UỶ BAN NHÂN DÂN
XÃ THẠNH LỢI
Số:
/BC-UBND
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Thạnh Lợi, ngày
tháng
năm 2011
BÁO CÁO
Tổng kết tình hình tổ chức và hoạt động
của UBND xã Thạnh Lợi, nhiệm kỳ 2004 – 2011
Phần thứ nhất
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2004 – 2011
Thực hiện Kế hoạch số: 83/KH-UBND, ngày 26 tháng 10 năm 2010 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp về việc báo cáo tổng kết tình hình tổ chức và
hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, nhiệm kỳ 2004 – 2011.
Ủy ban nhân dân xã Thạnh Lợi tiến hành xây dựng báo cáo tổng kết tình
hình tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân xã, nhiệm kỳ 2004 – 2011, cụ
thể như sau:
A. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:
Thạnh Lợi là một xã vùng sâu của huyện Tháp Mười, có diện tích tự
nhiên là 4.627,49 ha, có 1.276 hộ với 4.357 nhân khẩu, chia thành 5 ấp gồm: ấp
1, 2, 3, 4 và ấp 5.
B. NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN:
1. Thuận lợi:
Thực hiện Nghị định số: 107/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2004 của
Chính phủ, Nghị định 09/NĐ-CP, Nghị định 121/NĐ-CP của Chính phủ và các
văn bản hướng dẫn của UBND Tỉnh, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế đội
ngũ cán bộ xã. Tại kỳ họp thứ nhất HĐND xã khóa II, nhiệm kỳ 2004 – 2011 đã
bầu ra 05 thàng viên UBND xã gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 03 thành
viên.
Trong nhiệm kỳ, UBND xã xây dựng 03 tờ trình đề nghị HĐND xã nhất
trí cho thôi làm nhiệm vụ thành viên UBND xã (ông Trần Văn Tình, Ông
Nguyễn Thanh Tuấn, Ông Trần Văn Nhiều do chuyễn công tác khác), xây dựng
03 tờ trình bầu bổ sung thành viên UBND nhiệm kỳ 2004 – 2011 (Ông Nguyễn
Thanh Tuấn(Giếng), ông Bùi Công Tấn, ông Đoàn Văn Tuấn), 02 tờ trình bầu
bổ sung Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND xã. Tính đến thời điểm hiện nay, thành
viên UBND xã vẫn còn đủ 05 đồng chí gồm: 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, 03
thàng viên UBND xã phụ trách Công an, Quân sự và Nông nghiệp.
2. Về Tổ chức bộ máy của UBND xã:
Thực hiện Nghị định số: 114/2003/NĐ-CP, Nghị định số: 121/2003/NĐCP, Nghị định số: 92/2009/NĐ-CP và Quyết định số: 16/2010/QĐ-UBND của
UBND tỉnh Đồng Tháp về việc sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức và những
người hoạt động không chuyên trách cấp xã. Đến tháng 11 năm 2010, tổng số
cán bộ của xã là 51 người, trong đó: Cán bộ chuyên trách 10, công chức 07,
những người hoạt động không chuyên trách cấp xã 19 (không tính công an viên
thường trực), những người hoạt động không chuyên trách ở ấp 15 người (không
tính công an viên phụ trách ấp); có 43 người là đảng viên, chiếm tỷ lệ 84,31%.
Trong tổng số cán bộ chuyên trách, công chức và những người hoạt động không
chuyên trách xã, ấp có:
+ Trình độ học vấn THPT là 38 chiếm tỷ lệ 74,51%, THCS là 13 chiếm tỷ
lệ 25,49%. Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp 1 chiếm tỷ lệ 1,96%,Trung cấp 12
chiếm tỷ lệ 23,53%, sơ cấp 9 chiếm tỷ lệ 17,65%, đang học Trung cấp 1. Trình
độ chuyên môn nghiệp vụ: Trung cấp 16 chiếm tỷ lệ 31,37%, đang học Đại học
8, Trung cấp 6.
II. Nhận xét, đánh giá kết quả đạt được và các vướn mắc, hạn chế,
UBND xã cải tiến lề lối làm việc và chế độ thông tin báo cáo theo quy định của
cấp trên và quy chế đề ra,
- Các ngành, các ấp trong hoạt độngđã từng bước thực hiện tốt quy chế
làm việc của UBND xã. Từ đó công việc được giải quyết tốt hơn, nhanh hơn,
chính xác, kịp thời và mang lại hiệu quả cao, phát huy được tinh thần trách
nhiệm, tính chủ động, sáng tạo, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật, hạn chế được
việc đùn đẩy công việc lên cấp trên.
- Chủ tịch và Phó Chủ tịch UBND xã trong quá trình điều hành công việc
được phân công theo chức năng, thẩm quyền đã cơ bản thực hiện hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao, thể hiện rõ vai trò trách nhiệm của mình, đảm bảo cho hoạt
động của UBND xã, giải quyết tốt các yêu cầu của tổ chức và công dân. Ngoài
ra, Chủ tịch và Phó Chủ tịch xã còn dành 1/4 thời gian đi công tác các ấp, trực
tiếp nắm tình hình phát sinh tại ấp và cho ý kiến chỉ đạo tại chổ hoặc xin ý kiến
tập thể UBND xã đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền của tập thể nhằm tháo gỡ
những khó khăn, kịp thời giúp các ấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Tuy nhiên trong nhiệm kỳ qua, việc thực hiện quy chế làm việc của
UBND xã cũng còn một số hạn chế nhất định:
- Sự phối hợp giữa các ngành, các ấp đôi lúc còn chưa chặt chẽ, trong tổ
chức thực hiện chưa kiểm tra thường xuyên, những vấn đề mới phát sinh chưa
được xử lý kịp thời.
- Chế độ thông tin báo cáo tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất lượng và các
đề xuất cần chỉ đạo giải quyết còn yếu.
- Văn phòng UBND xã tham mưu giúp việc trực tiếp cho Chủ tịch, Phó
Trang 3
Chủ tịch và phục vụ hoạt động của HĐND – UBND trong nhiệm kỳ qua đã có
nhiều cố gắng, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, việc nắm bắt tình hình,
kiểm tra thực hiện các Nghị quyết của HĐND, các văn bản của UBND xã, đề
xuất kế hoạch còn hạn chế, cần khắc phục nhằm đáp ứng tốt hơn sự lãnh đạo,
xuất lúa 2 vụ là:6.800 ha, năng xuất bình quân 5 tấn/ha, sản lượng lúa đạt 32.000
tấn. Đến năm 2010, diện tích sản xuất lúa 2 vụ là 7.538 ha (trong đó có 800 ha
sản xuất lúa vụ 3), năng suất bình quân 6,37 tấn/ha, sản lượng đạt 47.730,4 tấn
(trong đó lúa chất lượng cao chiếm 1/3 sản lượng).
- Chuyễn dịch cây trồng: Diện tích trồng cây màu tuy có tăng nhưng số
lượng không đáng kể. Hiện nay diện tích trồng cây màu là 28 ha, trong đó sen
16,8 ha, dưa hấu 10 ha, cây ớt 1,2 ha.
- Chăn nuôi: Được duy trì và tiếp tục phát triển theo hướng chăn nuôi có
sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan thú y. Đến nay đàn bò có 50 con, đàn heo có
450 con, đàn gia cầm trên 1.572 con. Chăn nuôi thuỷ sản từng bước phát triển
do tận dụng khai thác lợi thế mùa lũ để nuôi cá. Kết quả diện tích nuôi trồng
Trang 4
thuỷ sản tính đến năm 2010 là 2,8 ha chủ yếu là nuôi trong ao, hầm, lồng bè.
- Về điện khí hoá:
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã lần thứ II, UBND xã đã xác
định phải hoàn chỉnh hệ thống tưới tiêu bằng điện để phục vụ sản xuất là nhiệm
vụ trong tâm. Qua triển khai thực hiện mặc dù gặp khó khăn về ngân sách và
công tác vận động. Nhưng với sự quyết tâm cao, đến nay bằng nhiều nguồn vốn,
đến nay đã xây dựng được 09 trạm bơm điện phục vụ tưới tiêu cho 1.450,3 ha
chiếm 38,7 % diện tích sản xuất toàn xã.
- Về cơ giới hoá: Chương trình cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp
được tập trung đẩy mạnh, tăng dần tỷ lệ cơ giới hoá trong khâu thu hoạch. Qua
triển khai chương trình cơ giới hoá đã có 45% diện tích sản xuất được thu hoạch
bằng máy. Qua đó đã góp phần tích cực vào việc giảm giá thành sản xuất, hạ tỷ
lệ hao hụt, giảm áp lực nhân công thu hoạch, từng bước nâng cao chất lượng lúa
hang hoá. Hiện nay toàn xã có: 11 máy gặt đập liên hợp, 25 máy gặt xếp dãy, 32
máy suốt, 31 máy xới, 05 lò xấy lúa, 45 công cụ xạ hàng.
1.2. Về kinh tế tập thể:
Tổng chi 1.469.506.000đ đạt 153,39%
+ Năm 2009: Tổng thu 1.804.091.000đ đạt 143%
Tổng chi 1.703.049.000đ đạt 135%
+ Năm 2010: Tổng thu 1.904.317.488đ đạt 131%
Tổng chi 1.902.293.167đ đạt 130,65%
Nhìn chung qua kết quả thu, chi ngân sách những năm qua trên địa bàn xã
được cân đối, đảm bảo, góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương.
2. Các lĩnh vực Văn hoá – xã hội:
2.1. Giáo dục và đào tạo:
Giáo dục và đào tạo từng bước phát triển ổn định, mạng lưới trường lớp
được xây dựng đều khắp các ấp, tạo điều kiện thuận lợi cho con em học tập.
Hiện nay địa phương có 02 trường Mẫu giáo, có 10 lớp với 208 học sinh; 02
trường Tiểu học và 3 điểm ở ấp, có 29 lớp với 593 học sinh; 01 trường THCS,
có 8 lớp với 237 học sinh.
Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp hàng năm đều tăng và đạt chỉ tiêu đề ra, tỷ
lệ học sinh bỏ học giảm, số học sinh tốt nghiệp các cấp luôn ổn định và đạt ở
mức cao. Công tác phổ cập giáo dục THCS được công nhận hoàn thành năm
2007, xã đã duy trì kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học và THCS theo quy định.
2.2. Chăm sóc sức khoẻ nhân dân:
Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ mạng lưới y tế cơ
sở được tập trung củng cố và kiện toàn, 4/5 ấp đều có tổ y tế. Trạm y tế có Bác
sĩ, nữ hộ sinh phục vụ. Công tác khám, điều trị bệnh cho nhân dân được nâng
cao, các Chương trình y tế Quốc gia được quan tâm thực hiện tốt, tỷ lệ suy dinh
dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đến cuối năm 2010 đạt 14,48%. Công tác an toàn vệ
sinh thực phẩm và vệ sinh môi trường được kiểm tra thường xuyên nên hạn chế
được các loại dịch bệnh xảy ra.
2.3. Công tác đền ơn đáp nghĩa, giải quyết việc làm, giảm nghèo và
0,11% vào năm 2010. Số trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được xã hội
quan tâm và chăm sóc ngày càng tốt hơn.
2.4. Văn hoá thông tin, thể dục thể thao:
Hoạt động văn hoá, thông tin phục vụ ngày càng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ
chính trị địa phương.
Các phong trào gia đình thể thao, người tập luyện thường xuyên đều tăng
hàng năm. Kết quả đến cuối năm 2010 có 318 hộ đạt tiêu chuẩn gia đình thể
thao chiếm tỷ lệ 27,9%; 820 người tập luyện thể thao thường xuyên, chiếm tỷ lệ
18,7% so với dân số toàn xã.
Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá tiếp tục có
chuyễn biến; sồ hộ, ấp đạt chuẩn văn hoá ngày càng tăng. Hiện nay, có 991 hộ
đạt chuẩn gia đình văn hoá chiếm tỷ lệ 86,93%, có 03/5 ấp đạt ấp văn hoá,
chiếm tỷ lệ 60%.
3. Công tác Quốc phòng – An ninh:
Từ năm 2004 đến nay, công tác tuyển quân đều đạt và vượt chỉ tiêu trên
giao, chất lượng ngày càng tăng, công tác chính sách hậu phương quân đội được
quan tâm chú trọng. Công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động
viên đạt chỉ tiêu đề ra, tất cả đều được huấn luyện theo đúng quy định. Cán bộ
Ban Chỉ huy Quân sự xã được đào tạo trung cấp Quân sự. Lực lượng Quân sự ở
các ấp được củng cố và kiện toàn, đảm bảo tốt trực sẳn sàng chiến đấu ở mọi
tình huống.
An ninh chí trị được giử vững, trật tự xã hội ổn định. Hoạt động của lực
lượng công an xã được nâng cao về chất và lượng. Về tổ chức ngành công an xã
được củng cố và bố trí đầy đủ theo Đề án số 01 của Công an Tỉnh và Pháp lệnh
về Công an xã. Công an xã thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ, mua sắm trang bị, công cụ hỗ trợ, chế độ chính sách được đảm bảo
thực hiện tốt theo quy định. Cấp uỷ, chính quyền địa phương trong thời gian qua
luôn quan tâm đến lực lượng này nên ngành hoạt động đạt hiệu quả cao trong
thời gian qua. Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được củng cố và
nâng cao, chất lượng hoạt động của Đội, Tổ Dân phòng được nâng lên.
7. Công tác phòng chống tham nhũng:
Sau khi tiếp thu Nghị quyết Trung ương 3 (khoá X) và các Chương trình
hành động của Tỉnh uỷ, Huyện uỷ và Đảng uỷ xã về tăng cường công tác lãnh
đạo của Đảng uỷ đối với công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Uỷ ban nhân dân xã đặc biệt quan tâm đến công tác này nên đã tiến hành xây
dựng kế hoạch và Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân xã về phòng,
chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí; đã tổ chức triển
khai cho cán bộ, đảng viên, các ban, ngành, đoàn thể xã, ấp và nhân dân nắm rõ
mục đích, yêu cầu của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng để kịp thời
phát hiện, tố giác những hành vi có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Cho nên
trong nhiệm kỳ qua không có cán bộ nào vi phạm về tham nhũng.
8. Công tác thông tin báo cáo:
Thực hiện Quy chế làm việc của Uỷ ban nhân dân xã, trong nhiệm kỳ qua,
Uỷ ban nhân dân xã luôn đảm bảo tốt chế độ thông tin, báo cáo từ xã đến huyện
theo qui định. Đồng thời cũng có thông tin từ xã đến ấp và các ngành về những
chủ trương, chính sách mới ban hành để cán bộ và nhân dân biết mà tham gia
thực hiện. Định kỳ hàng tháng, 6 tháng, năm đều có báo cáo những kết quả làm
được, những vấn đề còn vướn mắc, khó khăn lên Uỷ ban nhân dân cấp trên để
kịp thời xin ý kiến, chủ trương của cấp trên nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướn
mắc ở địa phương.
C. Lãnh đạo và thực hiện công tác cải cách hành chính:
1. Công tác cải cách hành chính:
Uỷ ban nhân dân xã đã từng bước cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm
Trang 8
bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong giải quyết công việc
hành chính, loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo gây phiền hà, khó khăn
cho nhân dân.
Nhiệm kỳ qua, thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Uỷ ban nhân
chí khi có thông báo chiêu sinh của các trường trong và ngoài Tỉnh.
c) Nhận xét, đánh giá bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công
chức:
Nhìn chung, cán bộ, công chức sau khi qua đào tạo, bồi dưỡng đa số đều
phát huy tốt, trình độ cán bộ, công chức từng bước được nâng lên. Mỗi cán bộ,
công chức được bố trí, phân công phù hợp với nhiệm vụ được giao, đã đáp ứng
nhu cầu phục vụ nhân dân.
d) Kết quả thực hiện tinh giản biên chế:
Thực hiện Quyết định số: 31/2008/QĐ-UBND ngày 22 tháng 8 năm 2008
của Uỷ ban nhân dân Tỉnh Đồng Tháp, xã đã sắp xếp cho 07 đồng chí được nghĩ
hưởng chế độ trợ cấp một lần. Trong đó: Cán bộ chuyên trách: 04 đồng chí, cán
Trang 9
bộ không chuyên trách 03 đồng chí. Nhìn chung, sau khi sắp xếp đến nay, tình
hình biên chế của xã tạm ổn định, nhưng vẫn còn khuyết một số chức danh như:
Chủ tịch HĐND.
5. Cải cách Tài chính công:
Việc phân cấp quản lý tài chính và ngân sách Nhà nước được xã thực hiện
theo qui định. Hàng năm, xã chủ động lập kế hoạch phân bổ thu – chi ngân sách
cho các đơn vị theo Nghị quyết HĐND xã, đảm bảo cân đối thu – chi ngân sách
đúng qui định. Những khoản chi đột xuất, mới phát sinh đều được thông qua
HĐND xã và ngành tài chính cấp trên phê duyệt.
6. Hiện đại hoá nền hành chính Nhà nước:
Sau khi triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo,
điều hành của hệ thống hành chính Nhà nước, áp dụng các công cụ, phương tiện,
phương pháp quản lý trong cơ quan quản lý cấp xã. Hiện nay, Uỷ ban nhân dân
xã đã trang bị 09 máy vi tính, 06 máy in, kết nối mạng internet, mạng Mega Lan
nội bộ của cơ quan Đảng để phục vụ cho công tác của Đảng uỷ, Uỷ ban nhân
dân xã và các Đoàn thể nhân dân.
trong sản xuất như: phân bón, thuốc trừ sâu,…..tăng cao, thời tiết diễn biến bất
thường, dịch bệnh còn xảy ra,…
- Chủ quan:
Công tác chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành của Uỷ ban nhân dân xã, các bộ
phận chuyên môn còn những hạn chế nhất định. Trong thực hiện nhiệm vụ còn
một số ngành, ấp chưa phối hợp tốt trong giải quyết một số vụ việc thuộc phạm
vi thẩm quyền được giao. Vẫn còn xảy ra tình trạng trông chờ vào cấp trên, khi
có khó khăn phát sinh, chưa kịp thời xin ý kiến lãnh đạo dẫn đến giải quyết công
việc còn chậm so với yêu cầu. Thái độ và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ,
công chức có lúc chưa tốt nhưng chưa kịp thời xử lý.
Ý chí vươn lên thoát nghèo của một bộ phận nhân dân chưa cao, từ đó
việc thoát nghèo chưa thật sự bền vững.
F. Đề xuất - Kiến nghị:
- Đề nghị cấp trên xem xét lại chế độ tiền lương cho cán bộ, công chức và
nhất là những người hoạt động không chuyên trách cấp xã và ấp vì hiện nay mức
lương các đối tượng này rất thấp (hệ số: 1.0). Trong khi giá cả hàng hoá nhất là
các mặt hàng thiết yếu sinh hoạt hàng ngày thì lại tăng cao và liên tục, cho nên
đời sống của cán bộ cấp xã đang gặp nhiều khó khăn.
Phần thứ hai
KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM (2011 – 2016)
I. Những thuận lợi, khó khăn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
địa phương trong 5 năm tới (2011 – 2016).
1. Thuận lợi:
Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn nhưng Trung ương, Tỉnh, Huyện đã
có nhiều chủ trương, chính sách, tập trung phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng
Tháp Mười. Tỉnh đã quan tâm đầu tư trên địa bàn huyện trong đó có xã Thạnh
Lợi nhiều công trình trên các lĩnh vực như: giao thong, các công trình thuỷ lợi,
giáo dục, y tế, điện…..sẽ tạo điều kiện cho xã phát triển hơn về kinh tế - xã hội.
trên 48.000 tấn. Trong đó, tập trung cho sản xuất lúa chất lượng cao đạt khoản
60% diện tích.
- Xây dựng thí điểm 01 trạm bơm điện sản xuất lúa 3 vụ/năm . Xây dựng
mới 05 trạm bơm điện ở những khu vực có đủ điều kiện, nâng diện tích tưới tiêu
bằng điện lên 2.027 ha, chiếm 51% diện tích sản xuất lúa toàn xã.
- Thu ngân sách trên địa bàn đạt chỉ tiêu cấp trên giao hàng năm.
- Chăn nuôi: Đẩy mạnh chăn nuôi gia súc, gia cầm; nuôi thuỷ sản theo
hướng phù hợp với vùng ngập lũ của địa phương.
2. Về văn hoá xã hội:
- Phấn đấu vận động 100% trẻ em 6 tuổi vào lớp 1, tỷ lệ học sinh huy
động ra lớp theo độ tuổi: mẫu giáo: 90%; tiểu học 99,5%, Trung học cơ sở 96%.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm không quá 1,1%; tỷ lệ trẻ em suy
dinh dưỡng hàng năm giảm 0,5%, giảm hộ nghèo hàng năm từ 2- 2,5%
- Các ấp đều có Câu lạc bộ thể thao, 02 ấp có Câu lạc bộ đờn ca tài tử và
01 ấp có Câu lạc bộ hát với nhau. Có trên 90% hộ dân đạt chuẩn gia đình văn
hoá, 35% được công nhận gia đình thể thao, 25% số người được công nhận tập
luyện TDTT thường xuyên và có 80% ấp đạt văn hoá.
- Tăng cường công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân; trong đó, vận động
60% hộ gia đình mua bảo hiểm y tế tự nguyện; thực hiện các chương trình y tế
quốc gia hàng năm đạt và vượt chỉ tiêu trên giao. Tỷ lệ hộ dân sử dụng nước
sạch đạt 90% trở lên, kể cả sử dụng nước giếng khoang và qua lắng lọc. Tỷ lệ hộ
dân sử dụng điện đạt 90% trở lên.
3. Về quốc phòng - an ninh:
- Công tác tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu trên giao.
- Công tác xây dựng lực lượng DQTV - DBĐV đủ về số lượng, đảm bảo
về chất lượng theo quy định. Công tác huấn luyện đạt 100% kế hoạch. Giữ vững
an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội, củng cố tổ, đội dân phòng hàng năm phấn
đấu có 80% đạt loại mạnh, 20% đạt khá.
Trang 12
hiệu quả các nguồn vốn để tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Bằng
nhiều nguồn vốn như: vốn hỗ trợ của ngân sách cấp trên và nhân dân đóng góp
xây dựng các công trình được phân bổ trong danh mục xây dựng cơ bản giai
đoạn 2011 – 2016.
Xác định thương mại – dịch vụ là khâu có ý nghĩa quan trọng góp phần
phát triển kinh tế địa phương. Do đó trong thời gian tới, mục tiêu hàng đầu là tập
trung nâng cấp, sắp xếp, mở rộng chợ Thạnh Lợi theo hướng văn minh, sạch đẹp
nhằm thu hút nhiều người mua, bán, từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
nhân dân.
Sắp xếp hoạt động bến xe khách tuyến Thạnh Lợi - Trường Xuân phục vụ
tốt cho việc đi lại của người dân. Nâng cao chất lượng vận chuyển hàng hóa
thiết yếu, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho đời sống nhân dân.
3. Tài chính – Ngân sách:
Lập dự toán thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn, dự toán phân bổ
Trang 13
ngân sách hàng năm kịp thời. Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao ý
thức về nghĩa vụ thuế, chống thất thu thuế, quản lý tốt các nguồn thu, đẩy mạnh
thu thuế ngoài quốc doanh. Phấn đấu thu ngân sách Nhà nước giai đoạn 2011 –
2016 trên địa bàn xã đạt và vượt chỉ tiêu trên giao hàng năm.
Trong chi ngân sách phải đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả. Tăng cường công
tác thanh tra, kiểm tra việc quản lý và sử dụng ngân sách để ngăn chặn, phòng
ngừa sử dụng ngân sách sai mục đích, chi sai qui định.
4. Xây dựng kết cấu hạ tầng xã hội:
a. Giao thông:
Vận động nhân dân sửa chữa cầu, lộ giao thông nông thôn. Huy động sự
đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng của xã
trên nguyên tắc dân chủ, tự nguyện. Việc quản lý các khoản đóng góp của nhân
dân phải được công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo
dục THCS, hạn chế tối đa học sinh bỏ học.
Tổ chức xây dựng và quản lý, kiểm tra hoạt động của nhà trẻ, trường mẫu
giáo, mầm non, nhóm trẻ cộng đồng; phối hợp với phòng giáo dục- đào tạo
huyện quản lý trường tiểu học và trung học cơ sở trên địa bàn; phấn đấu đến
năm 2016 có 03 trường đạt chuẩn quốc gia gồm: trường THCS, trường Mầm
non, trường Tiểu học tại trung tâm xã.
b. Về y tế và công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân:
Triển khai thực hiện tốt 10 chuẩn quốc gia về y tế, chương trình hoạt động
y tế cơ sở, dân số, kế hoạch hoá gia đình, vận động nhân dân giữ gìn vệ sinh,
phòng chống các loại dịch bệnh. Thực hiện tốt mục tiêu chiến lược về dân số,
gia đình và trẻ em của Đảng và Nhà nước hàng năm đạt chi tiêu trên giao. Tỷ lệ
giảm sinh hàng năm 0,04%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên không quá 1,1%,
c. Về Văn hóa – TDTT:
Xây dựng phong trào và tổ chức hoạt động văn hoá, thể dục thể thao,
nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, tết cổ truyền của dân tộc. Đẩy mạnh phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, ấp văn hoá, gia đình văn hoá.
Phấn đấu hàng năm có từ 90% số hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa, đến 2016
có 4/5 ấp đạt văn hoá, 35% hộ đạt gia đình thể thao và 25% dân số được công
nhận người luyện tập thể thao thường xuyên; thực hiện tốt quy định về việc
cưới, việc tang, lễ hội theo nếp sống văn minh. Phấn đấu có 02 ấp xây dựng
được Câu lạc bộ đờn ca tài tử, 01 ấp có Câu lạc bộ hát với nhau, các ấp đều có
câu lạc bộ thể dục thể thao, mỗi khu dân cư đều có câu lạc bộ dưỡng sinh.
Tiếp tục tuyên truyền thực hiện tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo
tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, triển khai thực hiện tốt cuộc vận động “toàn
dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”.
d. Công tác chính sách – xã hội:
Thực hiện tốt công tác chăm lo gia đình chính sách, người có công với
cách mạng, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, tiếp tục xây dựng nhà tình
7. Xây dựng chính quyền, cải cách hành chính, thực thi pháp luật:
Tăng cường và nâng cao hơn nữa công tác quản lý Nhà nước của Ủy ban
nhân dân trong quản lý điều hành, tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước, các mục tiêu kinh tế văn hóa xã hội, an ninh
quốc phòng ở địa phương.
Tiếp tục nâng cao hiệu quả kiểm tra, giám sát của HĐND, nâng cao chất
lượng kỳ họp, trách nhiệm quyền hạn của Đại biểu HĐND, thực hiện tốt việc
tiếp xúc cử tri. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức; xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vũng vàng, đạo đức tốt, lối sống
lành mạnh, có năng lực chuyên môn, thực tiễn, phong cách làm việc gần gủi với
nhân dân; thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra công chức, công vụ.
Trên đây là báo cáo tổng kết nhiệm kỳ 2004 – 2011 và kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội nhiệm kỳ 2011 – 2016 của Uỷ ban nhân xã Thạnh Lợi./.
Nơi nhận:
- UBND huyện;
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN XÃ
CHỦ TỊCH
- Đảng uỷ, HĐND xã;
- Lưu.
Trang 16