trên toàn
thế giới. Do nhu cầu nhiên liệu sinh học tăng nên giá ngô đã bắt đầu tăng trở
lại trên thị trường thế giới sau vài tháng giảm giá đáng kể. Vào thời điểm
tháng 9/2008, giá ngô đã cao hơn cùng kỳ năm ngoái khoảng 30%.
Tuy nhiên, FAO cho biết, diện tích trồng ngô đang tăng nên giá ngô có thể
sẽ giảm chút ít trong năm 2008. Ngoài ra, giá của hầu hết các loại ngũ cốc
khác đều đang tiếp tục tăng lên. Năm 2007, sản lượng lương thực toàn cầu
dự báo tăng 4,3%, đạt mức kỷ lục 2,82 tỷ tấn. Sản lượng lúa mỳ tăng đáng
kể do có sự phục hồi sản xuất của một số nước xuất khẩu lúa mỳ chủ yếu,
tăng 4,8% đạt 626 triệu tấn. Sản lượng thóc gạo có thể đạt 423 triệu tấn, tăng
3 triệu tấn so với năm 2006. Sản lượng các loại ngũ cốc phụ (trừ lúa mỳ và
thóc gạo) tăng 5,6%, đạt 1,033 tỷ tấn. Sản lượng ngô tăng mạnh nhất trong
năm nay do mùa ngô bội thu ở các nước Nam Mỹ. Tại nhiều khu vực khác
như Viễn Đông, Cận Đông... sản lượng lúa mỳ và lúa gạo là khả quan.
Mexico và một số nước ở Trung Mỹ và vùng Caribe cũng bội thu mùa lúa
mỳ.
Ở miền đông châu Phi, sản lượng lúa mỳ tăng, tình hình cung cấp lương
thực được cải thiện. Tuy nhiên tại khu vực này, hàng triệu người vẫn phải
sống

phụ

thuộc


tấn lương thực, thiếu hụt khoảng 20 triệu tấn so với khả năng sản xuất trong
nước.
Theo các chuyên gia, nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng thiếu lương
thực là do trái đất ấm lên gây bão lũ và hạn hán kéo dài, nguồn nước ngọt
khan hiếm, khiến sản xuất lương thực khó khăn hơn. Bên cạnh đó, các yếu
tố khác như: nội chiến, trình độ canh tác lạc hậu và việc đẩy mạnh đô thị hoá
ở nhiều nước đang phát triển cũng làm hạn chế năng suất và thu hẹp diện
tích canh tác.
1.3.2) Tình hình an ninh lương thực ở Việt Nam hiện nay
Mặc dù Việt Nam đang xuất khẩu được hơn 3 triệu tấn gạo mỗi năm
(đứng thứ 2 thế giới), song vấn đề an ninh lương thực vẫn được đặt ra ưu
tiên hàng đầu trong các chính sách của chính phủ.


Hiện nay, ở tầm quốc gia, nước ta đã có được an ninh lương thực,
nhưng có thể nói chưa đảm bảo chắc chắn an ninh thực phẩm hộ gia đình và
cá thể đặc biệt là an ninh dinh dưỡng. Nguy cơ mất an ninh lương thực và
dinh dưỡng hộ gia đình càng cao trong bối cảnh thay đổi khí hậu năng lượng
sinh học và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trước hết, thay đổi khí hậu và
năng lượng sinh học đã và đang tạo ra vô số thảm họa thiên tai như bão, lũ
lụt, hạn hán, động đất, dịch bệnh và quan trọng hơn là thay đổi hệ sinh vật
và sinh thái. Điều đó, lẽ tự nhiên sẽ cùng với sự tàn phá (bao gồm cả vô tình
và có chủ ý) của con người như săn thú, phá rừng, nhiều đất đai chuyển từ
nông nghiệp sang sản xuất nhiên liệu, dân số tăng, công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, vấn nạn khói, bụi và nước thải, ... làm xuống cấp và hủy hoại môi
trường. Nhất là trong những năm gần đây, khủng khoảng năng lượng và tài
chính đã gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất lương thực thực phẩm,
giá lương thực tỷ lệ thuận với giá năng lượng lên cao, nguồn dự trữ lương
thực thế giới giảm thấp kỷ lục. Hàng loạt vấn đề về an ninh lương thực thực
phẩm, dinh dưỡng và sức khỏe đã và đang đe dọa tính mạng và đời sống của

thuế thu nhập DN, nông dân còn chịu những chênh lệch giá do đầu cơ và
hình thức cho vay nặng lãi (vay tiền và vay vật tư).
- Thứ 3, diện tích đất canh tác bình quân đầu người chỉ còn trên dưới
360 m2, bằng 1/6 mức bình quân của thế giới, quy mô đất canh tác của hộ
thấp, vẫn còn phân tán làm cho chi phí sản xuất cao. Sản xuất phân tán đã
hạn chế việc tập trung để sản xuất những sản phẩm có đơn đặt hàng có giá
trị lớn của nhà chế biến XK.


- Thứ 4, cơ chế cạnh tranh cùng với các biện pháp thị trường đã có xu
hướng dồn bất lợi về cho người trực tiếp sản xuất sản phẩm nông nghiệp cả
khi mua và khi bán.
Thứ 5, sức ép của giá sản phẩm NK đối với mặt hàng nông sản cùng
loại và mặt hàng thay thế làm giá nông sản trong nước không thể tăng. (Các
siêu thị, chợ lớn đã và đang bán thịt gia súc, gia cầm, nông sản chế biến,
nông sản tươi sống NK với giá cạnh tranh, giành khách có thu nhập trung
bình và cao).
Thứ 6, sản xuất nông nghiệp rủi ro trước thị trường và diễn biến dịch
bệnh, gây nhiều tổn thất và tạo khoảng trống để nông sản NK chiếm chỗ.
Thứ 7, quy mô sản xuất nhỏ, chưa đúng quy trình làm cho năng suất, chất
lượng sản phẩm chưa cao, giảm giá trên thị trường. Quy mô sản xuất mở
rộng nhưng thị trường lại không mở rộng và ổn định cũng là thiệt hại khiến
nông dân đã phá bỏ một số cây trồng lâu năm!
Thứ 8, hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế về quy mô, phương thức nên
hiệu quả không cao. Chưa có nghiên cứu sâu sắc về tác động của ngân sách
hỗ trợ, đôi khi hỗ trợ đó chuyển vào những đơn vị thực hiện nhiều hơn đối
tượng thụ hưởng phát huy thành quả của hỗ trợ. Nông dân chưa hẳn đã được
tham gia thảo luận và giám sát đầu tư phát triển nông thôn. Thiếu cơ chế
quản lý, bảo dưỡng, duy tu làm giảm tác dụng của công trình hạ tầng ở nông
thôn...

tốt.. nhằm thu hút đầu tư trong và ngoài nước vào hoạt động theo một cơ cấu
hợp lý nhằm đạt hiệu quả cao trong sản xuất công nghiệp và kinh doanh
nghiệp dịch vụ.
2.2) Đặc điểm


Về cơ bản , định nghĩa khu công nghiệp ở Việt Nam tương tự như quan
niệm về khu công nghiệp trên thế giới và đều mang những đặc điểm chung
sau:
Thứ nhất, khu công nghiệp là khu có ranh giới xác định. Đây là đặc điểm
thể hiện tính chất riêng biệt của khu công nghiệp, tính quy hoạch không gian
và vị trí xác định của việc xây dựng khu công nghiệp.
Thứ hai, khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp.
Đây là đặc điểm thể hiện tính quy hoạch ngành của khu công nghiệp, thể
hiện mục tiêu của khu công nghiệp là phát triển công nghiệp.
Thứ ba, khu công ng hiệp là khu vực không có dân cư sinh sống. Đây là
một dặc điểm đồng thời là một điều kiện để phát triển khu công nghiệp ,
đảm bảo tính tập trung công nghiệp và hạn chế ảnh hưởng của việc xen lẫn
dân cư với công nghiệp.
2.3) Vai trò của khu công nghiệp với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước:
Các khu công nghiệp ở nước ta ra đời và phát triển cùng với chính
sách đổi mới do Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) khởi
xướng và gắn liền với công cuộc công nghiệp hóa , hiện đại hóa. Phát triển
khu công nghiệp là một trong những giải pháp để tạo dựng các tiền đề cần
thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời tạo ra điều kiện
cho Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò của khu công nghiệp thể hiện
ở các khía cạnh sau:
Thứ nhất, khu công nghiệp huy động một lượng vốn lớn, từ nhiều
nguồn để phát triển kinh tế. Thực tiễn kinh tế Việt Nam cho thấy nhân tố

Việt Nam.


Ngoài ra, các doanh nghiệp khu công nghiệp còn thu hút một lượng
lớn người lao động Việt Nam vào các vị trí quản lý doanh nghiệp , đội ngũ
lao động này được tiếp xúc với phương thức quản trị doanh nghiệp tiên tiến,
hiện đại, kỹ năng marketing, quản lý tài chính, tổ chức nhân sự… đội ngũ
lao động này, khi chuyển đi làm việc tại các doanh nghiệp Việt Nam, hoặc tự
mình khởi sự sẽ áp dụng phương thức quản lý tiên tiến đã tiếp thu được vào
hoạt động doanh nghiệp của mình. Từ đó sẽ nâng cao được hiệu quả kinh
doanh, vừa truyền đạt kỹ năng quản lý cho lao động Việt Nam khác.
Bốn là, khu công nghiệp góp phần phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng
của đất nước. Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng là điều kiện hết sức quan
trọng và cấp thiết của nền kinh tế quốc dân. Để thu hút đầu tư vào khu công
nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc khai nhanh dự án,
ngoài các chính sách ưu đãi về tài chính và quan lý thuận lợi cho nhà nước,
cơ sở hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu nhà đầu tư có ý
nghĩa quan trọng.
Năm là, khu công nghiệp góp phần nâng cao năng lực quản lý của các
cơ quan nhà nước về quản lý khu công nghiệp. Khu công nghiệp là một mô
hình mới được xây dựng và phát triển ở Việt Nam, trên thực tế việc triển
khai mô hình này trong thời gian qua đã xuất hiện nhiều vấn đề bất cập trong
quản lý nhà nước về khu công nghiệp. Thực tiễn phát triển khu công nghiệp
đã cho chúng ta nhiều bài học về quản lý khu công nghiệp nói riêng và quản
lý nhà nước nãi chung.
Tóm lại, mặc dù khu công nghiệp mới được triển khai ở nước ta,
nhưng đã khẳng định được vai trò to lớn của nó trong sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Mặc dù còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhưng xét về
lâu dài, phát triển khu công nghiệp là cần thiết, là một trong những phương
thức cơ bản để rút ngắn, đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa


là đối với các nước đang phát triển. Nông nghiệp cung cấp các sản phẩm tiêu
dùng như lương thực, thực phẩm. Mặt khác, nó là nguồn cung cấp các yếu tố
đầu vào cho các hoạt động sản xuất công nghiệp. Với 70% dân số ở nông
thôn thực sự là nguồn nhân lực dồi dào, cùng với việc tăng sản lượng trong
nông nghiệp, sự di chuyển dân cư từ nông thôn ra thành thị do sức hút của
phát triển kinh tế thì đó là nguồn lao động chính cho công cuộc công nghiệp
hóa.
Tóm lại, trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì
việc xây dựng các khu công nghiệp là một tất yếu. Tuy nhiên, có môt thực
trạng đang xảy ra đó là khu công nghiệp mọc lên thì đất nông nghiệp giảm
xuống.
Như vậy, diện tích đất canh tác đất nông nghiệp là một nhân tố quan
trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sản lượng của cây lương thực
và là mét trong nh÷ng nguy cơ gây mất ổn định an ninh lương thực.


CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ AN NINH LƯƠNG THỰC
TRONG XU THẾ PHÁT TRIỂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP THỜI
GIAN QUA VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG.
1. Khái quát đặc điểm tự nhiên KT-XH vùng đồng bằng sông Hồng với
phát triển nông nghiệp.
1.1) Điều kiện tự nhiên
1.1.1. Vị trí địa lý:
Vùng Đồng bằng sông Hồng là phần lãnh thổ ở phía Bắc Việt Nam,
bao gồm 11 tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương là thành phố Hà Nội và
thành phố Hải Phòng; các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Hà Nam,
Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình với tổng diện tích tự
nhiên là 1.485.167 ha (số liệu thống kê năm 2005) chiếm 4,49 % diện tích tự
nhiên của cả nước; dân số 18.039.476 người (năm 2005) chiếm 22,00% dân

nhiều ô lớn, nhỏ, những con đê, đập trở thành phân ranh giới giữa các ô với
sông. Phần đất bám sát trong và ngoài đê thường cao hơn so với vùng sâu
trong đê. Các sông lớn chảy qua vùng thường có đê chính và phụ đã tạo nên
nhiều dải đất rộng có địa hình cao thấp khác nhau. Hàng năm các dải đất ven
sông ngày càng được bồi đắp nâng cao dần, lòng sông lắng đọng cát sỏi, phù
sa đã làm cho mực nước sông dâng cao vào mùa mưa tràn ngập vào vùng đất
thấp trong đê, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và đời sông dân sinh. Tiểu
vùng ven biển được hình thành tương đối với cốt đất thấp và bằng phẳng,
mức độ đe dọa bởi lũ của sông giảm đi nhưng lại chịu ảnh hưởng của triều
tràn tuy mức độ không lớn và trên diện tích hẹp.
Nhìn chung điều kiện địa hình của vùng cơ bản thuận lợi cho việc
khai thác sử dụng triệt để quỹ đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư,


phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn của
vùng. Tuy nhiên địa hình của vùng cũng có những hạn chế nhưng không lớn
và chỉ là cục bộ địa phương.
Một năm, vùng Đồng bằng sông Hồng có thể canh tác được ba vụ, trong đó
có hai vụ lúa Đông Xuân , Hè Thu và một vụ trồng hoa màu khác.
Nguồn tài nguyên:
1.1.2. Tài nguyên đất
Vùng Đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích là 1.485.167 ha, toàn
vùng có 8 nhóm đất chính, bao gồm: nhóm đất cát, nhóm đất mặn, nhóm đất
phù sa, nhóm đất phèn, nhóm đất lầy và than bùn, nhóm đất đỏ vàng, nhóm
đất xám và nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá.


Loại

Hà Hải


Phú Tây
c

vùng

Bắc Hải Hưn
Nin Dư g
h

ơng Yên

Na


m

Nin
Thái h

Nam Địn Bình Bìn
h

427 270 111

233 133

260

427 270 111

74.04

6
6.32

2

934 1
2.9

3

7.61

36.77

79.04

Đăt phèn ít và TB,

62
34.6

2
7.61

5
36.77

9

34.6

57.4 59.5 134. 44.6 97.1 86.4 51.51 73. 80.05 30. 756.0
37

95

816 01

28

23

7

thống sông khác
42 04
V. Đất lầy và than

15
0
1.57

Đất lầy

1. Đất đỏ vàng trên
đất sét và biến chất

17
1.57


55.7 15.7
99

57

60

160

126

160
4.01
5

473 2.824

1.766

788 42
122.3

15

126

764

402 0

Đồng bằng sông Hồng là nơi có nhiều khả năng để sản xuất lương
thực, thực phẩm. Trên thực tế, đây là vựa lúa lớn thứ hai của cả nước, sau
đồng bằng sông Cửu Long. Số đất đai đã được sử dụng vào hoạt động nông
nghiệp là trên 70 vạn ha, chiếm 56% tổng diện tích tự nhiên của đồng bằng
sông Hồng. Ngoài số đất đai phục vụ lâm nghiệp và các mục đích khác, số
diện

tích đất chưa

được sử dụng vẫn còn hơn 2 vạn ha.

Nhìn chung, đất đai của đồng bằng sông Hồng được phù sa của hệ thống
sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp tương đối màu mỡ. Tuy vậy, độ phì
nhiêu của các loại đất không giống nhau ở khắp mọi nơi. Đất được bồi đắp
hàng năm màu mỡ không hơn đất không được bồi đắp hàng năm. Đất thuộc
châu thổ của sông Hồng phì nhiêu hơn đất thuộc châu thổ của sông Thái
Bình.
Có giá trị nhất đối với việc phát triển cây lương thực ở đồng bằng
sông Hồng là diện tích đất không được phù sa bồi đắp hàng năm (đất trong
đê). Loại đất này chiếm phần lớn diện tích châu thổ, đã bị biến đổi nhiều do
trồng lúa.Ở đồng bằng, đất và nước là hai yếu tố đan quyện vào nhau. Hệ
thống sông Hồng và sông Thái Bình cùng các nhánh của chúng là nguồn
cung cấp nước thường xuyên cho hoạt động nông nghiệp. Tuy nhiên, lại quá


thừa

nước

trong

gieo trồng lúa. Với con số này, lúa chiếm 88% diện tích cây lương thực của
đồng bằng và chiếm khoảng 14% diện tích gieo trồng lúa của cả nước
(1999).
Cây lúa có mặt ở hầu hết các nơi, nhưng tập trung nhất và đạt năng
suất cao nhất là ở các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên,
Ninh Bình, Hà Tây. Thái Bình trở thành tỉnh dẫn đầu cả nước về năng suất
lúa (61,6 tạ/ha – năm 1999). Nhiều huyện, hợp tác xã đạt năng suất 8 – 10
tấn/năm.
Ngành trồng cây lương thực, đặc biệt là ngành trồng lúa ở đây đã có
từ lâu đời và được thâm canh với trình độ cao nhất trong cả nước. Tuy vậy,
việc đảm bảo lương thực cho con người và cho các nhu cầu khác (phục vụ
chăn nuôi, công nghiệp chế biến v.v…) còn bị hạn chế. Mức bình quân
lương thực theo đầu người ở đồng bằng sông Hồng vẫn thấp hơn mức bình


quân của cả nước (414 kg/người so với 448 kg/người – năm 1999).
Vấn đề thực phẩm liên quan đến cơ cấu bữa ăn và ảnh hưởng nhiều tới cơ
cấu cây trồng. Ở đồng bằng sông Hồng, việc sản xuất thực phẩm chưa tương
xứng với tiềm năng hiện có. Rau các loại có diện tích gieo trồng hơn 7 vạn
ha, chiếm 27,8% diện tích rau cả nước, tập trung chủ yếu ở vành đai xung
quanh các khu công nghiệp và thành phố. Nguồn thực phẩm của vùng đồng
bằng phụ thuộc nhiều vào ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi gia súc nhỏ,
gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản. Việc phát triển các ngành này còn nhiều khả
năng to lớn. Vấn đề cơ bản là giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho gia súc nhỏ và
mở rộng quy mô của ngành nuôi trồng thuỷ sản. Vấn đề lương thực, thực
phẩm ở đồng bằng sông Hồng nằm trong chiến lực phát triển kinh tế - xã hội
chung của cả nước. Quá trình giải quyết vấn đề này liên quan tới hàng loạt
các biện pháp kinh tế, kỹ thuật. Việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lí (trong
đó cơ cấu nông nghiệp hợp lí) của đồng bằng có thể được coi là biện pháp
quan trọng. Sản xuất lương thực, thực phẩm hàng hoá được phát triển theo

100,00

Nông nghiệp 14.175,50

31,85

Công nghiệp 11.247,20

25,27

Dịch vụ

42,87

19.078,50

trị Cơ cấu Giá

(tỷ đồng) (%)
81.028,6
0
19.397,6
0
26.999,1
0
34.631,9

trị Cơ

(tỷ đồng)

Trong những năm qua cơ cấu kinh tế của vùng đã có sự chuyển dịch
quan trọng theo hướng tích cực, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm nghiệp thủy sản, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụ thương mại – du lịch, đồng thời phát huy lợi thế so sánh trong từng ngành,
lĩnh vực.
Bảng 03: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng qua một số
năm
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu
Nông nghiệp- lâm nghiệp- thuỷ

Năm 1995

Năm 2000

31,85
23,94
sản
Công nghiệp - xây dựng
25,27
33,32
Dịch vụ - thương mại – du lịch
42,87
42,74
Nguồn: Tư liệu kinh tế - xã hội 11 tỉnh, thành phố vùng Đồng
Hồng năm 2005

Năm 2005
19,35
40,40
40,25
bằng sông


đương 251,6 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp giảm 1,73%, tuy nhiên số người
không có việc làm ở khu vực thành thị tăng thêm 3,4 nghìn người, bình quân
mỗi năm tăng thêm 0,67 nghìn người.
2)

Thực trạng sản xuất và tiêu dùng lương thực thời gian qua

2.1) Thực trạng sản xuất lương thực vùng Đồng bằng sông Hồng
Kể từ khi có các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chính phủ về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, phát triển ngành nghề nông thôn, kinh tế trang trại, tiêu
thụ sản phẩm và nhiều chủ trương, chính sách khác của Nhà nước, đến nay,
nông nghiệp nước ta nói chung và vùng đồng bằng sông Hồng nói riêng đã
có bước phát triển quan trọng. Sản lượng lương thực mỗi năm đều tăng hơn
một triệu tấn, xuất khẩu ổn định hơn ba triệu tấn gạo, trong khi diện tích lúa
giảm dần và được chuyển đổi cơ cấu theo hướng thâm canh, tăng vụ màu,
nuôi trồng thuỷ sản, phát triển chăn nuôi, xây dựng hệ thống VAC bền
vững... tăng giá trị trên một ha đất nông nghiệp.
Trong những năm qua, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới
mang tính đột phát, nhảy vọt, nổi bật là các giống ưu thế lai, các biện pháp
hạ giá thành, nâng cao sức cạnh tranh bền vững, tăng năng suất, chất lượng
nông sản... được ứng dụng rộng rãi.
Hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới được chuyển sang dịch vụ (đạt tỷ lệ
hơn 80%) và thế hệ nông dân tiên tiến kiểu mới (hơn 8,5 triệu lượt hộ được
tuyên dương nông dân sản xuất giỏi), trong số đó nhiều hộ đạt thu nhập 3050 triệu đồng/hộ/năm nơi nào cũng có, góp phần xoá đói, giảm nghèo và xây
dựng nông thôn mới.
Vùng Đồng bằng sông Hồng là một trong hai đồng bằng lớn nhất của
cả nước, đất chật, người đông với cơ cấu thuần nông là chủ yếu: có khoảng
1,5 triệu ha (bằng 20% cả nước), sản lượng lương thực bảy triệu tấn (20% cả
nước), dân số 17 triệu người (22% cả nước) với mức bình quân ruộng đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status