LỜI MỞ ĐẦU
Công nghiệp hóa hiện đại hóa đang là xu thế tất yếu của đất nước ta trong quá
trình phát triển kinh tế và hội hập toàn cầu, chủ trương này đã được nhà nước và chính
phủ triển khai ở khắp các địa phương trên cả nước. Hòa theo xu thế chung này các địa
phương vùng đồng bằng sông Hồng đã nhanh chóng đi đầu trong việc phát triển các khu
công nghiệp và khu chế xuất.
Sau hơn 15 năm hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã đem lại những
thành tựu to lớn cho khu vực làm gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp đáng kể cũng như
đóng góp lớn cho ngân sách địa phương, không những tạo nên sự phát triển kinh tế mà
các khu công nghiệp còn tạo đà cho việc xây dựng kết cấu hạ tâng đô thị theo hướng
hiện đại hóa.
Nhận thấy vai trò to lớn của các khu công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa ở các tỉnh phía bắc em đã quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đầu tư
vào các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng thực trạng và giải pháp”.
Đề tài gồm 3 chương :
Chương I: Các vấn đề lí thuyết về khu công nghiệp
Chương II: Thực trạng thu hút đầu tư và hoạt động của các doanh nghiệp trong
khu công nghiệp vùng đồng bằng sông hồng
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư và nâng cao
hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp
Xin chân thành cảm ơn T.S Đinh Đào Ánh Thủy đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ LÍ THUYẾT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP
I. Khái niệm và đặc điểm của khu công nghiệp
a. Khái niệm
Theo nghĩa rộng thì khu công nghiệp (KCN) bao gồm tất cả các khu vực được
chính phủ nước sở tại cho phép chuyên môn hóa sản xuất công nghiệp, nó là khu biệt
lập có chế độ mậu dịch và thuế quan riêng, không phụ thuộc vào chế độ thuế quan và
mậu dịch phổ thông của nước đó. theo quan niệm này thì KCN bao gồm các khu cảng tự
do, các khu vực mậu dịch tự do, các khu vực phi thuế quan, các khu vực công nghiệp tự
tự phát, phân tán, tiết kiệm đất, sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư phát triển hạ tầng, hạn
chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp gây ra. Phát triển các KCN cũng để thúc đẩy các
cơ sở sản xuất dịch vụ cùng phát triển, làm cơ sở cho việc phát triển các khu đô thị,
phân bố hợp lý lực lượng sản xuất. Trong suốt quá trình hình thành và phát triển các khu
công nghiệp đã ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong các lĩnh vực tạo nên
sự tăng trưởng kinh tế
a. Tăng cường khả năng thu hút đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng
kinh tế
Hầu hết các nước đang trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa hiện đại
hóa đều gặp phải một thực trạng nan giải là tình trạng thiếu vốn. Thông qua những ưu
đãi đặc biệt so với sản xuất trong nước thì các khu công nghiệp có được môi trường đầu
tư hấp dẫn hơn, vì vậy nó có khả năng thu hút vốn đầu tư đặc biệt là vốn FDI. Theo
ngân hàng thế giới cho đến năm 2004 các dự án đầu tư nước ngoài được thực hiện trong
khu công nghiệp khá cao, do vậy khu công nghiệp đã đóng góp đáng kể trong việc thu
hút FDI
b. Phát triển khu công nghiệp thúc đẩy chuyển dịch kinh tế
Xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế là chủ
trương chiến lược đang được Chính phủ tích cực triển khai để thúc đẩy chuyển dịch cơ
cấu kinh tế từ một nền kinh tế nông nghiệp sang công nghiệp với mục tiêu phục vụ cho
tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu
đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
c. KCN là cơ sở để tiếp cận với kĩ thuật và công nghệ hiện đại, học hỏi phương
thức quản lí mới và nâng cao năng lực cạnh tranh
- Tạo diều kiện tiếp cận với khoa học công nghệ:
Cùng với sự phát triển của các KCN, KCX, một số lượng không nhỏ các công
nghệ tiên tiến đã được chuyển giao và ứng dụng trong nhiều ngành công nghiệp. Tuy
nhiên, một đặc điểm nổi rõ về mặt công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt
Nam là tồn tại một sự hỗn hợp các trình độ công nghệ khác nhau (lạc hậu, trung bình,
tiên tiến) trong các ngành, trong các doanh nghiệp của cùng một ngành và thậm chí ngay
môi trường có kỷ luật cao, yêu cầu tay nghề cao, đã rèn luyện được những kỹ năng và
bản lĩnh làm việc giúp người lao động Việt Nam thích ứng với một nền công nghiệp tiên
tiến, hiện đại.
e. Vai trò của KCN, KCX trong việc hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng
Nhiều KCN đã và đang đóng vai trò quan trọng và tạo ra một khí thế phát triển
mới cho nền kinh tế cả nước. Tại các vùng hay địa phương có các KCN hoạt động mạnh
thì mức độ tăng trưởng kinh tế ở đó cao hơn những nơi KCN chưa phát triển
Việc phát triển các KCN trong thời gian qua không những thúc đẩy các ngành dịch
vụ phát triển, thúc đẩy CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn, mà còn đẩy nhanh tốc độ đô
thị hóa, góp phần đáng kể vào việc hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài
KCN. Điều này được thể hiện qua một số khía cạnh sau:
- Đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng các KCN có tác dụng kích thích sự phát
triển kinh tế địa phương, góp phần rút ngắn sự chênh lệch phát triển giữa nông thôn và
thành thị, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.
- Cùng với các chính sách ưu đãi về tài chính và công tác quản lý thuận lợi của nhà
nước, có thể nói việc thu hút nguồn vốn để đầu tư xây dựng hoàn thiện và đồng bộ các
kết cấu hạ tầng trong KCN có vai trò quyết định trong việc thu hút đầu tư. Việc các
doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốc doanh, doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) tham gia đầu tư xây dựng
kết cấu hạ tầng KCN không những tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong
KCN hoạt động hiệu quả, mà còn tạo sự đa dạng hóa thành phần doanh nghiệp tham gia
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
xúc tiến đầu tư góp phần tạo sự hấp dẫn trong việc thu hút doanh nghiệp công nghiệp
vào KCN.
2. Tầm quan trọng của các khu công nghiệp đối với vùng đồng bằng Sông Hồng
a. Giới thiệu chung về vùng đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng rộng gần 1,3 triệu ha, chiếm 3,8% diện tích toàn quốc với
một vùng biển bao quanh ở phía Đông và Đông Nam. Số dân của đồng bằng là 14,8
triệu người (1999), chiếm 19,4% số dân của cả nước.
Hiện tại cũng như trong tương lai, đồng bằng sông Hồng là một trong những vùng
nông trở thành vùng có nền công nghiệp phát triển
- KCN đã đem lại một khối lượng lớn việc làm cho người dân nơi đây, giải quyết
được vấn đề dư thừa lao động do sức ép dân số gây nên
- Sự phát triển của KCN đã kéo theo sự phát triển cơ sở hạ tầng như giao thông và
các đô thị
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP VÙNG
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Tổng quan về các khu công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam
Về quy mô hoạt động
Tính đến cuối tháng 7/2008, cả nước có 186 KCN, KCX đã được thành lập với
tổng diện tích đất tự nhiên 45.042 ha, trong đó diện đất công nghiệp có thể cho thuê đạt
29.469 ha, chiếm 66.6% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, 110 KCN, KCX đã đi
vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 26.115 ha và 76 KCN đang trong giai đoạn
đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 18.926
ha. Các KCN, KCX phân bố ở 54 tỉnh, thành phố trên cả nước, tập trung ở 3 vùng kinh
tế trọng điểm với tổng diện tích đất tự nhiên chiếm trên 60% tổng diện tích các KCN
trong cả nước. Trong thời gian qua, phân bố các KCN đã dần dịch chuyển theo hướng
giảm bớt mật độ các KCN ở các Vùng kinh tế trọng điểm, ưu tiên thành lập các KCN ở
Trung du và miền núi Bắc Bộ, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long. Hiện
nay, 48 tỉnh, thành phố đã thành lập KCN, tuy nhiên, phân bố các KCN vẫn tập trung ở
ba Vùng kinh tế trọng điểm. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tập trung nhiều KCN
nhất với 65 KCN với tổng diện tích tự nhiên 16.228 ha, chiếm 55,2% tổng diện tích đất
tự nhiên các KCN cả nước. Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 25 KCN với tổng diện
tích đất tự nhiên 4.601 ha, chiếm 15,7% tổng diện tích tự nhiên các KCN cả nước và
Vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung có 10 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên 2.395
ha, chiếm 8,1% tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước. Cụ thể:
- Vùng Đông Nam Bộ có 75 KCN với tổng diện tích 22.352 ha
- Vùng Đồng bằng sông Hồng có 42 KCN với tổng diện tích 10.046 ha
Đất KCN đã cho thuê
Diện tích
So với đất có thể
cho thuê(%)
Đồng bằng sông Hồng 4570 3018 1617 35,58 105.806
Đông bắc 1252 815 136,72 16,78 3.386
Bắc trung bộ 606 400 159 39,75 8.908
Duyên hải nam trung bộ 2104 1462 956 65,39 81.523
Tây Nguyên 462,3 310 80 25,81 4.722
Đông nam bộ 16023 10558 6461,75 61,62 612,503
ĐB sông Cửu Long 3645 2415,64 778,32 32,22 32.873
Tổng cả nước 28662,3 18978,64 10188,79 53,69 849.721
Nguồn: tổng cục thống kê
Về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Bất chấp những khó khăn của tình hình kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp hoạt động
trong các KCN trên cả nước vẫn đạt được những kết quả tương đối khả quan. Trong 6
tháng đầu năm, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp hoạt động tại các
KCN trong cả nước đạt khoảng 14 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm 2007. Giá trị
xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN đạt khoảng 7 tỷ USD, tăng 21% so với cùng kỳ
năm 2007. Một số tỉnh, thành phố đạt tỷ lệ tăng trưởng cao là: Hà Nội, Cần Thơ, Thái
Bình, ... Trong 6 tháng đầu năm 2008, tổng giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp
KCN ở Hà Nội đạt 697,3 triệu USD – tăng 26%, tổng giá trị xuất khẩu đạt 943,4 triệu
USD – tăng 32,2%, tổng doanh thu đạt 1,04 tỷ USD – tăng 7,6%, nộp ngân sách Nhà
nước 25,31 triệu USD – tăng 5,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp KCN
Cần Thơ đạt tổng doanh thu 875,5 triệu USD – tăng 169% so với năm 2007 trong đó giá
trị sản xuất công nghiệp đạt 368,4 triệu USD – tăng 136,7%, giá trị dịch vụ đạt 507,10
triệu USD – tăng 200%, nộp ngân sách Nhà nước đạt 660,9 tỷ đồng – tăng 66,89%. Giá
trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN tỉnh Thái Bình đạt 1.248 tỷ đồng –
tăng 22% so với cùng kỳ năm 2007. Ngoài ra, Đồng Nai - một trong các tỉnh dẫn đầu về
35,4% so với năm 2005.
Đến cuối năm 2006, các KCN đã giải quyết việc làm cho trên 918.000 lao động
trực tiếp
Nhìn trên biểu đồ ta có thể nhận thấy sự đóng góp của các khu công nghiệp vùng
đồng bằng sông Hồng chỉ đứng thứ hai cả nước sau các khu công nghiệp tập trung ở
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Đông Nam Bộ với giá trị đóng góp rất lớn, thực trạng trên đã chứng tỏ vai trò to lớn của
các khu công nghiệp tập trung tại vùng đồng bằng Sông Hồng
I. Quá trình hình thành khu công nghiệp vùng đồng bằng Sông Hồng
Theo chủ trương công nghiệp hóa hiện đại hóa được chính phủ đề ra, hàng loạt các
khu công nghiệp- khu chế xuất đã được hình thành trên khắp cả nước và tập trung chủ
yếu vào 3 khu vực chính: bắc bộ, nam bộ và trung bộ
Giữ vai trò là đầu tầu kinh tế của khu vực miền bắc, đồng bằng Sông Hồng đã
nhanh chóng thiết lập được khu vực kinh tế tập trung với các cụm khu công nghiệp
được thành lập theo quyết định Số: 677/TTg của chính phủ ban hành ngày 3-4-1997
nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế khu vực:
1. Xây dựng vùng đồng bằng sông Hồng trở thành một trong những vùng động lực
phát triển công nghiệp và nông nghiệp của cả nước.
2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn mức bình quân chung của cả nứơc khoảng
1,2 - 1,3 lần.
3. Lực lượng sản xuất đạt trình độ tương đối hiện đại, về cơ bản điện khí hóa toàn
vùng.
4. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP.. Xây dựng vùng đồng bằng sông Hồng trở
thành một trong những vùng động lực phát triển công nghiệp và nông nghiệp của cả
nước.
5. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ,
giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP.
- Phát triển công nghiệp với tốc độ cao để làm động lực thúc đẩy phát triển các
ngành kinh tế trong vùng;
vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 20,5%. Nhìn chung, việc sử dụng đất của các nhà
đầu tư thuê đất trong các KCN đã đi vào hoạt động trong vùng phù hợp với mục đích sử
dụng, thời gian sử dụng đã được phê duyệt. Tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp cho
thuê của các KCN đã vận hành đạt 72,4%, tương đương mức trung bình của cả nước.
Tất cả các KCN này đều có trong Quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2000
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định số 519/TTg ngày 6/8/1996, số
713/TTg ngày 30/8/1997 và số 194/1998/QĐ-TTg ngày 01/10/1998; Quy hoạch phát
triển KCN ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 được Thủ tướng
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1107/2006/QĐ-TTg ngày 21/8/2006; hoặc đã được
Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương bổ sung vào Quy hoạch phát triển các
KCN cả nước. Nhìn chung, các KCN đã được thành lập đều phù hợp với Quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và Quy hoạch - kế hoạch sử dụng đất 5 năm và hàng
năm của các địa phương được thể hiện trong bảng sau
Bảng 2: Cơ cấu sử dụng đất tại các địa phương
Đơn vị: %
Tổng diện
tích
Trong đó
Đất sản xuất
nông nghiệp
Đất lâm
nghiệp
Đất
chuyên
dùng
Đất ở
Đồng bằng sông Hồng 100.0 50.9 8.5 15.9 8.0
Hà Nội 100.0 41.1 5.2 23.0 14.3
Vĩnh Phúc 100.0 43.5 24.0 14.3 6.3
Sumidenso…
Các KCN thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng đã thu hút được 447 dự án có vốn
đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 3.767 triệu USD (chiếm
17,7% về số dự án và 16% về số vốn đầu tư của các dự án đầu tư nước ngoài trong các
KCN cả nước) và 519 dự án đầu tư trong nước còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư 33,46
nghìn tỷ đồng (chiếm 19,2% về số dự án và 22,4% về số vốn đầu tư của các dự án đầu
tư trong nước trong các KCN cả nước).
Các KCN vùng Đồng bằng sông Hồng đạt giá trị sản xuất công nghiệp của các
KCN trong vùng năm 2006 đạt gần 3,5 tỷ USD (chiếm khoảng 21% tổng giá trị sản xuất
công nghiệp của các KCN cả nước). Giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN trong
vùng năm 2006 ước đạt khoảng 2 tỷ USD (chiếm 24% tổng giá trị xuất khẩu của các
KCN cả nước). Giá trị nhập khẩu của các doanh nghiệp KCN trong vùng năm 2006 ước
đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Năm 2006, các doanh nghiệp KCN trong vùng nộp ngân sách
khoảng 101 triệu USD (chiếm 7% so với tổng số nộp ngân sách của các KCN cả nước).
Đến cuối năm 2006, các KCN trong vùng đã thu hút được trên 142 ngàn lao động trực
tiếp (chiếm 15% tổng số lao động trực tiếp trong các KCN cả nước).
Bảng 3: Mức đóng góp sản lượng công nghiệp của khu công nghiệp các tỉnh thuộc
đồng bằng Sông Hồng
Đơn vị: tỷ đồng
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Đồng bằng sông Hồng 72944.7 86529.1 118436.9 154942.2 194722.3 248606.8
Hà Nội 26495.2 37054.1 50751.0 64390.9 77496.5 96395.8
Vĩnh Phúc 7306.0 9613.4 12849.1 16129.5 21209.3 29815.4
Bắc Ninh 3449.5 4555.4 6816.1 8740.2 12995.4 16263.6
Hà Tây 4533.3 5735.7 7580.0 10937.1 13432.7 15966.8
Hải Dương 4188.9 5623.4 7288.5 8895.1 11706.9 14590.3
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
Hải Phòng 9817.3 12449.9 15635.0 20858.2 25293.4 33065.8
Hưng Yên 10289.5 3739.1 7112.8 10890.6 13481.3 18289.8
Thái Bình 2097.4 2381.4 2930.2 4444.8 5485.2 7002.5
Phòng, Hải Dương, Hà Nội và Bắc Ninh tỏ ra có hiệu quả rõ rệt.
2.1.1. Khu công nghiệp tại thành phố Hà Nội
Trong thời gian qua các KCN Hà Nội đã thu hút một lượng lớn nguồn đầu tư trong
nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, qua đó đã thúc đẩy sự tăng trưởng công nghiệp của
Thành phố, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của Thủ đô Hà Nội và nâng cao sức cạnh
tranh của nền kinh tế.
Hiện nay tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê tại các KCN- KCX Hà
Nội chiếm khoảng 18-19% diện tích đất của các KCN - KCX đã được thành lập tại vùng
kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Thực tế cho thấy, trong quá trình mở cửa và hội nhập, các
nhà đầu tư đã chọn Hà Nội là điểm đầu tư lớn và đã thực hiện các dự án có qui mô lớn
tại đây. Hà Nội đã có mặt nhiều nhà đầu tư đa quốc gia có tiềm năng rất lớn: Tập đoàn
Canon, Panasonic, Toto, Sumitomo Bakelite, công ty TNHH Đèn hình Orion- Hanel…
Thực tiễn phát triển các KCN- KCX ở Hà Nội đã cho thấy các KCN- KCX Hà Nội đã
và đang trở thành động lực cho phát triển kinh tế- xã hội của các vùng kinh tế trọng
điểm Bắc Bộ, có vai trò quan trọng thúc đẩy sự hình thành và phát triển có hiệu qủa các
KCN tại các địa bàn lân cận, góp phần quan trọng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết
công ăn việc làm cho người lao động (tại chỗ và tại các tỉnh lân cận), góp phần phát
triển các dịch vụ và công nghiệp phụ trợ. Trên địa bàn Thành phố đã hình thành một hệ
thống các KCN tập trung được phân bố hợp lý ở các vị trí hết sức thuận lợi và phù hợp
với qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội cuả cả nước, của Thành phố và qui
hoạch ngành cho nên phát triển rất tốt và ngày càng chứng tỏ sức hấp dẫn đối với các
nhà đầu tư. Hà Nội hiện có 5 KCN tập trung với tổng diện tích đất tự nhiên là gần 700
Đỗ Thị Quỳnh Trang – Lớp Đầu Tư 47A
ha (KCN Nội Bài, KCN Sài Đồng B, KCN Hà Nội- Đài Tư, KCN Thăng Long, KCN
Nam Thăng Long) và 18 dự án CCN vừa và nhỏ (tổng diện tích đất tự nhiên là 714 ha).
Các KCN- CCN này có vốn đầu tư nước ngoài chiếm trên 1,4 tỷ USD và vốn đầu tư
trong nước chiếm trên 3000 tỷ đồng. Đồng thời tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn được
đăng ký đầu tư thực hiện trên 60%, điều đó chứng tỏ môi trường các nhà đầu tư tại các
KCN Hà Nội được thực hiện rất có hiệu quả.
Yếu tố thành công và quyết định nhất cho việc giành được một số thắng lợi bước