giải pháp Nâng cao năng lực Tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang - Pdf 23


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
…………/………… …………/………… NGUYỄN THANH TÂM TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN
NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀNH CHÍNH CÔNG

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012

MỤC LỤC
Nội dung
Trang


16

1.3.2. Nguyên tắc làm việc Uỷ ban nhân dân cấp xã.
22

1.3.3. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Uỷ ban nhân dân cấp
xã.
23
1.3.4. Các mối quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã.
29
1.3.5. Chế độ hội họp, giải quyết công việc của Ủy ban nhân dân cấp xã.
32
1.3.6. Quản lý và ban hành văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã.
39
1.4. Vai trò quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân trong hệ thống chính
quyền cấp xã.

42

1.4.1. Trong lĩnh vực kinh tế.
42
1.4.2. Trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ lợi và tiểu
thủ công nghiệp.

43
1.4.3. Trong lĩnh vực xây dựng, giao thông vận tải.
44
1.4.4. Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá và thể dục thể thao.
44
1.4.5. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội và thi

67
2.3.3.1. Nguyên nhân khách quan.
67
2.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan.
68
2.3.3.3. Một số bài học kinh nghiệm trong tổ chức và hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp xã.
70
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ
CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ Ở
TỈNH AN GIANG

71
3.1. Quan điểm chỉ đạo của Đảng về nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy
ban nhân dân cấp xã.
71
3.2. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ủy ban nhân dân
cấp xã ở tỉnh An Giang nói riêng và ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
76
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về ủy ban nhân dân các cấp
trong đó có những quy định chi tiết, cụ thể đối với ủy ban nhân dân cấp xã.
76
3.2.2. Nâng cao chất lượng hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã.
78
3.2.3. Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân cấp xã.
81
3.2.4. Hiện đại hoá nền hành chính nhà nước ở cấp xã.
84
3.2.5. Đổi mới công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức cấp xã.

trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ
của chính quyền cấp xã, xác định cụ thể các chức danh công chức xã theo
hướng ổn định và chuyên sâu về nghiệp vụ.”
Như vậy, trong hệ thống chính quyền của Nhà nước ta, chính quyền cấp
xã có vị trí rất quan trọng ở cơ sở, đây là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với
nhân dân, có chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống
kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng. Ở nước ta cũng như

2
các nước trên thế giới, vai trò của chính quyền địa phương là đặc biệt quan
trọng, quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp
quyền do dân, vì dân vững mạnh. Do cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất,
gần dân nhất, có trách nhiệm chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân địa
phương, phát huy mọi khả năng của mình để xây dựng địa phương vững
mạnh, nên chính quyền xã, phường mạnh hay yếu việc làm của cấp xã tốt
hay không tốt, đúng hay sai điều tác động trực tiếp đến đời sống vật chất,
tinh thần có khi ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị của người dân, đến lòng
tin của nhân dân đến Đảng và Nhà nước.
Trong thời gian vừa qua, chính quyền cấp xã đã thực hiện khá tốt vai
trò nhiệm vụ của mình, nhưng vẫn còn ở một vài địa phương, chính quyền
cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế yếu kém, như: công tác quản lý, điều hành của
bộ máy chính quyền cấp xã còn hạn chế, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa
cao, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, kỷ cương của một bộ phận cán bộ công
chức còn yếu kém, năng lực trình độ chưa theo kịp với yêu cầu đổi mới hiện
nay. Điều này đã gây ảnh hưởng rất lớn đến năng lực quản lý và điều hành
của Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời nó còn làm mất uy tín của Đảng và
Nhà nước đối với nhân dân trong địa phương, từ đó nhiều chủ trương, chính
sách của Nhà nước đã không được nhân dân hưởng ứng, ngược lại còn có
những thái độ và hành động đi ngược lại với những chủ trương, chính sách
đó.

- Luận văn sử dụng và kết hợp các phương pháp luận duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp
tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp qui nạp, phương pháp thống kê,
phương pháp chuyên gia.
4
5. Những đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận, đối với chính quyền cấp xã đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu, đề ra những giải pháp, cách thức nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
của chính quyền cấp xã. Vì vậy, luận văn này chỉ nhằm hoàn thiện hơn về mặt
lý luận đối với chính quyền cấp xã, và trong thực tế ở những vùng, miền khác
nhau, có những phong tục, tập quán sinh sống khác nhau, do vậy cần phải xác
định được những mấu chốt của vấn đề trong xây dựng và cũng có chính
quyền ở cơ sở vừa phù hợp với các chủ trương chính sách của Đảng, pháp
luật của Nhà nước vừa phù hợp với thực tế địa phương, đồng thời phải đáp
ứng yêu cầu cải cách, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đảm bảo
được các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới hiện nay; luận văn còn
có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà hoạch định
chính sách ở tỉnh An Giang.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận. Phần
nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động của Ủy ban
nhân dân cấp xã.
Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã
ở tỉnh An Giang.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực tổ chức và hoạt động của
Ủy ban nhân dân cấp xã ở tỉnh An Giang.

thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện); chính quyền xã,
phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã). Trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh
thổ thì cấp xã là đơn vị có địa giới hành chính nhỏ nhất, vì vậy chính quyền

6
cấp xã được gọi là chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp
hoàn chỉnh.
Cấp xã được coi như là chính quyền cấp cơ sở, nơi trực tiếp thi hành
đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và địa phương, có
chức năng quản lý hành chính trên mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, theo sự phân công của cơ quan hành
chính cấp trên, nhằm đảm bảo pháp luật được tôn trọng và thực hiện đầy đủ,
phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, đảm bảo quyền và
nghĩa vụ của công dân, đồng thời tạo điều kiện cho nhân dân ổn định đời sống
vật chất và tinh thần trong phạm vi thẩm quyền quản lý của mình.
1.1.1. Về xây dựng Hội đồng nhân dân xã
Căn cứ vào điều 1, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, thì Hội đồng nhân dân
là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng
và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách
nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Hội đồng
nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy
tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã
hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với
cả nước. Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của
Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện
kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội
đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa

chính quyền Trung ương và chính quyền cấp trên trong việc thực hiện thẩm
quyền của mình.

8
Điều 123 Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001) quy định: “Ủy ban nhân
dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân
dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành
Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết
của Hội đồng nhân dân (hội đồng nhân dân)”.
Điều 2 Luật tổ chức của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân năm
2003 quy định: “Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân
dân, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà
nước cấp trên”.
Theo đó: Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương, do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu ra, chịu trách nhiệm trước Hội
đồng nhân dân cấp xã và cơ quan nhà nước cấp trên về việc thực hiện chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã là cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương có thẩm quyền chung, hoạt động với tư cách:
Cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp;
Cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Số lượng thành viên Ủy ban nhân dân xã có từ 3 đến 5 thanh viên, tuy
thuộc vào điều kiện tự nhiên, dân số của mỗi vùng.
1.2. Cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Ủy ban nhân dân
cấp xã
1.2.1. Hệ thống chính quyền cấp xã ở nước ta từ năm 1945 đến trước khi
có Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
năm 2003


10
thị trấn; đồng thời ở mỗi cấp đều thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy ban
hành chính; Các đơn vị hành chính không chỉ thuần túy là cơ sở để tổ chức hệ
thống chính quyền địa phương, mà còn là cơ sở để tổ chức các cơ quan tư
pháp.
Hiến pháp 1980 vẫn duy trì 3 cấp hành chính địa phương, các đơn vị
hành chính điều là cấp tổ chức chính quyền hoàn chỉnh, có Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân. Việc tổ chức chính quyền địa phương không còn có sự
phân biệt địa bàn nông thôn và địa bàn đô thị. Khái niệm “đơn vị hành chính
tương đương” chính thức được ghi nhận (Thành phố trực thuộc trung ương,
quận, phường,… điều được xác định tương đương với tỉnh, với huyện, với
xã,…). Điều này thể hiện quan niệm lấy địa bàn nông thôn làm chuẩn. Cả ba
cấp chính quyền địa phương đều là những cấp cơ bản, có tổ chức chính quyền
hoàn chỉnh; Theo luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm
1989, Thường trực Hội đồng nhân dân được thành lập từ cấp huyện và tương
đương trở lên; Thường trực Ủy ban nhân dân các cấp bị bãi bỏ. Những công
việc thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân đều phải được thảo luận tập thể
và quyết định theo đa số trong các phiên họp toàn thể Ủy ban nhân dân.
Đến Hiến pháp 1992, việc quy định thành lập Hội đồng nhân dân và Ủy
ban nhân dân ở các đơn vị hành chính do luật định và không xác định đơn vị
hành chính nào là cơ bản, có tổ chức chính quyền hoàn chỉnh. Theo Luật tổ
chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp năm 1994 và năm 2003,
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được thiết lập ở tất cả các cấp hành
chính như hiện nay.
Nhìn chung lại, từ sau cách mạng tháng tám 1945 đến nay, hệ thống
chính quyền địa phương đã không ngừng được cũng cố, kiện toàn, đáp ứng
kịp thời yêu cầu của các thời kỳ cách mạng, đã có những đóng góp to lớn vào
sự nghiệp cách mạng của cả nước. Có thể nói, nếu so với Quốc hội, Chính
phủ, thì chính quyền địa phương là một bộ phận trong tổ chức Nhà nước ít đổi


nhà nước, khắc phục tình trang cục bộ địa phương. Điều này có mục đích tốt,
tuy nhiên có thể sẽ gặp phải khó khăn về mặt tâm lý, người dân địa phương có
thể cho rằng người địa phương khác đến không thể hiểu được tình hình của
đời sống dân cư tại địa phương mình. Đây chính là một trong những vấn đề
của cải cách bộ máy nhà nước.
Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã do Hội đồng nhân dân cùng cấp
bầu ra theo sự giới thiệu của chủ tịch Ủy ban nhân dân bằng hình thức bỏ
phiếu kín.
Các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp xã cũng do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu ra bằng hình thức bỏ phiếu kín, theo sự giới thiệu của Chủ tịch
Ủy ban nhân dân.
Tuỳ theo quy mô số dân ở các xã, phường, thị trấn mà có cơ cấu tổ chức
khác nhau. Cụ thể:
* Ở các xã miền núi, hải đảo, có dân số từ 5000 người trở lên; xã đồng
bằng, trung du có dân số từ 8000 người trở lên và xã biên giới:
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 05 thành viên và được phân
công như sau:
Một chủ tịch phụ trách chung, khối nội chính, quy hoạch và kế hoạch
phát triển kinh tế- xã hội ở xã.
Hai phó chủ tịch: Một phó chủ tịch phụ trách khố kinh tế, tài chính, xây
dựng, giao thông, nhà đất và tài nguyên môi trường. Một phó chủ tịch phụ
trách khối văn hoá - xã hội và các lĩnh vực xã hội khác
Các uỷ viên Ủy ban nhân dân: Một uỷ viên phụ trách công an. Một uỷ
viên phụ trách quân sự.
* Ở các xã không thuộc diện nêu trên:

13
Cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân gồm 03 thành viên: một chủ tịch,
một phó chủ tịch và một uỷ viên. căn cứ vào lĩnh vực công việc được phân
công theo quy định của pháp luật mà chủ tịch Ủy ban nhân dân xã phân công

tịch Hội Cựu chiến binh.
- Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn,
nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã (gọi chung là công chức cấp xã),
gồm có các chức danh sau đây:
+ Trưởng công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy);
+ Chỉ huy trưởng quân sự;
+ Văn phòng - Thống kê;
+ Địa chính - Xây dựng;
+ Tài chính - Kế toán;
+ Tư pháp - Hộ tịch;
+ Văn hoá - Xã hội.
* Sau khi có luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua ngày 13
tháng 11 năm 2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/ND-CP
ngày 22 tháng 10 năm 2009 quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ
chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người
hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cụ thể các chức danh của cán bộ,
công chức cấp xã như sau: 15
- Cán bộ cấp xã có các chức vụ:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
+ Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn
có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt
Nam);

1.3. Những đặc điểm, nguyên tắc làm việc, trách nhiệm và các mối
quan hệ công tác của Ủy ban nhân dân cấp xã trong hệ thống chính
quyền địa phương
1.3.1. Những đặc điểm của Ủy ban nhân dân cấp xã
1.3.1.1. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân
cùng cấp
Ngay từ khi thành lập nước, chính quyền cấp xã đã được công nhận là
một cấp chính quyền cơ sở và được thể hiện trong các bản Hiến pháp của
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau này là nước cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Điều 118, Hiến pháp 1992 quy định: Các đơn vị hành chính
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau:
Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Tỉnh chia thành
huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; Thành phố trực thuộc Trung ương chia

17
thành quận, huyện và thị xã; Huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc
tỉnh, thi xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường. Việc thành lập
Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ở các đơn vị do luật định.
Trong hệ thống đơn vị hành chính lãnh thổ thì xã, phường, thị trấn là đơn
vị hành chính nhỏ nhất, vì vậy chính quyền cấp xã còn được gọi là chính
quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền 4 cấp hoàn chỉnh: trung ương,
tỉnh, huyện, xã. Chính quyền cơ sở (xã, phường thị trấn – gọi chung là cấp xã)
là cấp hành chính trực tiếp quan hệ với dân trong hệ thống tổ chức của bộ
máy hành chính Nhà nước, là cấp trực tiếp thực hiện quản lý nhà nước ở địa
phương có chức năng quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội
theo Hiếp pháp và pháp luật, là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân.
Chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống hành chính nhà
nước. Theo qui định của Hiến pháp và Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ
ban nhân dân thì không có cấp chính quyền nào thấp hơn cấp xã, phường, thị

định và chịu sự kiểm soát của chính quyền Trung ương và chính quyền cấp
trên trong việc thực hiện thẩm quyền của mình.
Đơn vị hành chính xã, nhất là các xã vùng sâu, vùng xa, các xã thuộc
vùng núi, hải đảo, thường có tính tự quản, tính độc lập cao hơn so với các
đơn vị hành chính cấp cơ sở khác như phường, thị trấn và các cấp lớn hơn
như cấp huyện, quận. Trong phạm vi mỗi xã, các mối quan hệ trong cộng
đồng dân cư thường được điều chỉnh bằng nhiều quy định và thiết chế khác
nhau, chính thức hoặc phi chính thức, trong đó có cả những quy định và thiết
chế do chính những thành viên trong cộng đồng lập ra vô cùng phong phú, đa
dạng.
Do các mối quan hệ cộng đồng gắn bó chằng chịt, cuộc sống “tối lửa, tắt
đèn” có nhau nên những người làm việc trong Ủy ban nhân dân cấp xã được

19
xem là ít quan liêu nhất trong đội ngũ cán bộ, công chức của bộ máy nhà nước
ta, song lại dễ bị tác động bởi những yếu tố phi chính thức nhất.
Các cơ quan, bộ phận trong Ủy ban nhân dân cấp xã là cầu nối giữa Nhà
nước, các tổ chức và cá nhân trong xã, đại diện cho Nhà nước, nhân danh Nhà
nước để thực thi quyền lực nhà nước, triển khai, tổ chức thực hiện những chủ
trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước ở xã nên vừa phải đủ
mạnh, phải thể hiện uy quyền của mình mới có thể thực hiện được chức năng,
nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó; đồng thời, cũng vừa phải mềm dẻo, linh
hoạt khi tiếp xúc, làm việc với dân (những người cùng sinh sống, với những
mối quan hệ cộng đồng gắn bó khăng khít, bền chặt chi phối), phải đáp ứng
những nhu cầu, đòi hỏi đa dạng của mỗi người dân sao cho vừa đúng pháp
luật, vừa phù hợp với truyền thống và điều kiện của mỗi người dân, mỗi địa
phương. Do vậy, việc tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền cấp xã ở
nước ta rất phức tạp, dễ dẫn đến tình trạng hình thức, kém hiệu lực, hiệu quả
hoặc lạm quyền, tùy tiện, cát cứ.
Là người sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, hiểu dân,

cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân cấp xã và Uỷ ban nhân dân cấp xã. Trong
đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan nhà nước do nhân dân địa phương trực tiếp
bầu ra, thay mặt nhân dân, trên cơ sở yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân và
pháp luật quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân ở
đơn vị hành chính cấp xã. Còn Uỷ ban nhân dân là cơ quan chấp hành, sử
dụng công cụ như pháp luật, thẩm quyền ra quyết định, bộ máy giúp việc
nhằm bảo đảm thực hiện quyền lực của nhân dân tại địa bàn.
1.3.1.2. Đây là cấp cơ sở, cấp gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân
dân, ở ngay trong dân. Chính quyền Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện giải
quyết công việc tiếp xúc với dân ít hơn so với chính quyền cơ sở. Những vấn
đề thuộc phạm vi, thẩm quyền, chức năng của mình, Ủy ban nhân dân cấp xã
phải giải quyết trực tiếp liên quan đến sinh hoạt hàng ngày của người dân.

21
Công việc hàng ngày của chính quyền là công việc của dân và công việc của
dân cũng chính là công việc của chính quyền. Cán bộ hàng ngày trực tiếp gắn
bó, làm việc với dân, có điều kiện bám sát dân, thấu hiểu dân. Mặt khác, do
cán bộ chính quyền cấp xã hầu hết là người địa phương, hàng ngày sinh hoạt
cùng nhân dân trong mối quan hệ không chỉ với tư cách đại diện cho chính
quyền mà còn trong mối quan hệ với gia tộc, làng xóm với những ràng buộc
về truyền thống, phong tục, tập quán. Sự hiểu biết quá rõ này gây bất lợi nhất
định khi thực thi công vụ, khiến cho quan hệ công tư dễ lẫn lộn.
1.3. 1.3. Cấp xã là nơi diễn ra mọi hoạt động của đời sống gắn liền mật
thiết với những lợi ích, nhu cầu thường nhật của quần chúng. Hoạt động quản
lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp xã động chạm đến mọi mặt thiết yếu
nhất, bức xức nhất của đời thường. Nó động chạm đến những nhu cầu, đòi hỏi
rất tối thiểu trong cuộc sống như vệ sinh cống rãnh, vệ sinh chăn nuôi, trật tự
nơi công cộng, tranh chấp tường rào hàng xóm láng giềng, tiếng ồn gây tranh
chấp, Đây không phải là những công việc lớn nhưng động chạm đến nhiều
người, dễ gây bức xúc, tạo ra mâu thuẫn đáng tiếc không ngờ, gây mất đoàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status